Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Domar, Evsey D. / (1914-)

Nhà kinh tế người Mỹ gốc Ba Lan, nổi tiếng vì công trình của ông về thuyết tăng trưởng kinh tế. Ông nhấn mạnh rằng chi tiêu đầu tư có hai hiệu ứng, cụ thể là hiệu ứng tạo thu nhập và hiệu ứng tăng năng lực. Kinh tế học KEYNES chỉ công nhận hiệu ứng thứ nhất và Domar đưa ra khẳng định về những điều kiện cần tăng cầu và tăng năng lực để phát triển một cách cân đối. Kết quả mà ông thu được giống với những gì HARROD thu được một cách độc lập để đến ngày nay chúng được biết đến như những điều kiện của Harrod/Domar. Tác phẩm chính của ông là Các tiểu luận về thuyết tăng trưởng kinh tế (1957).

Dollarization / Đô La Hóa

Đô la hóa là tình trạng mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm trên 30% trong tổng khối tiền tệ mở rộng bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ. Đô la hóa được phân ra làm 3 loại như sau: Đô la hóa không chính thức là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. Ở những nước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen với việc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô la, cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước. Đô la hóa bán chính thức hay còn gọi là đô la hóa từng phần là tình trạng đồng đô la được sử dụng như một đơn vị kế toán, phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị và phương tiện thanh toán trong khi đồng nội tệ vẫn tồn tại và lưu thông. Đồng đô la có  chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế. Các nước ở tình trạng này vẫn duy trì một Ngân hàng Trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ. Đô la hóa chính thức hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn xảy ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sẻ dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng ngoại tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ. Thông thường, các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế.

Dollar-Cost Averaging - DCA / Chiến Thuật Trung Bình Hóa Chi Phí Đầu Tư

Chiến thuật trung bình hóa chi phí đầu tư hay chiến thuật bình quân giá chi phí đô la (Dollar-Cost Averaging - DCA) là một chiến thuật đầu tư đơn giản, hữu ích, với chi phí đầu tư thấp và nó làm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ có vốn đầu tư hạn chế. Trung bình hóa chi phí đầu tư (DCA): Là chiến thuật đầu tư một lượng tiền cố định vào một chứng khoán riêng lẻ dựa trên một kế hoạch thường xuyên trong một thời gian dài, bất chấp giá của chứng khoán như thế nào. Khi thị trường sụt giảm (bear market), với một số tiền đầu tư nhất định đó bạn sẽ mua được nhiều chứng khoán với giá thấp và khi thị trường lên (bull market), cũng với một số tiền đầu tư nhất định bạn sẽ mua được ít chứng khoán với giá cao. Điều này được nhắc đến như là một “kế hoạch đầu tư ổn định”. Cuối cùng, Chi phí trung bình tính trên chứng khoán đầu tư sẽ trở nên ngày càng nhỏ hơn. Trung bình hóa chi phí đầu tư làm giảm rủi ro đầu tư một số tiền lớn vào một chứng khoán riêng lẻ tại thời điểm bất lợi. Hãy phân tích chiến thuật trên bằng một ví dụ. Giả sử rằng gần đây bạn có một khoản tiền thưởng do hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc của mình (chỉ tưởng tượng), và bây giờ bạn có $10,000 để đầu tư. Thay vì đầu tư hết toàn bộ số tiền vào một quỹ tương hỗ hoặc vào một chứng khoán, thì với DCA, bạn sẽ dàn trải vốn đầu tư của mình trong nhiều tháng. Mỗi tháng bạn đầu tư $2,000 và kéo dài trong 05 tháng tiếp theo, “làm bình quân” giá trong 05 tháng. Vậy, một tháng nào đó bạn có thể mua cổ phiếu với giá cao (số cổ phiếu được mua sẽ ít), và tháng kế tiếp bạn có thể mua được nhiều cổ phiếu hơn vì giá thấp, ... Chiến thuật này thì cũng có thể áp dụng đối với nhà đầu tư không có số tiền thật lớn khi mới đầu tư, nhưng họ có thể đầu tư với những khoản tiền nhỏ một cách thường xuyên. Đây là cách mà bạn có thể góp một số tiền nhỏ $25 đến $50 một tháng cho một khoản đầu tư như quỹ chỉ số chứng khoán. Hãy nhớ rằng chiến thuật trung bình hóa chi phí đầu tư không ngăn được sự tổn thất trong một thị trường sụt giảm liên tục, nhưng nó khá hiệu quả trong việc tận dụng lợi thế về tăng trưởng trong thời kỳ dài hạn.

Dollar Certificate Of Deposite / Giấy Chứng Nhận Tiền Gửi Đôla

Giấy chứng nhận tiền gửi (CD) ghi bằng đola và được phát hành để được phát hành để đổi lấy tiền gửi bằng đôla.

Doing Business / Kinh Doanh

Theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp của Quốc Hội nước ta ban hành vào ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành vào ngày 1/7/2006, khoản 2 điều 4 phát biểu như sau: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Documentary Commercial Billa / Hối Phiếu Thương Mại Có Kèm Chứng Từ

Thuật ngữ này dùng để chỉ hối phiếu được ngân hàng chấp nhận, có vận đơn và các chứng từ khác đính kèm. Ngược lại với Clean Draft (hối phiếu không kèm chứng từ). Chứng từ đính kèm được giao cho người chi trả khi người này chấp nhận hay chi trả hối phiếu.

DJIA/ Dow 30/ Dow Jones/ The Dow / Chỉ Số Trung Bình Công Nghiệp Dow Jones

Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones còn được gọi là DJIA hoặc Dow 30 hoặc Dow Jones hoặc The Dow, là một trong những chỉ số của thị trường chứng khoán được tạo ra bởi người biên tập tờ Wall Street Journal và đồng sáng lập công ty Dow Jones & Company vào thế kỉ thứ 19. Chỉ số trung bình Dow Jones được tính toán từ 30 công ty đại chúng lớn nhất ở Mỹ. Cái tên "industrial" chỉ mang ý nghĩa lịch sử bởi vì rất nhiều công ty thời nay trong số 30 công ty này không liên quan gì mấy tới ngành công nghiệp nặng. Để không bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng tách cổ phần và các điều chỉnh khác, hiện tại chỉ số Dow Jones là giá trị trung bình trọng số chứ không phải là giá trị trung bình thực của tất cả các cổ phiếu hợp thành. Tổng của các giá cổ phiếu bộ phận được chia cho cùng 1 ước số, ước số này thay đổi theo thời gian để tạo ra giá trị của chỉ số. Lần đầu tiên ra mắt vào ngày 26 tháng 5 năm 1896, chỉ số trung bình Dow Jones giới thiệu giá trị trung bình của 12 loại cổ phiếu từ các ngành công nghiệp quan trọng của Mỹ. Trong số 12 công ty đó, chỉ còn General Electric đến ngày nay là vẫn nằm trong nhóm 30 công ty được tính. So với thời kì đầu, chỉ số trung bình Down Jones rất nổi tiếng, nhưng cho đến ngày nay S&P 500 được nhiều người ưa thích hơn do S&P 500 bao gồm nhiều công ty có mức đại biểu chính xác hơn cho thị trường.

Division Of Labour / Phân Công Lao Động

Quá trình phân bổ lao động cho hoạt động nào đó có năng suất cao nhất, tức là vào hoạt động sử dụng tốt nhất các kỹ năng của nó.

Diviend In Arrears / Cổ Tức Tích Lũy

Thuật ngữ này dùng để chỉ cổ tức tích luỹ của chứng khoán ưu đãi tích luỹ, sẽ được trả cho sở hữu chủ hiện hành. Chứng khoán ưu đãi trong tình hình công ty phát hành đã phục hồi lại triển vọng kiếm lời sẽ hấp dẫn người mua khi được bán với giá hạ (giá đã khấu trừ) và có cổ tức tích luỹ (cổ tức nằm trong số nợ sẽ trả sau).

Dividends Payable / Số Cổ Tức Được Trả

Thuật ngữ này dùng để chỉ số Dollar trị giá cổ tức sẽ được chi trả như đã báo cáo trong bản báo cáo tài chính. Cổ tức này trở thành một món nợ khi hội đồng quản trị đã công bố và được liệt kê như món nợ trong báo cáo hàng năm và hàng quý.

Dividend Yield / Tỷ Suất Cổ Tức

Cổ tức là khoản tiền mà các công ty trích ra từ lợi nhuận để trả cho cổ đông. Người ta thường tính cổ tức trên một cổ phiếu. Tuy nhiên khi so sánh cổ tức giữa các công ty lại phải quan tâm tới tỷ suất cổ tức, đây là một tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và trị giá cổ phiếu. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ cổ tức bạn sẽ nhận được so với số tiền bạn phải trả để mua cổ phiếu. Ví dụ, nếu bạn nhận được 2 đôla Mỹ hàng năm từ mỗi cổ phiếu và thị giá cổ phiếu là 50 đôla thì tỷ suất cổ tức sẽ là 4%. Không phải bất cứ cổ phần nào cũng đem lại cho bạn cổ tức. Nếu một công ty đang tăng trưởng nhanh có thể làm lợi cho các cổ đông bằng cách tái đầu tư, trong trường hợp đó, nó sẽ không trả cổ tức. Ví dụ công ty Microsoft không trả cổ tức nhưng các cổ đông của công ty không hề phàn nàn gì về điều này. Như vậy một cổ phiếu không được trả cổ tức, tương đương với tỷ suất cổ tức giảm, không hẳn là cổ phiếu của công ty đang làm ăn thua lỗ. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư muốn được trả cổ tức, đặc biệt là các nhà đầu tư ở tuổi sắp nghỉ hưu, vì cả lý do thu nhập và an toàn. Tuy nhiên cũng không nên chỉ tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao bởi vì bạn có thể sẽ nhanh chóng gặp rắc rối. Giả sử cổ phiếu nói trên có cổ tức 2 đôla và tỷ suất cổ tức 4%, tức là cao hơn hẳn tỷ suất trung bình của thị trường là 2%. Điều này không có nghĩa là mua cổ phiếu đó là tốt nhất. Hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu công ty đó không thực hiện được kế hoạch thu nhập và giá cổ phiếu sụt trong vòng 1 đêm từ 50 xuống còn 40 đôla một cổ phiếu. Điều đó có nghĩa là giá cổ phiếu giảm 20% và đẩy tỷ suất cổ tức lên tới 5% (2đôla/40 đôla). Liệu bạn có muốn đầu tư vào một cổ phiếu như vậy chỉ vì tỷ suất cổ tức cao hơn? Có lẽ là không. Ngay cả khi tìm mua những cổ phiếu cho nhiều cổ tức, bạn cũng phải chắc chắn là công ty đó không có vấn đề gì về tài chính. Khi bạn tìm mua những cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao, bạn cần xem xét tỷ lệ trả cổ tức của công ty. Chỉ số này thể hiện tỷ lệ phần trăm lợi nhuận được trích ra để trả cho cổ đông dưới hình thức cổ tức. Nếu tỷ lệ này vượt quá 75% có nghĩa là công ty không tái đầu tư lợi nhuận một cách hợp lý. Một tỷ lệ trả cổ tức cao thường hàm ý là thu nhập của công ty được sử dụng phần lớn để trả cho cổ đông và có nghĩa là công ty đang cố gắng thu hút các nhà đầu tư mua cổ phiếu của mình.

Dividend Warrant / Chứng Chỉ Cổ Tức

Đây là chi phiếu về cổ tức, ghi trên mặt chi phiếu là số cổ tức và số thuế được trừ ra. Ở một vài quốc gia chứng chỉ cổ tức được nộp cho cơ quan thuế để đòi trả lại tiền khi bản thân người có chứng chỉ không có nợ thuế.

Dividend Signaling / Tác Động Tín Hiệu Của Cổ Tức

Lý thuyết này phát biểu rằng, tất cả các thông báo của công ty về việc chi trả cổ tức nhiều hơn được xem như là một tín hiệu cho thấy công ty đang sở hữu nhiều dự án triển vọng trong tương lai, nói cách khác là công ty đang rất ăn nên làm ra. Sự hợp lý đằng sau các mô hình tác động tín hiệu của cổ tức chính là lý thuyết trò chơi. Một nhà quản lý có các cơ hội đầu tư tốt dường như có vẻ muốn phát tín hiệu cho nhiều nhà đầu tư khác cũng thấy điều đó, và như vậy anh ta mới có thể kiếm lợi được. Qua nhiều năm, khái niệm tác động tín hiệu của cổ tức có thể chỉ ra các vị thế khả quan trong tương lai của một doanh nghiệp hay không vẫn đang là một chủ đề được tranh luận nóng bỏng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng thị trường phản ứng tích cực đối với các thông tin chi trả cổ tức nhiều hơn. Phần lớn các cuộc thử nghiệm cũng cho thấy tác động tín hiệu của cổ tức luôn xảy ra trong cả trường hợp công ty thông báo chi trả cổ tức nhiều hơn hay ít hơn. Lý thuyết về tác động tín hiệu của cổ tức cũng được xem là một nội dung chủ chốt được những người đề xướng về thị trường không hiệu quả sử dụng. Mặc dù vậy, vẫn có những luồng ý kiến khác về tác động tín hiệu của cổ tức đáng được quan tâm. Một luồng ý kiến khác cho rằng, khi công ty quyết định chi trả cổ tức với mức cao hơn, đồng nghĩa là các cơ hội đầu tư trong tương lai không còn nhiều nữa, công ty không cần thiết phải giữ lại lợi nhuận quá nhiều để tái đầu tư. Vì theo lý thuyết thứ tự tăng vốn thì khi cần huy động vốn cho các dự án, lợi nhuận giữ lại là sự ưu tiên số 1. Do vậy nhà quản trị khi đưa ra bất cứ một quyết định nào về cổ tức cũng luôn luôn phải quan tâm đến tác động tín hiệu của nó. Bởi lẽ không có điều gì ảnh hưởng đến giá cổ phiếu nhanh hơn là các thông báo về chi trả cổ tức.

Dividend Rollover Plan / Kế Hoạch Xoay Qua Cổ Tức

Đây là phương pháp mua và bán chứng khoán gần ngày công ty tuyên bố chứng khoán được chia cổ tức để thu cổ tức và mua bán lại để kiếm một ít lợi nhuận. Điều này đòi hỏi phải mua cổ phần khoảng 2 tuần trước khi chứng khoán ở vào vị thế không có cổ tức. Sau ngày chưa được chia cổ tức (Ex-Dividend) giá sẽ giảm xuống vào khoảng bằng trị giá cổ tức, sau đó sẽ trở lại giá cũ. Bằng cách bán hơi cao hơn giá mua, nhà đầu tư có thể trang trải giá phí môi giới, thu lại cổ tức, và có một lợi nhuận nhỏ trong 3 hay 4 tuần. Kế hoạch này còn gọi là nắm bắt cổ tức (Dividend Capture).

Dividend Reinvestment Plan Drip/Drp / Tái Đầu Tư Bằng Cổ Tức

Đây là một dịch vụ do một công ty cung cấp. Dịch vụ này cho phép khách hàng có thể tái đầu tư cổ tức của họ bằng cách mua thêm cổ phiếu vào ngày thanh toán tiền cổ tức. DRIP là cách thức hoàn hảo để tăng giá trị khoản đầu tư của bạn. Phần lớn các dịch vụ DRIP đều cho phép bạn mua cổ phiếu mà không phải trả phí hoa hồng đồng thời bạn còn được hưởng một khoản chiết khấu giảm giá khá lớn tính trên mức giá bán của cổ phiếu trên thị trường. Hầu hết các dịch vụ DRIP đều không chấp nhận mức tái đầu tư thấp hơn $10. Thuật ngữ này đôi khi còn được viết tắt là "DRP"

Dividend Payout Ratio / Tỷ Lệ Trả Cổ Tức

Trên thực tế, các doanh nghiệp có quyền tự quyết định chính sách cổ tức trong từng thời kỳ, bởi vậy nên có tỷ lệ trả cổ tức cao thấp khác nhau giữa các doanh nghiệp hoặc không trả cổ tức. Lý do là bởi, các doanh nghiệp lớn - nhóm cổ phiếu blue chip khi đã tăng trưởng đủ mạnh và trở thành những đơn vị đầu ngành thì bắt đầu tăng trưởng chậm  lại và có xu hướng giữ nguyên quy mô nên thường có tỷ lệ trả cổ tức ổn định; Đối với các đơn vị trả cổ tức thấp thường có quy mô trung bình và nhỏ, có tiềm năng phát triển mở rộng, các nhà đầu tư hy vọng sau thời điểm có dự án đầu tư tốt, doanh nghiệp này sẽ tái đầu tư thu nhập mở rộng các dự án có suất sinh lời cao hơn và họ được lợi từ cổ phiếu tăng giá. Bênh cạnh đó, yếu tố ảnh hưởng tới quyết định tỷ lệ trả cổ tức thấp do mức thuế đánh vào cổ tức. Do đó, để tránh thuế thì các đơn vị này thay vì trả cổ tức bằng cách mua cổ phiếu quỹ.

Dividend Exclusion / Miễn Thuế Cổ Tức Ở Hoa Kỳ

Thuật ngữ này dùng để chỉ điều khoản trước khi có đạo luật Tax Reform Act of 1986 cho phép trừ vào cổ tức có tiêu chuẩn như lợi tức có thuế theo quy định của lnternal Revenue Service - $100 cho cá nhân và $200 cho 1 cặp vợ chồng cùng khai thuế. Năm 1986 Tax Act đã loại bỏ việc này và có hiệu lực từ năm thuế l987. Các công ty nội địa có thể được miễn thuế lợi tức 80% của số cổ tức nhận từ các công ty nội địa khác. trước khi có đạo luật 1986, họ được trừ 85%.

Dividend Discount Model_Ddm / Mô Hình Chiết Khấu Cổ Tức

Mô hình chiết khấu cổ tức là một mô hình tương đối tốt để định giá cổ phần. Lý thuyết này phát biểu rằng giá trị cổ phần của một công ty là giá trị của toàn bộ dòng tiền tương lai mà bạn kì vọng một doanh nghiệp tạo ra sau khi đã được điều chỉnh bằng một tỉ lệ chiết khấu hợp lý. công thức tính như sau: Trong đó Value of stock : giá trị cổ phầnDividend per share : cổ tức trên một cổ phầnDiscount rate: tỉ lệ chiết khấuDivident growth rate: tốc độ tăng cổ tức. Vấn đề cốt lõi trong lý thuyết này đó là cổ phần của bất cứ công ty nào cũng có trị  giá không vượt quá những khoản cổ tức mà nó sẽ đem lại cho nhà đầu tư trong hiện tại và tương lai. Theo lý thuyết DDM, cổ tức là dòng tiền mà các cổ đông sẽ thu về trong tương lai, tất nhiên là có tính tới giá trị của tiền tệ theo thời gian. Để đánh giá một công ty thông qua việc sử dụng mô hình DDM, bạn cần phải tính giá trị khoản cổ tức mà công ty sẽ trả trong năm tới. Có nhiều mô hình chiết khấu cổ tức trong đó có hai loại chính là mô hình cổ tức không tăng trưởng và mô hình cổ tức tăng theo thời gian. Xét một ví dụ đơn giản: giả sử rằng một công ty trả cổ tức 1$/năm, bạn sẽ tự hỏi rằng liệu bạn có sẵn sàng mua cổ phiếu của công ty này không? Giả sử rằng tỉ lệ thu nhập kì vọng là 5%, khi đó theo mô hình DDM có tốc độ tăng cổ tức bằng 0, giá trị của doanh nghiệp này là 1/5% = 20$Khiếm khuyết trong mô hình 1là ở chỗ khi tiến hành đầu tư vào một doanh nghiệp, bao giờ nhà đầu tư cũng hi vọng rằng doanh nghiệp này sẽ tăng trưởng qua thời gian. Nếu nhà đầu tư cũng suy nghĩ như vậy trong trường hợp trên thì mẫu số sẽ tương đương với hiệu số của tỉ lệ thu nhập kì vọng và tốc độ tăng trưởng của cổ tức. Giả sử rằng tốc độ tăng cổ tức là 3% một năm, khi đó giá trị của công ty sẽ là 1/ (5%-3%) = 50$. Mô hình DDM cổ điển này thường phát huy tác dụng tốt nhất khi được sử dụng để đánh giá các công ty mạnh, có mức trả cổ tức cao. Những người ủng hộ lý thuyết này thì cho rằng chỉ có lượng cổ tức trong tương lai mới có thể cho bạn những đánh giá đúng đắn về giá trị nội tại của doanh nghiệp. Mua cổ phần với bất kì lý do gì, ví dụ mua với mức giá cao hơn 20 lần so với thu nhập có thể kiếm được từ công ty vì tin rằng hôm sau sẽ có người mua lại với giá gấp 30 lần thì chỉ đơn thuần là một sự đầu cơ. Trên thực tế, mô hình DDM đòi hỏi một sự nghiên cứu tỉ mỉ để có thể dự đoán được mức cổ tức trong tương lai. Thậm chí khi bạn áp dụng mô hình này với công ty trả cổ tức đều đặn, thường xuyên, bạn vẫn cần đưa ra rất nhiều giả thuyết về hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Trong đó giả định lớn nhất trong mô hình DDM là giả định rằng cổ tức của doanh nghiệp là tương đối ổn định, không tăng hoặc tăng đều. Thêm vào đó các yếu tố đầu vào để tính toán giá trị thì thường xuyên thay đổi và tiềm ẩn những sai số. Tuy nhiên, ngay cả đối với các cổ phần đáng tin cậy, ổn định, thì việc dự đoán chính xác việc trả cổ tức trong các năm tới cũng là công việc vô cùng khó khăn.

Dividend Covered Ratio / Hệ Số Bảo Chứng Tiền Lãi Cổ Phiếu

Hệ số bảo chứng tiền lãi cổ phiếu (còn gọi là Hệ số đảm bảo cơ hội - Times covered ratio) là phép đo lợi nhuận của một doanh nghiệp bảo chứng khoản thanh toán cổ tức theo cổ phiếu, được biểu hiện bằng lợi nhuận sau thuế so với các khoản lãi cổ tức phải trả. Ví dụ, nếu một khoản lợi nhuận sau thuế là 100,000$ và các khoản tiền thanh toán cổ tức là 50,000$ thì hệ số bảo chứng tiền lãi cổ phiếu sẽ là ½.

Dividend Cover / Mức Bảo Chứng Cổ Tức

Tỷ số lợi nhuận trên cổ phiếu thông thường so với tổng lợi tức trên cổ phiếu.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55