Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Dual Labour Market Hypothesis / Giả Thiết Thị Trường Lao Động Hai Cấp

Giả thuyết cho rằng thị trường lao động được phân thành 2 cấp: Cấp một và cấp hai.Những công việc có lương cao, có triển vọng về đề bạt, an toàn và trợ cấp cao, tạo thành khu vực cấp một của một nền kinh tế lưỡng cấp. Trong khu vực cấp hai, tiền lương được hình thành do cạnh tranh, công việc đủ nhiều để có thể sử dụng hết tất cả công nhân, tuy nhiên những công việc này có lương thấp, không ổn định và nói chung là không hấp dẫn. Những công nhân trong khu vực cấp hai do đó phải chịu tình trạng hữu nghiệp phiếm dụng.

Dual Decision Hypothesis / Giả Thuyết Quyết Định Kép

Trong những phát triển hiện đại của kinh tế học KEYNES có lập luận cho rằng hàm cung và cầu thông thường không cho thấy những tín hiệu xác đáng về điểm cân bằng trên thị trường.

Dual Currency Bond / Trái Phiếu Lưỡng Tệ

Là loại trái phiếu ghi bằng một loại tiền tệ, nhưng lại thanh toán tiền lãi theo một loại tiền tệ khác tại một tỷ giá hối đoái cố định. Hay còn được gọi là một công cụ nợ với lãi suất và gốc được thanh toán bằng hai loại tiền tệ khác nhau. Loại tiền tệ phát hành trái phiếu được gọi là đồng tiền cơ bản sẽ được các lại tiền tệ dùng để thanh toán lãi xác định dựa trên số tiền lãi được thanh toán. Những trái phiếu lưỡng tệ là những ngoại tệ có thể gây rủi ro hối đoái rất cao. Nếu những người nắm giữ trái phiếu là các loại tiền tệ chủ yếu sẽ được hoàn trả với giá cao thì họ sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn, nhưng nếu ngược lại thì người đó sẽ bị thua lỗ tiền. Những nhà đầu tư có thể sử dụng cách thức hoán đổi lưỡng tệ bằng cách ấn định một tỷ giá hối đoái cố định để bù đắp rủi ro hối đoái của trái phiếu lưỡng tệ. Ngoài ra, trái phiếu lưỡng tệ cũng là một phương án tốt cho môt công ty đa quốc gia tài trợ cho một chi nhánh nước ngoài.

DSM / Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Thương Mại

Cơ chế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về giải quyết tranh chấp thương mại (sau đây gọi tắt là DSM) với tư cách là một thiết chế của WTO mới chỉ tồn tại hơn 10 năm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 tới nay.Tuy nhiên, cơ chế trước đó - cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã tồn tại từ năm 1948 tới năm 1994. Mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT, chủ yếu là các quy định của hai Điều XXII và XXIII của GATT, có nhiều điểm bất cập, như việc vận hành theo nguyên tắc đồng thuận (tức là phải có ý kiến đồng ý của cả nước bị kiện) để ra các quyết định, chế tài đối với vi phạm yếu, kém minh bạch, cơ chế mang nặng tính ngoại giao... nhưng trong hơn 40 năm tồn tại thì GATT cũng đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, nhất là so với các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế khác: "... từ  năm 1948 tới hết năm 1988 đã có 207 vụ kiện được khởi kiện ra GATT, trong đó 88 vụ đã đem lại phán quyết cuối cùng và trong số 88 phán quyết này thì có 68 phán quyết tuyên [nước bị đơn] có vi phạm. Riêng trong thập kỷ 1980... đã có 115 đơn kiện đem lại 47 phán quyết trong đó có 40 phán quyết tuyên có vi phạm.... [T]rong 5 năm cuối tồn tại của GATT (1990-1994) [đã có ] 71 đơn kiện đem lại 22 phán quyết, trong đó có 20 phán quyết tuyên có vi phạm..."Vòng đàm phán đa phương Uruguay (1986-1994) được đánh giá là thành công nhất trong các vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT về nhiều phương diện, như phạm vi điều chỉnh, số lượng nước tham gia, thành lập được thiết chế quản lý các vấn đề thương mại quốc tế – Tổ chức thương mại thế giới (WTO)... tuy nhiên kết quả của Vòng Uruguay về cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là một sự tiến bộ có ý nghĩa đặc biệt, đem lại luồng không khí mới cho thể chế thương mại đa phương, nhất là niềm tin của các nước Thành viên vào việc các quy định trong WTO sẽ được thực hiện và bất kỳ vi phạm nào cũng sẽ được điều chỉnh lại thông qua việc áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp của tổ chức này. Cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) mới trong WTO được xây dựng dựa trên các kinh nghiệm và quy định tồn tại trên 40 năm của GATT, nhưng với những sự cải thiện đáng kể về các quy định cụ thể, nhất là về quy trình tố tụng, khẳng định nguyên tắc quan trọng là trong WTO, việc các quốc gia thành viên dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều có nghĩa vụ bình đẳng trong việc bảo đảm thể chế pháp luật của mình thống nhất với WTO và phải tuân thủ theo cơ chế giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan tới các hiệp định WTO.  Các số liệu từ 1/1/1995 cho tới hết năm 2004 thật đáng khích lệ: đã có 324  đơn khởi kiện được đưa ra WTO và thú vị là đơn khởi kiện thứ 324 chính là của Thái lan khởi kiện Hoa kỳ về việc Hoa kỳ áp dụng các biện pháp tạm thời chống bán phá giá tôm nhập khẩu từ Thái lan (tôm xuất khẩu của Việt Nam cũng bị liên quan trong vụ kiện chống bán phá giá này tại Hoa kỳ). Số liệu của WTO cho thấy sự phân bổ các vụ việc trong 10 năm qua (theo số thứ tự của WTO) như sau: năm 1995 vụ từ số 1 tới 22; 1996 vụ từ số 23 tới 64; 1997 vụ từ số 65 tới 110; 1998 vụ từ số 111 tới 154; 1999 vụ từ số 155 tới 185; 2000 vụ từ số 186 tới 215; 2001 vụ từ số 216 242; 2002 vụ từ số 243 tới 276; 2003 vụ từ số 277 tới 304 và năm 2004 vụ từ số 305 tới 324.Các số liệu về vụ việc trên đây có thể được giải thích theo các hướng khác nhau, nhưng một điều rõ ràng là cơ chế DSM đã được sử dụng thường xuyên hơn (số  liệu các vụ tranh chấp trong 10 năm đã vượt quá tổng số các vụ tranh chấp có trong lịch sử gần 50 năm của GATT) và đã khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống thương mại đa phương. Một điều quan trọng nữa là cơ chế đã đem lại một sự rõ ràng và lường trước được kết quả giải quyết vụ kiện khi các phán quyết (báo cáo) được cơ quan giải quyết tranh chấp WTO thông qua ngày càng có sự nhất quán, thống nhất cao, nhất là đối với các báo cáo của Cơ quan phúc thẩm. Chính vì vậy mà tỷ lệ các vụ kiện được hoà giải là rất cao (hơn 50%) mà không cần đi hết tố tụng và có khoảng trên 60% các vụ kiện đã được kháng cáo sau khi được xem xét ở cấp Ban hội thẩm (panel). Điều đáng mừng nữa là hầu hết các phán quyết đã được các nước thua kiện tự nguyện thi hành và chỉ có khoảng dưới 10 vụ trong 9 năm tồn tại WTO là cần đến các biện pháp trả đũa để gây sức ép cho nước thua kiện phải thi hành phán quyết, trong đó có các vụ về Thịt bò hocmôn của EC, Chuối của EC, Miễn thuế thu nhập cho các công ty bán hàng ở nước ngoài  của Hoa kỳ, Tu án chính Byrd của Hoa kỳ... đã được nói tới nhiều.Về các quy định điều chỉnh DSM của WTO có thể nêu vắn tắt như sau. So với GATT trước đây thì các quy định của WTO về giải quyết tranh chấp đã có bước phát triển rất lớn. Mặc dù căn cứ khởi kiện là như nhau (Điều XXII và Điều XXIII của GATT), nhưng GATT trước đây về cơ bản chỉ có 2 điều (Điều XXII và Điều XXIII của GATT) về giải quyết tranh chấp. Trong khi đó thì WTO ngoài Điều XXII và Điều XXIII của GATT còn có cả một Thoả thuận DSU gồm 27 điều và 4 phụ lục điều chỉnh toàn bộ các thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, trong các tranh chấp liên quan tới một số vấn đề thương mại cụ thể thì còn có các quy định đặc biệt hay bổ sung được quy định tại một số hiệp định liên quan (được liệt kê tại Phụ lục 2 của DSU). Theo Điều 1.2 của DSU thì các quy định đặc biệt hay bổ sung này có giá trị ưu tiên áp dụng trong trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định này với các quy định của DSU. Tuy nhiên, các quy định của DSU vẫn được coi là xương sống của cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) của WTO trong việc bảo đảm thi hành các quy định của WTO và có thể tóm tắt như sau:Mốc thời gian cho một quy trình tố tụng thông thường   Thời hạn  Hoạt động tố tụng 60 ngày Tham vấn, trung gian, hoà giải... 45 ngày Thành lập Ban hội thẩm 6 tháng Chuyển báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm cho các bên 3 tuần Chuyển báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm cho WTO 60 ngày DSB thông qua báo cáo (nếu không có kháng cáo) TỔNG: 1 NĂM Khi không có kháng cáo 60-90 ngày Cơ quan phúc thẩm có báo cáo 30 ngày DSB thông qua báo cáo phúc thẩm Tổng: 1 năm và 3 tháng Có kháng cáo 15 tháng Thời hạn tối đa để thi hành phán quyết khi không có kháng cáo (18 tháng nếu có kháng cáo) Tổng 2 năm và 6 tháng Không có kháng cáo Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện thì các quy định của WTO về giải quyết tranh chấp – gồm: DSU và các quy định đặc biệt hay bổ sung của các hiệp định thoả thuận chuyên ngành khác – cũng đã bộc lộ những yếu kém, nhược điểm cần được hoàn thiện. Điều này đã được các nước WTO dự đoán ngay từ đầu vì các quy định về giải quyết tranh chấp của WTO là các quy định mới và có tính thử nghiệm mà cần được rà soát để hoàn thiện. Tuy nhiên, các nỗ lực của các nước vẫn chưa đem lại một sự thống nhất đang kể, mặc dù các nước WTO đã thống nhất tại Hội nghị Bộ trưởng Doha tháng 11/2001 là sẽ “đàm phán về việc hoàn thiện và làm rõ DSU”. Một điều quan trọng đối với đàm phán về DSU là các kết quả đàm phán của nó không được đưa vào trọn gói các kết quả đàm phán Vòng Doha, tức là có thể hiểu làVòng Doha có thể kết thúc mà không có thoả thuận nào về kết quả đàm phán trong Doha.Một câu hỏi đã có người đặt ra là tại sao phải quan tâm tới DSM khi gia nhập WTO? Có lẽ câu hỏi này là quá xa không?- trong bối cảnh Việt Nam chúng ta còn chưa có hiểu biết đầy đủ về cơ chế này, nguồn lực, nhất là con người là rất hạn chế nên có lẽ các vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp được coi là vấn đề "tạm gác lại" khi mọi ưu tiên lúc này là cố gắng làm sao gia nhập được WTO và điều không kém phần quan trọng là chúng ta chưa có thói quen đi kiện và bị kiện trong quan hệ với các nước khác. Theo ý kiến của tác giả thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và quyết định gia nhập WTO cần được xem xét tổng thể về mọi khía cạnh, trong đó cần có cân nhắc đặc biệt tới  ý nghĩa và vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp. Thực tiễn rà soát pháp luật Việt Nam phục vụ gia nhập WTO vừa qua cho thấy nhiều quy định của các hiệp định trong WTO không phải lúc nào cũng rõ ràng và chỉ tới khi có các tranh chấp cụ thể về các quy định đó thì các nội hàm pháp lý mới được làm rõ. Do đó, ngay từ bây giờ Việt Nam cần có kế hoạch nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện, nhất là các chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế để tham gia vào giải quyết tranh chấp sau khi gia nhập WTO vì DSM là cơ chế hiệu quả giải quyết các bất đồng và tranh chấp quốc tế giữa khoảng 150 nước Thành viên WTO. WTO là sân chơi vì quyền lợi kinh tế, thương mại nên các nước sẽ không ngần ngại khởi kiện chúng ta khi họ thấy quyền lợi của họ bị xâm phạm và ngược lại thì chúng ta cũng cần nhanh chóng học hỏi các kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết để cũng khởi kiện các nước khi quyền lợi của chúng ta bị xâm phạm. Tức là cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) của WTO là “cái gậy” mà nó có thể được người  khác sử dụng để vụt mình hay mình sử dụng để vụt người khác khi có những tranh chấp, bất đồng. DSM có tác động rất lớn tới các nước tham gia vào vụ kiện, nhất là nước thua kiện: một vấn đề được thảo luận nhiều là vấn đề chủ quyền quốc gia khi một đạo luật hay một bản án nào đó của nước Thành viên bị tuyên là có vi phạm WTO. Chính vì vậy, khi gia nhập WTO, chúng ta cũng cần tính tới các tình huống này, kể cả việc cân nhắc xem địa vị pháp lý của các phán quyết của DSM là như thế nào. Hơn nữa, do các khuyến nghị và phán quyết của WTO làm rõ và có lẽ cả phát triển nhiều quy định của WTO nên việc làm quen và nghiên cứu cơ chế này sẽ giúp Việt Nam hiểu đúng được các nghĩa vụ của mình, nhận biết xu thế phát triển của pháp luật thương mại quốc tế hiện đại. Cuối cùng việc tìm hiểu DSM của WTO cũng giúp chúng ta học hỏi và tham khảo nhiều nguyên tắc và quy định thích hợp, chẳng hạn như các quy định về minh bạch hoá tố tụng, kể cả toàn văn tất cả các phán quyết, Cơ quan xét xử phúc thẩm chỉ xem xét các vấn đề áp dụng pháp luật, tiêu chuẩn, trình độ của những người tham gia xét xử để bảo đảm tính đúng đắn và khách quan của phán quyết...Cuối cùng, là nước đi sau và tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế vào thời điểm khi các quy tắc và chuẩn mực của pháp luật thương mại quốc tế, kể cả các quy định về giải quyết tranh chấp về cơ bản đã được định hình, để tham gia có hiệu quả vào cuộc chơi WTO thì chúng ta cần chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, trong đó không thể không có việc nhanh chóng xây dựng một đội ngũ chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà chúng ta đang rất thiếu và yếu. Công việc xây dựng đội ngũ này cần bắt đầu càng sớm càng tốt. Một điều cần cân nhắc là tham gia vào tranh chấp trong WTO là rất tốn kém và phức tạp nên việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cũng là quan trọng. Việc gia nhập WTO không nên tách rời khỏi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ thành viên của tổ chức này mà về vấn đề này thì "cái gậy" của cơ chế giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng. Đó cũng là một trong các thách thức lớn của Việt Nam khi gia nhập WTO.

DSCR; Debt Service Coverage Ratio / Hệ Số Năng Lực Trả Nợ

Có thể khẳng định đây là một trong những chỉ số tài chính quan trọng nhất khi đánh giá và thẩm định năng lực tài chính doanh nghiệp. Tầm quan trọng của nó vượt xa những thứ hay ho và rất "kiểu cách", "thời thượng" như P/E hay M/B. Trên thực tế, doanh nghiệp theo một trong những nguyên lý quan trọng nhất của kế toánđược nhìn qua lăng kính "Going Concern" hoặc là "Continuity." Điều này có nghĩa là, trước khi đánh giá doanh nghiệp có tốt, tình trạng có hấp dẫn, dẫn tới cổ phiếu có xứng đáng giá cao, hay dự án có đáng được tài trợ hay không, chúng ta buộc lòng phải nhận thức được liệu doanh nghiệp có tồn tại được hay không, hiểu theo nghĩa có lành mạnh tài chính hay không. Lành mạnh tài chính cũng được hiểu ở nghĩa hẹp và thông dụng là liệu năng lực tài chính của doanh nghiệp có cho phép thanh toán được các khoản nợ tới hạn hay không. Mọi luật pháp phản ánh nguyên tắc kinh tế thị trường đều có quyền phán xét phá sản một doanh nghiệp không có năng lực trả nợ đáo hạn, sau một khoảng thời gian thông báo trước. DSCR đơn giản là cho biết tổng số tiền mặt được phép sử dụng để trả nợ của doanh nghiệp sẽ bằng bao nhiêu lần tổng số công nợ doanh nghiệp sẽ phải trả tại một thời điểm. Công thức tính: Nợ tới hạn (Total debt to service) bao gồm cả khoản nợ phải trả, cộng với phần của nợ dài hạn sẽ phải trả của kỳ đó. DSCR đặc biệt có ý nghĩa trong dự báo và mô phỏng tài chính vận hành trong tương lai. DSCR nhỏ hơn 1 ngụ ý xuất hiện một dòng tiền âm. Ví dụ, DSCR=0,90 có nghia thu nhập ròng từ hoạt động sản xuất kinh doanh (net operating income) chỉ đủ để trang trải 90% các khoản nợ trong kỳ.

Drawing Account / Tài Khoản Vãng Lai

Tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia: Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữ người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước. Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ). Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ. Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do IMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm: Cán cân thương mại hàng hóa Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại phi hàng hóa Cán cân dịch vụ Vận tải Du lịch Các dịch vụ khác Cán cân thu nhập Kiều hối Thu nhập từ đầu tư Các chuyển khoản Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong tính toán này. Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này. Cùng với tài khoản vốn, và thay đổi trong dự trữ ngoại hối, nó hợp thành cán cân thanh toán. Tài khoản vãng lai thặng dư khi quốc gia xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, hay khi tiết kiệm nhiều hơn đầu tư. Ngược lại, tài khoản vãng lai thâm hụt khi quốc gia nhập nhiều hơn hay đầu tư nhiều hơn. Mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hàm ý quốc gia gặp hạn chế trong tìm nguồn tài chính để thực hiện nhập khẩu và đầu tư một cách bền vững. Theo cách đánh giá của IMF, nếu mức thâm hụt tài khoản vãng lai tính bằng phần trăm của GDP lớn hơn 5, thì quốc gia bị coi là có mức thâm hụt tài khoản vãng lai không lành mạnh.     2. Tài khoản vãng lai trong nghiệp vụ ngân hàng: Trong hoạt động ngân hàng, một tài khoản vãng lai là một tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nào đó, với mục đích cung ứng một cách nhanh chóng và an toàn phương tiện tiếp cận thường xuyên tới các món tiền gửi theo nhu cầu, thông qua một loạt các kênh khác nhau.Tài khoản vãng lai cho phép chủ tài khoản thực hiện hay nhận các khoản thanh toán bằng một trong các hình thức sau, tùy theo quốc gia:  Tiền mặt  Séc và Phiếu gửi tiền (giấy tờ cam kết thanh toán)  Chuyển khoản (giro, ký quỹ trực tiếp)  Ghi nợ trực tiếp/ghi có trực tiếp (tại Anh và các nước trong khối Thịnh vượng chung người ta sử dụng hệ thống BACS-Bankers Automated Clearing Services hay CHAPS-Clearing House Automated Payment System).  Chỉ thị hiện hành (chỉ dẫn từ phía chủ tài khoản đối với ngân hàng để chuyển một khoản tiền nhất định sau một khoảng thời gian nhất định sang một/nhiều tài khoản khác)  Thẻ ghi nợ hay thẻ ATM  EFTPOS (thanh toán trực tiếp không sử dụng tiền mặt tại cửa hàng)  Thông qua hệ thống SWIFT (tài khoản của ngân hàng ở ngân hàng nước ngoài để chuyển khoản). Tất cả các tài khoản vãng lai đều cung cấp các danh sách liệt kê các khoản giao dịch tài chính, hoặc là dưới dạng bản kê tài khoản hoặc là trong sổ tiền gửi. Có một số phương thức để tiếp cận các khoản tiền gửi tại tài khoản vãng lai: Các chi nhánh của ngân hàng Máy rút tiền tự động (ATM) Thông qua điện thoại và ngân hàng trực tuyến Nghiệp vụ ngân hàng thư Các cửa hàng và các nhà buôn cung cấp cách tiếp cận EFTPOS. Không giống như các tài khoản tiền gửi tiết kiệm trong đó lý do chủ yếu để gửi tiền là để sinh lãi, chức năng chính của tài khoản vãng lai là giao dịch, vì thế phần lớn các nhà cung cấp tài khoản vãng lai hoặc là không trả tiền lãi hoặc là trả lãi ở mức lãi suất thấp hơn trên số dư có. Phí dịch vụ:   Chính sách tính phí để thực hiện các giao dịch tài chính phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, bao gồm các mức lãi suất tổng thể đối với việc cho vay và tiết kiệm của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào giá trị của giao dịch và số lượng các kênh tiếp cận nguồn tiền gửi mà tổ chức tài chính đó cung cấp. Điều đó giải thích tại sao các loại ngân hàng ảo, hoạt động với rất ít hoặc không có các chi nhánh lại có thể đưa ra các nghiệp vụ ngân hàngvới mức phí thấp hoặc miễn phí cũng như giải thích tại sao ở một số quốc gia thì không có các khoản phí giao dịch nhưng mức lãi suất cho vay rất cao lại là một tiêu chuẩn. Các khoản phí giao dịch tài chính có thể được tính theo từng khoản mục giao dịch hoặc tính theo tỷ lệ cố định cho một số lượng giao dịch nhất định nào đó ( thông thường tính trên cơ sở hàng tháng). Thông thường, đối với một loạt các loại khách hàng nào đó, tổ chức tài chính có thể không thu phí đối với các giao dịch tài chính cơ bản, chẳng hạn như đối với tầng lớp sinh viên, thanh niên, người già hay các khách hàng có số tiền gửi rất lớn chẳng hạn. Một số tổ chức tài chính còn đưa ra các giao dịch miễn phí nếu khách hàng duy trì số dư trung bình rất cao trong tài khoản của mình. Các khoản phí dịch vụ khác được áp dụng đối với sự bội chi, hay khi số dư tiền gửi không đủ để thanh toán séc, cũng như khi sử dụng mạng liên ngân hàng bên ngoài v.v. Tại các quốc gia mà ở đó không có các khoản phí dịch vụ đối với các giao dịch thì người ta lại thu phí hàng năm đối với các dịch vụ tuần hoàn, chẳng hạn như thẻ ghi nợ.

Tài Khoản Vãng Lai (Drawing Account) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Draft / Bill Of Exchange / Hối Phiếu

Hối phiếu là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một bên kí phát đòi tiền bên kia. Người kí phát hối phiếu thường là người xuất khẩu kí đòi tiền người nhập khẩu hoặc đại lí của người nhập khẩu trả cho một số tiền xác định ghi trên bề mặt hối phiếu. Có hai loại hối phiếu: Hối phiếu trả tiền ngay (sight draft); Hối phiếu trả sau (time draft).

Downside Risk / Rủi Ro Sụt Giá

Rủi ro ước lượng của một vụ đầu tư, được tính bằng cách đánh giá tổng thiệt hại có thể xảy ra trong trường hợp xấu nhất. Có rất nhiều yếu tố tham gia vào việc đánh giá này, bao gồm giá trị sổ sách, thu nhập tịnh cũng như các điều kiện chung của thị trường. Rủi ro thua lỗ của một công ty khi hoạt động kinh doanh suy giảm. Ví dụ, một nhà máy sản xuất ô tô sẽ phải chịu rủi ro sụt giá khi nền kinh tế suy sụp nếu họ không thể giảm bớt chi phí cố định của mình. Ước lượng khả năng chứng khoán sụt giá khi các điều kiện thị trường trở nên xấu đi. Đơn giản có thể coi đây là khoản tiền bạn có thể mất vì chứng khoán hay các dạng đầu tư khác. Người ta thường coi nặng rủi ro sụt giá hơn là cơ hội có thể kiếm lãi.

Dow Jones Wilshire 5000& 4500 / Chỉ Số Dow Jones Wilshire 5000 & 4500

Chỉ số kết hợp DJW 5000 đại diện cho tất cả các cổ phiếu của công ty có trụ sở tại Mỹ, phát hành chứng khoán để giao dịch trên các thị trường, và có mức giá sẵn sàng cho giao dịch . Chỉ số Dow Jones Wilshire 4500 là chỉ số phụ của chỉ số DJW 5000, trong đó các công ty trong nhóm S&P 500 không được tính. Chính vì những tiêu chí trên, chỉ số DJW 5000 bao gồm hầu như toàn bộ cổ phần phổ thông, REITs và cổ phần của công ty hợp danh loại Limited Partnership, đầu tiên được giao dịch trên NYSE, NASDAQ, hoăck American Stock Exchange. Công thức tính chỉ số:  Trong đó: M số công ty được tínhPi giá cổ phần của công ty iNj số cổ phần của công ty i Một điểm của chỉ số tương đương với khoảng 1 tỉ USD. Vì vậy, lấy giá trị của chỉ số nhân với 1 tỉ đôla sẽ có giá trị của toàn bộ thị trường chứng khoán Mỹ. Dow Jones thành lập hai phiên bản của chỉ số, một phiên bản dựa trên toàn bộ giá trị vốn hóa thị trường, và một chỉ số dựa trên mức vốn hóa thị trường đã điều chỉnh theo số cổ phiếu thực tế được giao dịch.

Dow Jones Stoxx® 600 Index / Chỉ Số Dow Jones Stoxx® 600

Chỉ số Dow Jones STOXX 600 có nguồn gốc từ chỉ số Dow Jones STOXX toàn thị ttrường (TMI) và là một bộ phận của chỉ số Dow Jone STOXX 1800 toàn cầu. Với số lượng cố định 600 công ty, chỉ số Dow Jones STOXX 600 đại diện cho các công ty có mức vốn hóa nhỏ (200 công ty), vừa (200 công ty) và lớn (200 công ty) ở khắp 18 quốc gia châu Âu như: Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ai-Len, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Vương quốc Anh.

Dow Jones Index / Chỉ Số Dow Jones

Số chỉ báo giá cổ phiếu trên sở giao dịch chứng khoán phố wall. Đó là thuật ngữ tương ứng của Mỹ cho chỉ số cổ phiếu thường của thời báo tài chính.

Doubtful Debt / Nợ Khó Thu Hồi

Thuật ngữ này thường được sử dụng trong các ngành như ngân hàng. Đây là loại nợ khi tất cả các biện pháp đã được sử dụng với hy vọng thu hồi được khoản nợ, nhưng khoản nợ vẫn chưa được trả. Vì vậy, khi xảy ra nợ dạng này, nhà cung cấp tín dụng không thể làm gì được và khoản nợ sẽ được chuyển cho các công ty chuyên đòi nợ để giải quyết sao cho phù hợp với quy định của luật pháp. Mặc dù cũng là khoản nợ rất khó đòi, nhưng nợ khó thu hồi khác so với nợ xấu. Nợ khó thu hồi được ghi dưới dạng chi phí của các tổ chức tài chính như ngân hàng. Chính vì vậy, nợ dạng này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi luận của tổ chức. Mặt khác, nợ xấu là nợ khó thu hồi bị xóa khỏi danh sách các khoản nợ phải thu. Nợ khó thu hồi trở thành nợ xấu khi không còn cách nào để thu hồi lại được khoản nợ.

Double-Coincidence Of Wants / Sự Hội Tụ Lặp Về Nhu Cầu; Sự Trùng Hợp Nhu Cầu

Nếu việc mua bán được tiến hành theo phương pháp hàng đổi hàng thì cần thiết phải có sự trùng hợp hai lần nhu cầu giữa hai bên tham gia trao đổi.

Double Top / Double Top ( Hai Đỉnh)

Hai đỉnh ( Hai giá cao nhất liên tiếp nhau) - một thuật ngữ phân tích kỹ thuật cho hai lần tăng liên tiếp với mức giá tương tự trong chứng khoán . Trên biểu đồ, điều này có vẻ gì đó giống như một hình chữ M. Mức giá cụ thể ở hai giá cao nhất liên tiếp nhau xảy ra được xem là một mức kháng cự đối với cổ phiếu, bởi vì các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng các chứng khoán đang gặp khó khăn tăng cao trên mực đó , trái nghĩa với hai đáy ( hai giá thấp nhất liên tiếp nhau).

Double Taxation And Double Taxation Relief / Đánh Thuế Hai Lần Và Tránh Đánh Thuế Hai Lần

Một cá nhân hay tổ chức có thu nhập ở nước ngoài có thể phải chịu THUẾ thu nhập đó ở cả nước ngoài và nước bản địa.

Double Taxation / Đánh Thuế Đúp

Việc đánh thuế đúp (còn gọi là đánh thuế hai lần) có thể là sức cản lớn cho các giao dịch vốn và lao động quốc tế. Do vậy, nhiều nước đã thương lượng để có được một hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Đánh thuế đúp được định nghĩa như sau: đánh thuế thu nhập và lợi nhuận trước hết ở trong nước phát sinh ra khoản thu nhập và lợi nhuận này, về sau đó, khi các khoản thu nhập và lợi nhuận này được chuyển về nước của người đó lại bị đánh thuế một lần nữa.

Double Standard System / Chế Độ Hai Bản Vị

Chế độ hai bản vị - Double Standard SystemChế độ hai bản vị là chế độ tiền tệ mà pháp luật của nhà nước quy định hai loại kim loại vàng và bạc đồng thời làm kim loại tiền tệ, hai loại tiền vàng và tiền bạc được tự do đúc và có hiệu lực pháp lý thanh toán vô hạn.Căn cứ vào cách quy định về mối quan hệ trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc mà chia chế độ hai bản vị làm hai loại cụ thể:1. Chế độ bản vị song song: Là chế độ hai bản vị mà trong đó quy định tỷ lệ trao đổi giữa tiền vàng và tiền bạc trong lưu thông phụ thuộc vào giá trị thực tế của lượng vàng và lượng bạc chứa trong hai đồng tiền đó quyết định. Do đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tất nhiên được thể hiện bằng chỉ hai loại giá cả: Giá cả tính bằng tiền vàng và giá cả tính bằng tiền bạc. Hai loại giá cả này sẽ thay đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kim lại vàng và kim loại bạc hình thành tự phát trên thị trường, vì vậy giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ bị hỗn loạn và dẫn đến sự hỗn loạn của thị trường2. Chế độ bản vị kép: Là chế độ hai bản vị mà trong đó quy định cụ thể tỷ giá trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc. Thông thường người ta gọi chế độ hai bản vị chủ yếu là chỉ chế độ bản vị kép này.Trong chế độ bản vị kép, Nhà nước quy định tỷ giá cố định giữa tiền vàng và tiền bạc để khắc phục tình trạng không ổn định của lưu thông hàng hóa do chế độ bản vị song song gây ra, nhưng lại xuất hiện hiện tượng "tiền kém trục xuất tiền tốt" ra khỏi lưu thông làm cho chế độ tiền tệ bị hỗn loạn nghiêm trọng.Khi hai loại tiền có giá trị thực tế không bằng nhau mà giá trị danh nghĩa của chúng được Nhà nước quy định tách rời khỏi giá trị thực của nó và cùng lưu thông theo giá trị danh nghĩa đó thì tiền có giá trị thực tế cao hơn (gọi là tiền tốt) sẽ bị đem nấu chảy thành kim loại để bán, do đó loại tiền này dần dần rút khỏi lưu thông, còn loại tiền kém là loại tiền có giá trị thực tế thấp hơn thì được đúc ra để đua vào lưu thông, do đó tràn ngập thị trường. Dưới tác động của quy luật này, thực tế trong chế độ hai bản vị kép chỉ còn một đồng tiền có giá trị thấp trong lưu thông. Đây là tiền đề cho sự ra đời của chế độ một bản vị sau này.

Door To Door Selling / Bán Hàng Tận Cửa

Bán hàng tận cửa là một cách bán hàng mà người bán đi tới từng nhà một để bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Bán hàng tận cửa thường diễn ra vào buổi chiều hoặc tối khi mọi người ở nhà.Ở Anh, bán hàng tận cửa phổ biến nhất với sản phẩm Gas.Ở Mỹ, bán hàng tận cửa bị coi là phạm pháp.Đối với kiểu bán hàng này, sản phẩm khá đa dạng. Nhưng chủ yếu là những vật dụng và yếu phẩm như dụng cụ lau giặt, thực phẩm, sách báo, và các vật dụng thiết bị gia đình...v.v

Doolittle Method / Giá Của Hãng Khống Chế

Nếu việc mua bán được tiến hành theo phương pháp hàng đổi hàng thì cần thiết phải có sự trùng hợp hai lần nhu cầu giữa hai bên tham gia trao đổi.

Domestic Credit Expansion / Tín Dụng Trong Nước (Dce)

Một chỉ số về thay đối tiền tệ trong một nền kinh tế, do QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ đưa ra và ủng hộ trong những năm 1960, như một thước đo hiện hành đúng hơn về các tác nhân mở rộng trong hệ thống tiền tệ so với những thay đổi tính được trong dung lượng tiền.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55