Depletion Allowance / Ưu Đãi Tài Nguyên
Một ưu đãi về thuế cho phép người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên được trừ khỏi tổng thu nhập khoản giá trị bị suy giảm của một tài sản không tái sinh như quạng, dầu mỏ, khí đốt…
Dependent Variable / Biến Số Phụ Thuộc
Một biến ở bên trái dấu bằng của một phương trình, gọi như vậy bởi vì giá trị của nó "phụ thuộc" hay được định bởi các giá trị của các biến độc lập hay biến giải thích bên phải.
Dependency Burden / Gánh Nặng Ăn Theo
Một tình huốn trong đó tỷ lệ trẻ em rất cao trong toàn bộ dân số sống phụ thuộc vào một tỷ lệ người lớn nhỏ hơn nhiều.
Dependence Structure / Cấu Trúc Phụ Thuộc
Các nước thế giới thứ ba là một phần của cấu trúc rộng lớn về sự phụ thuộc kinh tế, xã hội và chính trị giữa các nhóm quyền lực ở các nước tiên tiến, đặc biệt là các công ty đa quốc gia và nhóm lợi ích chủ yếu ở các nước nghèo.
Density Gradient / Gradient Mật Độ
Tỷ lệ mà cường độ sử dụng đất thay đổi theo khoảng cách hướng kính từ trung tâm của một vùng đô thị.
Demand-Pull Inflation / Lạm Phát Do Cầu Kéo
Sự gia tăng bền vững của tổng cầu dẫn đến sự gia tăng bền vững của mức giá chung. Lạm phát cầu kéo có thể được minh họa bằng những đường dịch lên trên của tổng chi tiêu vượt ra ngoài mức toàn dụng nhân công trong mô hình chi tiêu - thu nhập đơn giản, và vì vậy dẫn tới chênh lệch gây lạm phát, hoặc bằng những dịch chuyển của đường tổng cầu của nền kinh tế về bên phải ra ngoài mức sản lượng toàn dụng nhân công.Để lạm phát xảy ra do tăng tổng chi tiêu thì cung tiền tệ danh nghĩa phải thường xuyên được mở rộng. Bản thân việc tăng cung tiền tệ danh nghĩa có thể là nguyên nhân gây ra sự dịch chuyển sang phải của đường cầu, hoặc có thể chỉ tạo dư cầu của các khu vực khác. Những người theo trường phái Keynes nhấn mạnh sự tăng nhanh trong các khoản chi tiêu tự định, trường phái trọng tiền lại nhấn mạnh sự mất cân bằng trước trong cung tiền như là nguyên nhân đầu tiên của dư cầu.
Demand Shift Inflation / Lạm Phát Do Dịch Chuyển Cầu
Một lý thuyết kết hợp các yếu tố của lạm phát cầu kéo với lạm phát chi phí đẩy, cho thấy rằng lạm phát là do thay đổi cơ cấu của tổng cầu.
Demand Schedule / Biểu Cầu
Một bảng cho thấy mức cầu đối với một laọi hàng hoá nào đó tại các mức giá khác nhau.
Demand Management / Quản Lý Cầu
Việc kiểm soát mức tổng cầu trong một nền kinh tế thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ, chính sách tài chính.
Demand Function / Hàm Cầu
Một biểu thức đại số của BIỂU ĐỒ CẦU được diễn đạt bằng các số hạng tổng quát hoặc với các giá trị bằng các con số cụ thể cho các tham số khác nhau và thường bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến cầu.
Demand For Inflation / Cầu Đối Với Lạm Phát
Một khái niệm cho rằng có những khoản thu lợi tiềm tàng đối với một số nhóm người nào đó nhờ các chính sách tăng lạm phát.
Demand Curve / Đường Cầu
Demand Curve biểu diễn đồ thị các số lượng của một hàng hoá hay nguồn lực sẽ được mua trong một phạm vi các mức giá ở một thời điểm cụ thể khi giá các hàng hoá khác cũng như thu nhập không đổi, là tổ hợp đường cầu của mọi người thể hiện tổng hàng hoá mà người tiêu dùng sẵn lòng mua ở mỗi mức giá. Mối quan hệ giữa giá và lượng hàng hóa con người muốn mua được các nhà kinh tế gọi là đường cầu. Mối quan hệ này nghịch chiều bởi vì trong hầu hết trường hợp khi giá tăng, lượng hàng hóa được bán ra sẽ giảm đi. Có rất nhiều các khác nhau để miêu tả mối quan hệ giữa giá và lượng hàng hóa người ta muốn mua. Theo toán học, có thể biểu hiện mối quan hệ giữa lượng hàng bán và cầu theo hàm sau: Qd = f (giá, và các nhân tố bất biến khác) Để hình dung rõ hơn mối quan hệ giữa giá và cầu, hãy xem xét bảng dưới đây (widget là một sản phẩm tưởng tượng) A Demand Curve Price ofWidgets Number of WidgetsPeople Want to Buy $1.00 100 $2.00 90 $3.00 70 $4.00 40 Giá và cầu được minh họa bởi đồ thị dưới đây. Nhìn vào đồ thị minh họa dễ thấy đường cầu dốc xuống, muốn bán được nhiều sản phẩm thì giá phải hạ, và ngược lại khi giá tăng số sản phẩm bán được sẽ ít đi.
Đường Cầu (Demand Curve) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Đường Cầu (Demand Curve) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Demand - Pull Inflation / Lạm Phát Do Cầu Kéo
Sự gia tăng bền vững của tổng cầu dẫn đến sự gia tăng bền vững của mức giá chung.
Demand - Deficient Unemployment / Thất Nghiệp Do Thiếu Cầu
Trường hợp trong đó tổng cầu quá thấp không đủ để tạo việc làm cho tất cả những ai muốn làm việc tại mức lương thực tế hiện hành bất kể trình độ đào tạo hoặc bố trí như thế nào đi nữa.
Delivery Versus Payment / Nguyên Tắc Thanh Toán Chứng Khoán DVP
Nếu nghiệp vụ lưu ký là điều kiện trước tiên để tham gia thị trường chứng khoán thì thanh toán chứng khoán và tiền là dịch vụ hỗ trợ sau của giao dịch chứng khoán, là hoạt động cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng khoán, theo đó các bên tham gia giao dịch sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện giao chứng khoán, bên phải trả tiền thực hiện việc chuyển tiền, lần lượt trên cơ sở kết quả bù trừ chứng khoán và tiền. Để giảm rủi ro cho các đối tác tham gia giao dịch, việc thanh toán chứng khoán và tiền luôn phải đảm bảo nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời với việc thanh toán tiền, hay còn gọi là nguyên tắc DVP (Delivery versus Payment). Điều này sẽ tránh xảy ra rủi ro cho người giao chứng khoán do có sự chênh lệch giữa thời gian giao chứng khoán và nhận tiền.Tuy nhiên muốn áp dụng nguyên tắc DVP các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tin học hóa chu trình giao dịch chứng khoán, điển hình là sử dụng cơ chế CSD (trung tâm ký thác chứng khoán) để vận hành hệ thống nhập sổ chứng khoán và tiền mặt. Biện pháp CSD được coi là công cụ lý tưởng để nhằm giảm thiểu quá trình vận chuyển các chứng khoán giấy bởi việc nhập sổ đã đảm bảo được sự thu hồi và phi vật thể hoá của chứng khoán. Thời hạn của việc thanh toán được quyết định bởi chu kỳ thanh toán. Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước mà chu kỳ thanh toán áp dụng cụ thể là: T+1; T+2 hay T+3; tức là cứ đến thời điểm T+1 hoặc T+2 hoặc T+3 thì việc thanh toán chứng khoán và tiền được tiến hành. Trong đó: T được hiểu là ngày giao dịch (ngày mà giao dịch được thực hiện) 1; 2; 3 là số ngày giao dịch (không tính ngày nghỉ ngày lễ) tiếp theo kể từ ngày T Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), của Tổ chức các ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) cũng như của nhóm G30 (nhóm các quốc gia có TTCK phát triển nhất), các nước nên áp dụng chu kỳ thanh toán tối đa là T+3. Có 2 lí do cho việc lựa chọn chu kỳ thanh toán T+3, một là, 3 ngày sau ngày giao dịch là một khoảng thời gian đủ dài để người chơi chứng khoán đặt một số lệnh mua và bán nhất định và đượckhớp lệnh, để họ thu được hoặc bán đi một khối lượng giao dịch đủ lớn, tức là 3 ngày là khoảng thời gian hợp lý để nhìn lại và tổng kết tài khoản chứng khoán của mình. Hai là, thị trường chứng khoán luôn biến động hàng ngày hàng giờ, nó biến một người hôm qua còn là một người bình thường, hôm nay đã trở thành tỷ phú, nhưng đến sáng mai có thể trắng tay. 3 ngày cũng là quãng thời gian không hề ngắn để chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ trên sân chơi chứng khoán. Chính vì vậy, việc thanh toán chứng khoán và tiền ngày T+3 nhằm giúp nhà đầu tư biết sau 3 ngày "chơi" hiện họ đang giữ bao nhiêu lượng cổ phiếu hay trái phiếu, bao nhiêu tiền trong tài khoản, lỗ lãi ra sao để có phản ứng đúng đắn và sát sao với biến động của thị trường. Trong hoạt động thanh toán chứng khoán và tiền, phương thức thanh toán cũng là mối quan tâm của các bên tham gia giao dịch. Phương thức thanh toán được quyết định bởiphương thức bù trừ, do thanh toán luôn được thực hiện trên cơ sở của kết quả bù trừ. Chính vì vậy, nếu phương thức bù trừ là đa phương thì phương thức thanh toán cũng là thanh toán đa phương và tương tự, phương thức bù trừ là song phương thì phương thức thanh toán cũng sẽ là thanh toán song phương.
Delinquency / Để Nợ Quá Hạn
Để nợ quá hạn có nghĩa là không trả khoản thế chấp khi đến hạn trả. Với hầu hết các thế chấp, kỳ trả thường là ngày đầu tháng. Mặc dù không bị trả tiền phạt trả trễ (late fee) tính theo số ngày trễ, món trả này cũng vẫn được coi là trả trễ hạn. Khi trễ hạn hơn ba mươi ngày, hầu hết các nơi cho vay sẽ báo cáo sự trễ hạn này cho một hay nhiều văn phòng tín dụng.
Deleverage / Giảm Bớt Nợ
Deindustrialization / Phi Công Nghiệp Hoá
Sự phát triển trong một nền kinh tế quốc dân theo hướng tăng tỷ trọng của nghành dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội hoặc trong số việc làm trong các ngành dịch vụ.
Degree Of Operating Leverage; DOL / Tỷ Lệ Đòn Bẩy Hoạt Động Kinh Doanh
Đây là một loại tỷ số đòn cân nợ mô tả hiệu ứng của việc sử dụng một mức độ nợ hoạt động nhất định của công ty, tạo ra một thu nhập trước thuế và lãi vay ( EBIT). Đòn cân nợ hoạt động liên quan đến việc sử dụng một tỷ lệ chi phí cố định so với chi phí biến đổi lớn trong hoạt động của doanh nghiệp. Một mức độ cao hơn trong đòn cân nợ hoạt động, cho thấy một biên độ thay đổi rộng hơn của EBIT liên quan đến sự thay đổi trong doanh số, trong khi tất cả các yếu tố được giữ nguyên. Tỷ lệ đòn cân nợ hoạt động được xác định như sau: DOL= (% thay đổi trong EBIT) / (% thay đổi trong doanh số). Tỷ số này rất có ích cho các nhà phân tích tài chính để xem xét xem hiệu quả của từng mức độ đòn cân nợ hoạt động đối với việc tạo ra thu nhập dự kiến cho doanh nghiệp. Tỷ số này có thể cũng được sử dụng để công ty quyết định xem mức độ tối ưu trong tỷ lệ đòn cân nợ là bao nhiêu nhằm tối đa hoá EBIT của doanh nghiệp.
Degree Of Freedom - DF / Bậc Tự Do
Số lượng các thông tin có thể thay đổi một cách độc lập với nhau.





