Difference Equation / Phương Trình Vi Phân
Một phương trình trong đó giá trị hiện tại của biến phụ thuộc được biểu diễn dưới dạng một hàm của các giá trị trước của nó.
Deviation / Độ Lệch
Mức chênh lệch giá trị của một biế số và trung bình của nó. Xem STANDARD DEVIATION, Variace.
Development Strategy / Chiến Lược Phát Triển
Cách tiếp cận vấn đề chậm phát triển, phụ thuộc vào mô hình tăng trưởng nào được sử dụng.
Development Area / Vùng Cần Phát Triển
Các vùng ở Anh có nhiều hình thức hỗ trợ của chính phủ đối với công nghiệp.
Developing Country / Nước Đang Phát Triển
Nước đang phát triển là nước có mức sống tương đối thấp, trình độ phát triển công nghiệp còn kém, và chỉ số HDI và thu nhập/đầu người từ thấp đến trung bình, nhưng đang trong giai đoạn phát triển kinh tế. Những quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn các quốc gia đang phát triển khác, nhưng chưa cho thấy các dấu hiệu hoàn toàn của một nước phát triển, được nhóm vào những nước mới công nghiệp hoá (NIC). Những quốc gia đang phát triển khác đã giữ vững được tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm và cho thấy tiềm năng phát triển tốt được gọi là những thị trường đang nổi (emerging markets). Thuật ngữ nước đang phát triển nếu được sử dụng cho bất cứ quốc gia nào không phải là nước phát triển sẽ không đúng, bởi vì một số nước trải qua thời kì suy thoái kinh tế kéo dài. Những nước này được xếp vào loại những nước kém phát triển nhất (Least developed countries/LCDs). Trình độ phát triển của một nước được đo bằng các chỉ số như thu nhập/đầu người, tuổi thọ, tỉ lệ biết chữ... Liên hợp quốc đưa ra chỉ số HDI kết hợp các tiêu chí trên để đo trình độ phát triển con người của một nước.
Developing Countries / Các Nước Đang Phát Triển
Để miêu tả tình trạng kinh tế của các nước nghèo hơn của thế giới, được bắt đầu sử dụng trong những năm 1960 để thay thế các cụm thuật ngữ ít hoàn chỉnh hơn như "kém phát triển" hoặc "lạc hậu". Xem Advanced Countries.
Devaluation / Phá Giá
Giảm tỷ giá hối đoái cố định giữa một đồng tiền và các đồng tiền khác.
Phá Giá (Devaluation) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Phá Giá (Devaluation) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Devaluation / Phá Giá Tiền Tệ
Là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, làm cho tiền có sức mua thấp hơn so với sức mua thực tế của nó. Một nước sẽ phá giá tiền tệ để phục vụ cho mục đích kinh tế-chính trị của mình: Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá vì hàng hoá xuất khẩu ra nước ngoài của nước có đồng tiền bị phá giá sẽ rẻ hơn giá hàng của các nước khác; Hạn chế nhập khẩu vì giá sản phẩm nhập khẩu đắt hơn giá sản phẩm sản xuất trong nước; Khuyến khích du lịch vào trong nước vì ngoại tệ của khách du lịch khi đổi ra nội tệ của nước phá giá sẽ được nhiều hơn; Hạn chế du lịch ra nước ngoài vì cần nhiều nội tệ hơn để đổi lấy một đơn vị ngoại tệ; Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối và hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài cũng như chuyển tiền ra ngoài nước, do đó có tác dụng làm tăng khả năng cung ngoại hối, giảm nhu cầu về ngoại hối, nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.
Detrending / Khử Khuynh Hướng; Giảm Khuynh Hướng
Quá trình mà một khuynh hướng về thời gian được loại bỏ khỏi số liệu, thường bằng việc trước tiên ước tính một khuynh hướng theo thời gian và tính toán các số dư. Xem filter.
Deseasonalization / Xoá Tính Chất Thời Vụ
Quá trình loại bỏ những ảnh hưởng của mùa vụ, những hiện tượng xảy ra thường xuyên theo mùa làm méo mó xu thế nổi bật khỏi các số liệu. Xem filter.
Descending Triangle / Mô Hình Tam Giác Dốc Xuống
Đây là mô hình được sử dụng trong phân tích kĩ thuật, thể hiện xu thế đi xuống của thị trường, được tạo ra bằng cách vẽ một đường xu thế nối một loạt các điểm cực đại của đồ thị. Vẽ tiếp một đường xu thế nữa mà đường xu thế này có vai trò tương tự như mộtđường hỗ trợ trong quá khứ. Các nhà đầu tư hoặc người chơi chứng khoán sẽ quan sát các chuyển động dưới mức hỗ trợ vì đây là dấu hiệu cho thấy một xung lực theo chiều hướng đi xuống đang được hình thành. Một khi mức giá vượt qua khỏi đường hỗ trợ, các tay buôn chứng khoán sẽ lập tức thực hiện mua bán khống, do đó khiến cho mức giá của các chứng khoán càng giảm nhanh hơn nữa. Đồ thị sau đây là một ví dụ điển hình về tam giác theo chiều dốc xuống. Đây là một trong các công cụ được các nhà đầu tư chứng khoán sử dụng phổ biến vì nó cho thấy một cách rõ ràng là mức cầu đối với một loại chứng khoán (hay tài sản) nào đó đang bị suy giảm, và một khi mức giá vượt ra khỏi đường hỗ trợ thấp hơn, đây là một dấu hiệu rõ ràng rằng xung lực theo chiều hướng đi xuống chắc chắn sẽ còn tiếp diễn hoặc càng mạnh hơn. Tam giác dốc xuống sẽ đem đến cho các nhà đầu tư cơ hội để thu được món hời lớn trong một khoảng thời gian ngắn. Mức giá mục tiêu chung nhất thường được ấn định bằng với mức giá ban đầu trừ đi khoảng cách giữa hai đường xu thế.
Derived Demand / Cầu Phái Sinh, Cầu Dẫn Xuất, Cầu Thứ Phát
Cầu đối với một yếu tố sản xuất. Diều này có ý nghĩa là cầu đó phát sinh từ nhu cầu đối với hàng hoá cuối cùng mà yếu tố đó góp phần để sản xuất ra.
Derivatives / Chứng Khoán Phái Sinh
Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng khoán còn rất bao la, mà cổ phiếu, trái phiếu chỉ là một vài trong số đó. Còn vô số những khái niệm và công cụ đầu tư khác phải kể đến, mà chứng khoán phái sinh chính là yếu tố quan trọng đầu tiên không thể bỏ qua. Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn mua hoặc bán (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps). Ngày nay khi thị trường chứng khoán biến động từng giây từng phút thì việc nắm trong tay những công cụ phái sinh là một biện pháp khôn ngoan để đối phó với rủi ro. Các phái sinh chứng khoán Futures và Options thường phức tạp và có tính chất dao động mạnh, nhưng đồng thời cũng là các phương án đầu tư có ích. Futures là nghĩa vụ mua hoặc bán một hàng hoá cụ thể nào đó, ví dụ như: ngũ cốc, vàng hay trái phiếu Kho bạc trong một ngày nào đó theo một giá đã được xác lập trước. Options là quyền bán hoặc mua một hạng mục hàng hoá cụ thể nào đó như: cổ phiếu, kim loại quý hoặc trái phiếu Kho bạc theo một giá đã xác lập trước trong một khoản thời gian nào đó. Các khoản đầu tư phái sinh Một lí do khiến các chứng khoán phái sinh futures và options trở nên phức tạp là vì chúng là các khoản đầu tư phái sinh.Thay vì đại diện cho cổ phần của người sở hữu như cổ phiếu, hay cam kết trả nợ như trái phiếu - mỗi hợp đồng futures hoặc option thường được cách ly khỏi một tài sản cơ bản (underlying asset) nào đó một vài cấp. Ví dụ, một hợp đồngfutures gia súc là sự đánh cược về hướng giá gia súc sẽ biến động như thế nào trong tương lai. Những biến động về giá gia súc xảy ra tự thân nó đã có lợi cho những người chăn nuôi gia súc và người chế biến thịt, nhưng không hoàn toàn có lợi cho tất cả các nhà đầu tư đã mua (nắm giữ) hợp đồng futures. Mỗi lần giá biến động, việc chọn thực hiện hợp đồngfutures gia súc sẽ chỉ có lợi cho nhà đầu tư nào muốn đánh cược trên giá gia súc, chứ không mang lại lợi ích trực tiếp tới những người mua hoặc bán gia súc. Giảm thiểu rủi ro Đối với một số người, các chứng khoán phái sinh futures và options có thể là công cụ phân tán bớt (giảm) rủi ro. Những người nông dân cam kết bán lúa ở một mức giá tốt sẽ được bảo vệ nếu giá giảm. Nhà đầu tư sở hữu options quyền bán (put option) trên những cổ phiếu họ sở hữu thì có thể bù đắp một phần thua lỗ của mình nếu thị trường bị suy giảm. Phần lớn các nhà đầu tư đều giao dịch futures và options để giảm bớt rủi ro vì khả năng bị lỗ nhiều có thể sẽ được bù đắp bằng cơ hội đạt được khoản lợi lớn. Nhưng các nhà đầu tư đơn lẻ thường là những người chơi nhỏ trong thị trường futures và options do rủi ro cao và lợi nhuận lại không đoán trước được. Đòn bẩy làm tăng rủi ro Phương pháp đòn bẩy (leverage), theo thuật ngữ tài chính, có nghĩa là việc sử dụng một số tiền nhỏ để thực hiện một khoản đầu tư có giá trị lớn hơn rất nhiều. Bạn có thể mua một hợp đồng tương lai (futurescontract) trị giá hàng nghìn đô la với khoản đầu tư ban đầu chỉ bằng 10% tổng trị giá hợp đồng. Ví dụ, nếu bạn mua một hợp đồng vàng trị giá 35.000$ (khi 1 ounce vàng bằng 350$) bạn có thể chỉ cần bỏ ra 3.500$. Đó chính là một sự đảm bảo tốt cho bạn và sẽ tạo cho bạn một lực bẩy hơn 100 ounce (oz.) vàng. Với một hàng hoá có giá dao động bất ổn như vàng, dao động giá khoảng 100$ trong suốt thời hạn của hợp đồng là hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, nếu giá tăng 100$, tức là lên đến 450$ một ounce, giá trị đầu tư của bạn có thể lên đến 10.000$ - gần như đạt mức lãi 300% so với đầu tư gốc 3.500$ của bạn. Mỗi lần giá một ounce vàng tăng lên 10 cent thì giá trị hợp đồng sẽ tăng lên 10$. Tuy vậy, đương nhiên là điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu giá giảm và giá trị đầu tư của bạn cũng sụt xuống 300%, việc này có thể lấy mất hơn 10.000$ của bạn -- đôi khi còn nhiều hơn -- để thực hiện đúng cam kết của hợp đồng khi bạn bị lỗ. Vì vậy, mặc dù đòn bẩy khiến cho việc cam kết lúc ban đầu có vẻ thuận lợi nhưng những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình đầu tư phái sinh này có thể gây ra cho bạn những khoản thua lỗ lớn. Hiệu lực trong thời hạn Mặc dù futures và options là các giao dịch cho tương lai, nhưng đó là một tương lai không hề xa. Các hợp đồng futures lúa và các nguồn thực phẩm khác nói chung hết hiệu lực trong vòng một năm nhưng chúng ta cũng có thể thấy các hợp đồng giao dịch futures tài chính nào đó - ví dụ giao dịch Eurodollars- có thời hạn tới tận 5 năm. Hợp đồng options thường có hiệu lực trong vòng một năm hoặc ít hơn. Tuy nhiên, các chứng khoán thuộc nhóm LEAPS (Long-term Equity Anticipation Securities), có liên hệ mật thiết với các cổ phiếu và chỉ số cổ phiếu, có thể giao dịch lên đến 36 tháng. Các hợp đồng futures và options hết hạn tại một thời điểm đã được định sẵn (các kỳ hạn của chúng xảy ra thường xuyên và nối tiếp nhau) và sẽ không còn hiệu lực giao dịch sau ngày đáo hạn. Trên thị trường tài chính Mỹ, bạn có thể bù đắp hợp đồng hoặc thực hiệnoptions vào bất kỳ một ngày giao dịch nào trước ngày hợp đồng đó hết hạn.
Deregulation / Dỡ Bỏ Điều Tiết; Xoá Điều Tiết; Phi Điều Tiết
Việc dỡ bỏ các luật và dưới luật của chính phủ trung ương hay địa phương hạn chế sự tham gia vào các hoạt động nhất định. Xem privatization.
Depreciation / Khấu Hao; Sự Sụt Giảm Giá Trị
Thuật ngữ Sự suy thoái dùng để chỉ một giai đoạn trong một chu kỳ kinh doanh có dấu hiệu đình trệ, suy sụp trầm trọng của nền kinh tế quốc gia. Khi đó, sản lượng thực và đầu tư ở mức rất thấp và tỉ lệ thất nghiệp cao. Sự suy thoái xẩy ra chủ yếu là do sự hạ thấp tổng cầu, và có thể khắc phục nếu chính phủ đưa ra được một chính sách tiền tệ và tài chính mở rộng.
Depreciation / Khấu Hao
Khấu hao là một thuật ngữ sử dụng trong kế toán mô tả phương pháp phân bổ chi phí của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng của nó, tương đương với mức hao mòn thông thường. Khấu hao thường xử dụng với các loại tài sản có thời gian sử dụng cố định, mất dần giá trị trong quá trình sử dụng. Còn theo định nghĩa của chuẩn mực kế toán Việt Nam, khấu hao là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích tài sản đó. Trong hệ thống tài khoản, tài khoản khấu hao được xếp vào loại tài khoản điều chỉnh giảm trừ. Việc khấu hao tài sản có tác động trực tiếp lên báo cáo tài chính, cụ thể là tới thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp và cá nhân. Tuy nhiên mức khấu hao vì mục đích kế toán nội bộ doanh nghiệp và khấu hao vì mục đích giảm thuế đôi khi lại rất khác nhau. Khấu hao không phải là một khoản chi thực tế bằng tiền mà chỉ được trích trên sổ sách cho nên nó không ảnh hưởng nhiều đến dòng tiền thực tế của doanh nghiệp ngoài việc nó tác động chút ít đến khoản thuế phải nộp. Có nhiều phương pháp tính khấu hao khác nhau, nhưng tựu chung có thể qui về một số phương pháp phổ biến sau: Khấu hao đường thẳng (straight line depreciation): mức khấu hao bằng nhau qua các năm Khấu hao nhanh (accelerated depreciation): mức khấu hao những năm đầu cao, giảm dần về sau Khấu hao theo công suất (activity depreciation): khấu hao dựa trên số sản phẩm sản xuất ra...
Khấu Hao (Depreciation) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Khấu Hao (Depreciation) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Deposit Money / Tiền Gửi Ngân Hàng
Để chỉ một bộp phận của dung lượng tiền dưới dạng tiền gửi ngân hàng.
Deposit Account / Tài Khoản Tiền Gửi
Trong nghiệp vụ ngân hàng ở Anh, một kiểu tài khoản được thiết kế để thu hút các số dư ít hoạt động của khách hàng, và hoạt động như là một phương tiện tiết kiện.
Deposit / Tiền Gửi
Khoản tiền cho các định chế tài chính nào đó vay, ví dụ như các ngân hàng, ngân hàng phát triển gia cư và công ty tài chính, với điều kiện rút có báo trước hoặc không, hay hoàn trả sau một thời gian nhất định.
Khoản tiền gửi tại một tổ chức, như ngân hàng, để lưu giữ hay để hưởng lãi hoặc với một nhà môi giới, nhà tự doanh… Để bảo đảm cho mọi khoản lỗ có thể phát sinh
Deposit / Lưu Ký Chứng Khoán
Lưu ký chứng khoán là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện giao dịch trên thị trường chứng khoán. Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán như tờ cổ phiếu, trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký. Hệ thống lưu ký chứng khoán bao gồm Trung tâm lưu ký và các thành viên lưu ký. Chứng chỉ chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được cất giữ an toàn tại Trung tâm lưu ký. Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán hiện nay đóng vai trò là Trung tâm lưu ký. Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các thành viên lưu ký bao gồm các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tính đến đầu năm 2007 Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có 14 thành viên lưu ký, trong đó 11 thành viên lưu ký là các công ty chứng khoán và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trước đây nhà đầu tư trong nước chỉ được lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký trong nước - là các công ty chứng khoán hoặc các ngân hàng thương mại trong nước, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại thành viên lưu ký nước ngoài - là các công ty chứng khoán liên doanh với nước ngoài hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này đã được thay đổi, theo Quyết định số 51/2003/QĐ-BTC ngày 15/04/2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán, nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán ở bất kỳ thành viên lưu ký nào. Các chứng khoán sau khi được lưu ký tại thành viên lưu ký sẽ được thành viên lưu ký tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Sau khi thành viên hoàn tất việc tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch. Theo quy định hiện hành, mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký. Do vậy nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa chọn một thành viên lưu ký thích hợp cho mình. Trong trường hợp muốn đổi sang một thành viên lưu ký khác, nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký mới tại thành viên lưu ký mới, đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký cũ và yêu cầu thành viên lưu ký này chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký mới. Khi mở tài khoản lưu ký, nhà đầu tư nên cung cấp địa chỉ liên lạc rõ ràng, chính xác và đầy đủ cho thành viên lưu ký. Điều này rất quan trọng vì nhà đầu tư có thể gặp phải những bất tiện và thậm chí thiệt hại sau này. Chẳng hạn, khi địa chỉ trên các loại giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân được sử dụng để làm các thủ tục mở tài khoản lưu ký, trong khi địa chỉ cư trú hiện tại khác với địa chỉ trên chứng minh nhân dân. Các thư từ liên lạc của tổ chức phát hành, Trung tâm giao dịch chứng khoán và thành viên lưu ký trong thời gian thực hiện quyền sẽ không đến đúng nơi nhà đầu tư ở. Việc này có thể đưa đến vô số bất tiện trong quá trình xử lý quyền từ thành viên lưu ký, Trung tâm giao dịch chứng khoán cho đến tổ chức phát hành như chậm trễ, chỉnh sửa hồ sơ thực hiện quyền, hoặc thậm chí đôi khi nhà đầu tư bị từ chối phân bổ quyền. Người đứng tên lưu ký chứng khoán phải chính là chủ sở hữu chứng khoán, kể cả cổ phiếu vô danh. Số seri của tờ chứng chỉ chứng khoán cũng phải đúng là số seri của chủ sở hữu đã đăng ký quyền sở hữu tại tổ chức phát hành. Cổ phiếu của cổ đông sáng lập vẫn còn trong thời gian nắm giữ theo quy định của pháp luật, của cổ đông mua chịu chưa thanh toán hết tiền mua cổ phiếu vẫn được lưu ký nhưng không được phép giao dịch. Các cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch khi các điều kiện hạn chế đã được bãi bỏ và phải có xác nhận từ tổ chức phát hành. Các chủ sở hữu cổ phiếu theo hình thức ghi sổ muốn lưu ký vẫn tiến hành các thủ tục lưu ký bình thường tại thành viên lưu ký. Dĩ nhiên trong trường hợp này không có việc chuyển giao chứng chỉ vật chất. Thành viên lưu ký sẽ gửi tên chủ sở hữu đến tổ chức phát hành. Sau khi kiểm tra, tổ chức phát hành sẽ gửi tên chủ sở hữu đến Trung tâm giao dịch chứng khoán để thực hiện việc lưu ký. Lưu ký theo hình thức ghi sổ là xu hướng chủ yếu hiện nay vì những ưu điểm hơn hẳn lưu ký chứng chỉ vật chất, là không phải qua kiểm đếm, kiểm tra tính thật giả, và tốn kém cho công tác bảo quản. Trung tâm giao dịch chứng khoán là người được ủy quyền thay mặt người đồng sở hữu chứng khoán lưu ký nhận các quyền được hưởng từ tổ chức phát hành như cổ tức, lãi trái phiếu, cổ phiếu thưởng.





