Disintermediation / Quá Trình Xoá Bỏ Trung Gian; Phi Trung Gian
Quá trình theo đó vốn mà từ trước đã đi từ người cung cấp cuối cùng đến người sử dụng cuối cùng thông qua , đặc trung gian tài chính biệt là các ngân hàng vì các lý do liên quan đến lãi suất tương đối hay kiểm soát khả năng mở rộng các khoản tiền gửi của các ngân hàng, bây giờ đựoc tiến hành trực tiếp.
Diseretionary Account / Tài Khoản Tùy Nghi
Đây là loại tài khoản mà chủ tài khoản tức khách hàng cho phép công ty chứng khoán được mua và bán chứng khoán tùy ý lựa chọn với giá cả và thời điểm mà công ty cho là thích hợp. Công ty chứng khoán không bị bắt buộc hỏi ý kiến khách hàng mà phân tích dựa trên sự hiểu biết về khách hàng này, tình hình thị trường cũng như một số vấn đề khác để đi tới quyết định thực hiện giao dịch. Tuy nhiên trước khi trao cho công ty chứng khoán quyền tự quyết, khách hàng phải cân nhắc thật kỹ lưỡng. Việc việc ủy quyền cho công ty chứng khoán phải được ghi thành văn bản, có chữ ký xác nhận của chủ tài khoản và được lưu trữ tại công ty chứng khoán. Trong văn bản này phải ghi rõ quyền hạn của người được ủy quyền là vô hạn hoặc có giới hạn. Ngoài ra, bản thỏa thuận còn quy định rõ loại chứng khoán nào mà công ty chứng khoán được phép mua, bán... Tất cả những quy định trên nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và công ty chứng khoán, cũng như tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau này.
Disembodied Technical Progress / Tiến Bộ Kỹ Thuật Ngoại Tại; Tiến Bộ Kỹ Thuật Tách Rời
Tiến bộ kỹ thuật đạt được mà không tốn kém tiền đầu tư, như một dạng "lộc trời cho", hoàn toàn không phụ thuộc tích luỹ vốn hay bất kỳ biến nào khác trong hệ thống kinh tế.
Diseconomies Of Growth / Tính Phi Kinh Tế Do Tăng Trưởng
Những rằng buộc mạnh mẽ phát sinh khi tốc độ tăng trưởng cao hơn một mức nào đó và làm mất tính hiệu quả của các hoạt động của hãng.
Discriminating Monopoly. / Độc Quyền Phân Biệt Đối Xử; Độc Quyền Có Phân Biệt
Có hai hình thức chủ yếu về Phân biệt đối xử theo giá : Thứ nhất, việc các hãng tính giá khác nhau cho từng nhóm người mua khác nhau và thứ hai tính cho cùng loại người tiêu dùng các giá khác nhau đối với các lượng khác nhau của cùng một loại hàng.
Discretionary Stabilization / Sự Ổn Định Có Can Thiệp
Sự can thiệp trực tiếp của chính phủ thường ở dạng chính sách tài chính hay chính sách tiền tệ nhằm ổn định tăng trưởng hay mức thu nhập quốc dân. (ngược lại với automatic stabilizers).
Discretionary Profits / Những Mức Lợi Nhuận Vượt Trội
Lợi nhuận vượt quá mức tối thiểu cần thiết để đạt được sự chấp nhận của các cổ đông.
Discovery - Découverte / Phát Minh
Phát minh là sự phát hiện ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người. Phát minh là khám phá về quy luật khách quan, chưa có ý nghĩa áp dụng trực tiếp và sản xuất hoặc đời sống. Vì vậy phát minh không có giá trị thương mại, không được cấp bằng phát minh và không được bảo hộ pháp lý.
Discouraged Worker Hypothesis / Giả Thuyết Về Công Nhân Nản Lòng
Những công nhân rời bỏ thị trường lao động khi thất nghiệp tăng lên.
Discounted Window / Cửa Giảm Giá
Cửa giảm giá là một công cụ của chính sách tiền tệ (thường được kiểm soát bởi các ngân hàng trung ương), cho phép các tổ chức đủ điều kiện vay tiền từ ngân hàng trung ương, trên cơ sở nợ ngắn hạn, để bù đắp cho những thiếu hụt thanh khoản tạm thời. Mức lãi suất được vay như vậy gọi là lãi suất chiết khấu. Cửa giảm giá thực hiện chức năng là một chiếc van an toàn để xả "áp suất" trong các thị trường. Nó giúp giảm bớt các rắc rối thanh khoản ở các ngân hàng và trợ giúp đảm bảo sự ổn định cơ bản của các thị trường tài chính.
Discounted Cash Flow Yield / Lợi Tức Luồng Tiền Đã Chiết Khấu
Một khái niệm chung nói đến số Tiền thu được từ sự đầu tư vốn, khi tiền này được coi như một phần của kinh phí.
Discounted Cash Flow (DCF) / Dòng Tiền Đã Chiết Khấu; Luồng Tiền Chiết Khấu
Một phương pháp đánh giá các dự án dựa trên ý tưởng chiết khấu chi phí và lợi nhuận tương lai xuống giá trị hiện tại của chúng.
Discounted Cash Flow - DCF / Dòng Tiền Chiết Khấu
DCF là một cách thức để đánh giá mức độ hấp dẫn của một cơ hội đầu tư. Các nhà phân tích thường dùng phương thức này để quy dòng tiền tương lai của một dự án cụ thể về giá trị hiện tại từ đó đánh giá được mức độ khả thi của một dự án đầu tư. Nếu như dòng tiền tương lai sau khi qua chiết khấu có giá trị lớn hơn chi phí đầu tư hiện tại của dự án thì đây có thể sẽ là một cơ hội đầu tư tốt. Có rất nhiều biến số ẩn chứa trong việc phân tích dòng tiền và dòng tiền chiết khấu. Tuy việc tính toán DCF là rất phức tạp song mục đích của việc phân tích DCF chỉ nhằm đánh giá lượng tiền mà nhà đầu tư có thể thu được từ một hoạt động đầu tư và từ đó điều chỉnh giá trị của tiền tệ theo thời gian. Việc ứng dụng DCF mang lại nhiều tiện ích, tuy nhiên nó cũng có những sai sót nhất định. DCF chỉ đơn thuần là một công cụ tính toán, vì vậy không thể tránh được những sai lệch. Một sự thay đổi nhỏ trong yếu tố đầu vào có thể dẫn tới thay đổi lớn về trị giá của một công ty. Người ta thường cố gắng điều chỉnh dòng tiền đạt được một hạn mức nhất định. Mọi người thường không hiểu được vì sao các nhà phân tích chứng khoán lại có thể định giá một công ty tương đối giống nhau hay tại sao mà mức giá họ dự đoán lại khác nhau nhiều đến thế. Câu trả lời đơn giản nằm ở chỗ họ sử dụng phương thức DCF như thế nào? Tuy nhiên nếu bạn là nhà đầu tư bạn không nhất thiết phải dựa trên nhận định của các chuyên gia phân tích. Bằng việc so sánh đối chiếu, sử dụng đúng công cụ, chính bạn cũng có thể định giá một công ty bằng phương pháp DCF. Nói một cách đơn giản thì phương pháp DCF nhằm tìm ra giá trị hiện tại của công ty dựa trên việc phân tích lượng tiền mà công ty đó có khả năng tạo ra trong tương lai. Ví dụ nếu ai đó yêu cầu bạn lựa chọn giữa việc nhận 100USD vào ngày hôm nay và nhận đúng số tiền đó sau 1năm. Chắc bạn sẽ chọn cách thứ nhất vì bạn biết rằng bạn có thể đầu tư và kiếm được hơn 100 USD sau 1 năm. Điều đó có nghĩa là số tiền mà bạn sẽ có trong tương lai sẽ trị giá bằng 100 USD ngày hôm nay - hay nói cách khác giá trị chiết khấu dòng tiền là 100 USD. Tính toán cho toàn bộ số tiền mà bạn kì vọng công ty sẽ tạo ra trong tương lai, bạn sẽ biết được giá trị hiện tại của công ty là bao nhiêu. Với tư cách là một nhà đầu tư, bạn sẽ rất có lợi nếu sử dụng thành thạo phân tích DCF. Đối với những nhà đầu tư mới gia nhập sân chơi đây là công cụ để kiểm tra lại mức giá trên các bản báo cáo của người môi giới chứng khoán. Các phân tích DCF yêu cầu phải tính đến các nhân tố ảnh hưởng đến công ty như tốc độ tăng doanh thu trong tương lai, lợi nhuận biên...Ngoài ra cũng cần tính toán tỉ lệ chiết khấu, nhân tố phụ thuộc nhiều vào tỉ lệ lãi suất phi rủi ro, chi phí huy động vốn, và các rủi ro đối với cổ phiếu của công ty.Tất cả các nhân tố này sẽ cho bạn những nhận định đúng đắn về các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, và điều đó có nghĩa là bạn có thể tin tưởng răng mình đã trả đúng giá cho mỗi cổ phiếu mua về.
Discount Rate (R) / Lãi Suất Chiết Khấu
Các công thức tài chính thường nhìn rất đẹp. Khó khăn xuất hiện khi chúng ta thay thế các ký hiệu bằng con số cụ thể. Trường hợp điển hình lựa chọn lãi suất chiết khấu, thường ký hiệu là r trong rất nhiều công thức tính toán chỉ số tài chính như NPV hay IRR. Lãi suất chiết khấu có thể tính bằng: 1. Chi phí huy động vốn (funding cost)Lãi suất chiết khấu có thể được tính bằng chi phí gọi vốn. Đây là tỷ lệ lợi tức người bỏ vốn mong muốn thu lại từ dự án. Nói cách khác, lãi suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn, hay chi phí cơ hội của vốn. Ví dụ: Nếu rút tiền tiết kiệm với lãi suất 4% để đầu tư thì có thể tính lãi suất chiết khấu = 4%. Khi tính toán tới tác động của thuế thu nhập, lãi suất chiết khấu được tính bằng chi phí sử dụng vốn sau thuế. Lãi suất chiết khấu = chi phí huy động vốn (Discount rate = funding cost)Chi phí huy động vốn là chi phí tập hợp lượng tiền cần thiết cho một khoản đầu tư (Funding cost is the cost of raising the money needed for an investment.) 2. Trung bình trọng số chi phí vốn (Weighted Average Cost of Capital, WACC) WACC = chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có 2 nguồn gọi vốn chính:- Vay thương mại => chi phí của khoản nợ (cost of debt) là lãi suất của khoản vay (1-tax)*lãi suất; và,- Vốn góp cổ đông => chi phí vốn cổ phần (cost of equity) là thu nhập mong muốn của cổ đông. WACC có thể tính bằng chi phí sử dụng trung bình của hai nguồn vốn trên. WACC = re * E/(E+D) + rD(1-TC)* D/(E+D) Trong đó:re: tỷ suất thu nhập mong muốn của cổ đôngrD: lãi suất mong muốn của chủ nợE: giá thị trường cổ phần của công tyD: giá thị trường nợ của công tyTC: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp re = [Div0(1+g)/P0] + g Trong đó: P0 là giá cổ phiếu của doanh nghiệp tại thời điểm gốcDiv0 là cổ tức của cổ phiếu doanh nghiệp tại thời điểm gốcg: tỷ lệ tăng trưởng dự kiến của cổ tức.
Discount Rate / Tỷ Lệ Chiết Khấu; Suất Chiết Khấu
Tỷ lệ mà lợi nhuận hay chi phí tương lai sẽ được chiết khấu do sở thích hiện tại hơn tương lai hoặc vì sự tồn tại của lãi suất dương.
Discount Rate / Tỉ Lệ Chiết Khấu
Tỉ lệ chiết khấu là một khái niệm xuất hiện rất nhiều trong kinh tế. Tuy nhiên điều thú vị là ở mỗi ngữ cảnh khác nhau nó lại có một nghĩa khác nhau. Trong thương mại tỉ lệ chiết khấu được hiểu là tỉ lệ giảm giá mà người bán dành cho người mua để thúc đẩy việc mua hàng với số lượng lớn, để duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng hoặc để khuyến khích việc thanh toán trước hạn, thanh toán bằng tiền mặt... Với thẻ tín dụng: tỉ lệ chiết khấu là số phần trăm của giá trị giao dịch mà ngân hàng phát hành thu từ người sử dụng thẻ tín dụng trên mỗi giao dịch được thực hiện. Trong chính sách tiền tệ: tỉ lệ chiết khấu chính là lãi suất mà các tổ chức tài chính phải chịu khi vay vốn ngắn hạn trực tiếp từ Ngân hàng trung ương. Trong hoàn cảnh này, tỉ lệ chiết khấu còn được gọi là lãi suất chiết khấu, lãi suất tài chiết khấu, lãi suất cơ bản... Tỉ lệ chiết khấu là một công cụ vô cùng hữu hiệu trong tay NHTW để kiểm soát cung tiền, thực thi các chính sách tiền tệ. Trong đánh giá dự án, đánh giá quyết định đầu tư, tỉ lệ chiết khấu được dùng để tính tỉ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), giá trị hiện tại thuần (NPV). Lúc này tỉ lệ chiết khấu có vai trò giúp qui giá trị các luồng tiền trong tương lai về thời điểm hiện tại, sau khi đã tính đến các nhân tố như lãi suất, lạm phát.. Việc chọn được một tỉ lệ chiết khấu phù hợp là vô cùng quan trọng trong các phân tích tài chính. Một cách chọn khá hay là lấy tỉ lệ chiết khấu đúng bằng tỉ suất lợi nhuận của dự án đầu tư thay thế khi muốn so sánh trực tiếp giữa 2 phương án đầu tư. Ví dụ: bạn có một số vốn nhàn rỗi $10,000 và đang cân nhắc giữa việc gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất 10%/năm hoặc mở một cửa hàng tạp hoá. Lúc này để so sánh giữa hai phương án, bạn có thể tính NPV của của phương án mở cửa hàng với tỉ lệ chiết khấu là 10% rồi so sánh với NPV của phương án gửi tiền vào ngân hàng.
Discount Policy / Chính Sách Chiết Khấu
Trong nền sản xuất hàng hóa, tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và biến động một cách tự phát. Nhà nước có thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái mà một trong số đó là chính sách chiết khấu. Chính sách chiết khấu là chính sách của Ngân hàng Trung ương dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu của ngân hàng mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường. Khi tỷ giá lên cao đến mức nguy hiểm muốn làm cho tỷ giá hạ xuống thì Ngân hàng Trung ương nâng cao tỷ suất chiết khấu lên, do đó lãi suất trên thị trường cũng tăng lên, kết quả là vốn ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ chảy vào nước mình để thu lãi cao. Lượng vốn chảy vào sẽ góp phần làm dịu đi sự căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm xuống. Thực chất chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định và có hạn đối với tỷ giá hói đoái, bởi lẽ giữa tỷ giá và lãi suất không có mối quan hệ nhân quả, lãi suất không phải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động của dòng vốn giữa các nước. Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu vốn cho vay và nó xoay quanh trục tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn tỷ giá hối đoái thì do quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định mà quan hệ này lại do tình hình thặng dư hay thiếu hụt cán cân thanh toán. Như vậy nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất không nhất định đưa đến sự biến động tương ứng của tỷ giá. Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của các nước ngoài chảy vào, nhưng nếu tình hình kinh tế chính trị trong nước không ổn định thì không nhất thiết điều đó sẽ xảy ra. Bởi vì trong đầu tư vấn đề dặt ra trước tiên là sự đảm bảo an oàn cho số vốn đó chứ không phải là thu về được lãi nhiều. Tuy nhiên chính sách chiết khấu vẫn là một công cụ vĩ mô nhiều nước sử dụng để can thiệp vào sự biến động của tỷ giá. Nếu tình hình tiền tệ của các nước cơ bản như nhau thì rõ ràng phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao, do đó không thể coi thường chính sách chiết khấu, nó vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô của ngân hàng Trung ương. Ví dụ, năm 1964, Ngân hàng Anh quốc nâng tỷ suất chiết khấu từ 5% lên 7%, do đó đã thu được vốn ngắn hạn chảy vào Anh góp phần giải quyết những khó khăn của cán cân thanh toán quốc tế Anh. Ngoài ra chính sách chiết khấu còn được hiểu một cách rất chính thống là chính sách điều chỉnh tỷ lệ chiết khấucủa Ngân hàng Trung ương đối với ngân hàng thương mại. Theo chính sách này Ngân hàng Trung ương sẽ nâng cao hay hạ thấp lãi suất của khoản vốn vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại tại ngân hàng Trung ương, từ đó gián tiếp giảm hoặc tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế.
Discount Market / Thị Trường Chiết Khấu
Theo nghĩa hẹp là thị trường London mà tại đó hối phiếu thương mại và hối phiếu bộ tài chính được mua bán.
Discount House / Hãng Chiết Khấu
Một trung gian tài chính trong thị trường tiền tệ London thu về các tài sản ngắn hạn cùng với tiền sẽ trả khi có thông báo ngắn hạn.
Discount Broker / Môi Giới Chứng Khoán Bán Phần - Môi Giới Chiết Khấu
Môi giới bán phần hay môi giới chiết khấu là loại môi giới cũng thực hiện các giao dịch mua bán cho khách hàng và thêm một số loại dịch vụ gia tăng hạn chế khác. Đối tượng khách hàng chủ yếu sử dụng loại hình môi giới này là những nhà đầu tư có kiến thức khá vững và muốn tự mình quyết định đầu tư và họ chỉ cần nhà môi giới với đúng nghĩa đen của từ "môi giới". Họ sẽ không nhận được những lời tư vấn từ nhà môi giới mà phải "tự lo" một mình, tự chịu trách nhiệm dù kết quả đầu tư có ra sao. Chính vì vậy, trách nhiệm của môi giới bán phần sẽ không cao như môi giới toàn phần, cho nên khoản tiền hoa hồng họ nhận được cũng thấp hơn nhiều so với môi giới toàn phần. Một đặc điểm nữa của môi giới bán phần đó là công cụ mà họ sử dụng chủ yếu đó là Internet. Họ tìm kiếm khách hàng, quan hệ với khách hàng hay thực hiện giao dịch cho khách hàng cũng đều thông qua Internet. Chính vì vậy, sự phát triển của loại hình môi giới bán phần gắn liền với sự phát triển của Internet.





