Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Cambridge School Of Economics / Trường Phái Kinh Tế Học Cambridge

Một nhóm các nhà kinh tế học bị ảnh hưởng của những bài viết và mối liên hệ với A.MARSHALL.

Callable Bond / Redeemable Bond / Trái Phiếu Có Thể Thu Hồi Trước Thời Hạn

Đây là loại trái phiếu mà người phát hành có quyền thu hồi trước ngày đáo hạn, với một số điều kiện nhất định. Khi phát hành, người mua sẽ được giải thích rằng khi nào trái phiếu có thể bị thu hồi và mức giá vào lúc đó. Trong hầu hết các trường hợp, giá sẽ cao hơn mệnh giá của trái phiếu và giá sẽ tăng lên trước khi trái phiếu bị thu hồi. Một công ty thường thu hồi trái phiếu nếu trái phiếu đó đang được trả lợi suất cao hơn lãi suất trên thị trường. Về cơ bản, công ty có thể tái phát hành những trái phiếu tương tự với mức lợi suất thấp hơn để tiết kiệm chi phí. Thật không may, những tình huống tương tự cũng xảy ra khi giá trái phiếu tăng lên mức cao nhất; lãi suất ngân hàng giảm từ khi phát hành trái phiếu khiến giá của trái phiếu tăng lên. Trong nhiều trường hợp, công ty sẽ có quyền thu hồi trái phiếu với giá thấp hơn mức giá thị trường. Nếu trái phiếu bị thu hồi, người giữ trái phiếu sẽ được thông báo bằng email và không có quyền nào khác. Trái phiếu sẽ không còn lợi suất ngay sau khi bị thu hồi. Các công ty cũng có thể thông báo trên các ấn ẩm phẩm tài chính để nhà đầu tư trái phiếu được biết. Nhìn chung, các trái phiếu có thể thu hồi sẽ mang theo cả quyền bảo vệ thu hồi. Điều này có nghĩa là trong một khoảng thời gian nào đó trái phiếu sẽ không thể bị thu hồi.

Callable Bond / Trái Phiếu Có Thể Mua Lại

Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu có kèm điều khoản được nhà phát hành mua lại trước thời gian đáo hạn. Nói như vậy có nghĩa là nhà phát hành có quyền nhưng không bắt buộc phải mua lại loại trái phiếu này. Khi phát hành, trái phiếu này sẽ ghi rõ khi nào nó có thể được mua lại và giá mua lại là bao nhiêu. Trong hầu hết các trường hợp, giá mua lại thường cao hơn mệnh giá và nó càng tăng cao đối với những trái phiếu được mua lại sớm hơn. Đối với  những thị trường trái phiếu có tỷ suất sinh lợi cao, người ta có thể đòi hỏi một phần bù rất lớn. Một công ty thường mua lại trái phiếu nếu nó trả lãi cao hơn lãi suất thị trường. Về nguyên tắc, công ty có thể  tái phát hành cùng loại trái phiếu đó với lãi suất thấp hơn để tiết kiệm khoản lãi phải trả. Không may, điều này cũng giống như trường hợp trái phiếu có giá cao nhất và lãi suất giảm dần kể từ lúc trái phiếu được phát hành, trong khi đó giá thị trường của nó lại tăng dần. Trong nhiều trường hợp, công ty có quyền mua lại trái phiếu với giá thấp hơn giá thị trường. Nếu một trái phiếu được mua lại, nhà đầu tư sẽ được thông báo bằng email cũng như nhà đầu tư sẽ không có sự lựa chọn nào khác. Trái phiếu sẽ ngừng trả lãi ngay sau khi nó được mua lại. Các công ty  cũng thường thông báo cho nhà đầu tư biết thông qua các trang báo tài chính lớn. Nói chung thì những” trái phiếu có thể mua lại “sẽ có kèm theo một số điều gọi là “điều khoản bảo vệ mua lại”. Nó có nghĩa là trái phiếu có thể sẽ không được mua lại trong khoảng thời gian ban đầu xác định, thường là khoảng hai đến ba năm. Để hiểu rõ hơn chúng ta xem xét một số điều dưới đây: Đối với những gì phải trả cho một” trái phiếu có thể mua lại “, là loại trái phiếu có lãi suất cao, nhà phát hành có một quyền chọn: Nếu ngay tại thời điểm mua lại, lãi suất thị trường đang đi xuống, anh ta sẽ có khả năng  vay tiền với mức lãi suất thấp hơn để mua lại trái phiếu, và vì thế anh ta sẽ quyết định mua lại trái phiếu. Về phía nhà đầu tư, nếu so với việc mua một trái phiếu không thể mua lại thì nhà đầu tư sẽ được lợi nhiều hơn khi mua” trái phiếu có thể mua lại” vì được trả lãi cao. Tuy nhiên mặt khác , nếu lãi suất đi xuống, trái phiếu sẽ được mua lại và do đó anh ta chỉ có thể đầu tư với mức lãi suất thấp hơn. Sự so sánh này cho thấy nếu bạn bán một quyền chọn, bạn sẽ nhận trước một phần bù, nhưng nếu thực hiện quyền chọn thì có khả năng là gía trái phiếu của bạn bị giảm.

Đây là loại trái phiếu mà người phát hành có quyền thu hồi trước ngày đáo hạn, với một số điều kiện nhất định. Thông thường, sẽ có 1 khoản phí bảo hiểm trả cho chủ sở hữu khi trái phiếu bị mua lại. Thuật ngữ này cũng có thể được gói là " Trái phiếu hoàn lại" Lý do chính của việc thu hồi trái phiếu là do lãi suất thấp . Nếu lãi suất giảm so với lần đầu tiên công ty phát hành trái phiếu, nó đồng nghĩa với việc công ty có thể tái phát hành cùng loại trái phiếu đó với lãi suất thấp hơn để tiết kiệm khoản lãi phải trả.

Call Report / Báo Cáo Theo Yêu Cầu

1. Báo cáo theo quý về thu nhập và tình hình hoạt động theo yêu cầu của cơ quan giám sát của các định chế tài chính: Tổng Kiểm toán của Ngân hàng Quốc gia; các Ngân hàng Dự trữ Liên bang đối với các ngân hàng tiểu bang thành viên; hay các Công ty Bảo hiểm Tiền gởi Liên bang, đối với các ngân hàng được bảo hiểm không phải ngân hàng thành viên; hay các chi nhánh ngân hàng tiểu bang báo cáo cho các ngân hàng tiểu bang và công ty ủy thác. Báo cáo thu hồi được công bố bởi FDIC (www.fdic.gov) khoảng một tháng sau thời hạn lập hồ sơ hàng quý. 2. Báo cáo bằng văn bản của bên cho vay về sự phát triển các doanh nghiệp mới.

Call Ratio Backspread / Sai Biệt Về Hệ Số Quyền Chọn Mua

Là một chiến lược đầu tư trong thị trường giá tăng khi kết hợp các quyền chọn để tạo ra sự chênh lệch giữa khoản lỗ giới hạn và mức lợi nhuận tổng cộng. Thông thường điều này được tạo ra bằng cách bán một quyền chọn mua và sau đó sử dụng số tiền bán quyền thu được để mua lại nhiều quyền chọn mua hơn với giá thực hiện cao hơn. Chiến lược này tạo ra lợi nhuận không giới hạn vì nhà đầu tư đã mua nhiều quyền chọn mua hơn so với việc bán quyền chọn mua ban đầu.  Một nhà đầu tư sử dụng chiến lược này có thể sẽ bán ít quyền chọn mua hơn với giá thấp hơn giá thực hiện và mua vào nhiều quyền chọn mua hơn với giá cao hơn giá thực hiện. Các hệ số phổ biến nhất được sử dụng trong chiến lược này là 1 quyền chọn mua ngắn hạn được kết hợp với 2 quyền chọn mua dài hạn, hay 2 quyền chọn mua ngắn hạn được kết hợp với 3 quyền chọn mua dài hạn. Nếu chiến lược này được thiết lập theo hình thức tín dụng thì nhà đầu tư lời rất ít trong trường hợp giá của chứng khoán cơ sở giảm một cách đột ngột.

Call Provision / Điều Khoản Về Lệnh Thu Hồi

Call Provision tức: Điều khoản về lệnh thu hồi. Thuật ngữ này dùng để nói về  Điều khoản thoả thuận giữa công ty phát hành trái phiếu và cổ phần ưu đãi với người mua về việc thu hồi lại trái phiếu và cổ phần trước ngày đáo hạn với giá đặc biệt trong trường hợp đặc biệt.

Call Protection / Bảo Vệ Lệnh Thu Hồi

1. Các điều khoản trong bản giao kèo trái phiếu nợ, giới hạn việc thu lại trái phiếu có thể thu hồi trong một giai đoạn nhất định, thường là mười năm đối với trái phiếu đô thị và trái phiếu công ty. 2. Đặc điểm chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố, được tạo ra nhằm giảm đến mức tối thiểu rủi ro trong thanh toán trả trước suốt thời kỳ cố định lãi suất. Nếu tiền vay được trả trước trong giai đoạn này, vốn sẽ không được chuyển ngay cho nhà đâu tư. Những người mua chứng khoán được đảm bảo bằng cầm cố thích đặc điểm nàu vì nó cung cấp dòng tiền bền vững hơn. Xem CALAMITY CALL.

Call Price / Giá Mua Thu Hồi

Là giá mà trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi có thể được mua lại bởi người phát hành. Giá này được xác định tại thời điểm phát hành chứng khoán. Còn được gọi là Redemption Price (giá chuộc lại). Ví dụ, công ty TSJ Sports Conglomerate phát hành 100000 cố phiếu ưu đãi với mệnh giá $100 với điều khoản lệnh gọi(Call provision) tổng cộng là $100. Điều đó có nghĩa là nếu TSJ muốn thực hiện quyền mua lại cổ phiếu, giá thu hồi theo lệnh gọi sẽ là $110. Một công ty có thể thực hiện quyền mua lại cổ phiếu ưu đãi nếu nó không muốn tiếp tục trả cổ tức trên cổ phiếu. Công ty có thể lựa chọn để làm điều đó nhằm mục đích tăng thu nhập cho cổ đông thường. Để bù đắp cho người sở hữu trái phiếu hay chứng khoán bị mất khoản thu nhập và quyền sở hữu, giá thu hồi theo lệnh gọi thường cao hơn mệnh giá. Chênh lệch này là phí trả cho lệnh gọi (call premium).

Là giá mà trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi có thể được mua lại bởi người phát hành. Giá này được xác định tại thời điểm phát hành chứng khoán. Còn được gọi là Redemption Price (giá chuộc lại) Ví dụ, công ty TSJ Sports Conglomerate phát hành 100000 cố phiếu ưu đãi với mệnh giá $100 với điều khoản lệnh gọi(Call provision) tổng cộng là $100. Điều đó có nghĩa là nếu TSJ muốn thực hiện quyền mua lại cổ phiếu, giá thu hồi theo lệnh gọi sẽ là $110Một công ty có thể thực hiện quyền mua lại cổ phiếu ưu đãi nếu nó không muốn tiếp tục trả cổ tức trên cổ phiếu. Công ty có thể lựa chọn để làm điều đó nhằm mục đích tăng thu nhập cho cổ đông thường

Call Premlum / Phí Trả Cho Hợp Đồng

Phí mua Call Option - Phí trả cho hợp đồng. CALL (chiều đi lên) Số tiền mà người mua hợp đồng Call option phải trả cho người bán để có quyền mua một loại chứng khoán hay chỉ số chứng khoán theo giá đã ấn định và theo thời hạn đã ấn định. Trong lãnh vực trái phiếu (ưu đãi, khả hoán) đây là số tiền trên mệnh giá mà nhà phát hành phải trả cho nhà đầu tư để thu hồi trái phiếu trước thời hạn.

Call Option / Quyền Chọn Thu Hồi

1. Quyền của công ty phát hành trái phiếu, thu hồi trái phiếu theo giá trị hiện hành trước ngày đáo hạn. Cũng được gọi là điều khoản thu hồi. 2. Hợp đồng cho phép người mua quyền chọn mua các tiền tệ, các giao dịch tài chính tương lai hay chứng khoán theo giá đã định, được gọi là giá thực hiện hợp đồng (exercise price).

Call Money / Tiền Sẵn Sàng Để Sử Dụng

Tiền sẵn sàng để sử dụng - Tiền để sẵn Ký thác hoạt kỳ, số ký thác đầu tiên đặt trong quỹ thị trường tiền tệ ngắn hạn (money - market funds). Nó còn được gọi là money at call, là tiền có thể chi trả lại theo yêu cầu. Tại Đức, Pháp, Nhật và Anh, tiền có sẵn là tài sản dự trừ khi được ngân hàng trung ương đặt để cho cơ quan chiết khấu hay các tổ chức tài chánh tương tự.

Call Feature / Lệnh Thu Hồi

Call feature là thuật ngữ dùng chỉ đặc tính có lệnh gọi (lệnh thu hồi). Đây là một phần trong thoả thuận giữa nhà phát hành trái phiếu với người mua được gọi là indenture (giao kèo), trong đó có ghi thời biểu và giá thu hồi trái phiếu trước thời hạn. Tuy nhiên, hầu hết trái phiếu công ty và trái phiếu nhà nước thì không có đặc tính này.

Call Deposit / Tiền Gửi Không Kỳ Hạn

Call Deposit: Tiền gửi không kỳ hạn Với khoản tiền gửi không kỳ hạn khách hàng không bị ràng buộc về thời gian khi gửi tiền vào ngân hàng. Khách hàng có thể rút tiền vào bất kỳ lúc nào sau khi đã thông báo cho ngân hàng về thời gian và số tiền sẽ rút. Tiền gửi không kỳ hạn nhận được tỷ lệ lãi suất thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn. Tuy nhiên nếu  so sánh với các loại tiền gửi khác trong cùng thời gian thì tiền gửi không kỳ hạn có mức lãi suất thấp hơn nhưng lại linh động hơn về thời gian. Thông thường lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn được quy định như sau: Lãi suất sẽ được tính trên tỷ lệ lãi suất tiền gửi không kỳ hạn tương ứng đã được các ngân hàng công bố. Tỷ lệ lãi suất sẽ được tính lại trong một trong các trường hợp dưới đây: Thời hạn thực tế của tiền gửi ngắn hơn thời hạn yêu cầu tối thiểu cho mỗi khoản tiền gửi không kỳ hạn. Nếu như khách hàng rút tiền mà không thông báo trước cho ngân hàng thì khách hàng chỉ nhận được mức lãi suất thấp nhất của tiền gửi không thời hạn. Khách hàng rút tiền trước hoặc sau ngày thông báo, thì khách hàng chỉ nhận được mức lãi suất thấp nhất của tiền gửi không thời hạn. Khách hàng rút tiền nhiều hơn hoặc ít hơn số đã thông báo cho ngân hàng thì số chênh lệch ấy sẽ được hưởng lãi suất theo mức thấp nhất của tiền gửi không thời hạn. Khoản tiền rút khỏi ngân hàng ít hơn mức yêu cầu tối thiểu của ngân hàng. Nếu khách hàng rút lại yêu cầu rút tiền sau khi thủ tục rút tiền đã hòan tất hoặc sau khi thời hạn thông báo cho ngân hàng, thì ngân hàng không trả lãi trong khoảng thời gian thông báo đó.

Call Credit / Tín Dụng Gọi Trả

Call Credit Là loại tín dụng mà Ngân hàng cho vay không kỳ hạn, khi nào cần thu hồi vốn về, Ngân hàng sẽ thông báo trước cho người đi vay một số ngày nhất định. Tín dụng gọi trả là một trong những nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại. Thông qua loại tín dụng này, ngân hàng sử dụng triệt để các nguồn vốn huy động được, tránh để cho vốn chết. Một số đặc điểm của tín dụng gọi trả: Lãi suất thường thấp Xác định thời gian chống gọi trả. Người đi vay muốn thời gian này càng dài càng tốt, ngược lại, Ngân hàng lại giới hạn thời gian này lại. Điều này phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa đôi bên. Tín dụng gọi trả ra đời xuất phát từ lợi ích của Ngân hàng, do đó, điều kiện vay đối với loại tín dụng này cũng dễ dàng hơn.

Call Auction Continuous Auction / Khớp Lệnh Định Kỳ-Khớp Lệnh Liên Tục

Trên thị trường chứng khoán, việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục. Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction) là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định. Tức là, khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoánnào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân theo một số nguyên tắcnhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh, khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.  Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction) trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục cũng cao hơn.  Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn được về mức giá giao dịch - Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao dịch khớp lệnh liên tục. Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình. Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội, trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao dịch được ở mức cao nhất.

Trên thị trường chứng khoán, việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục. Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction) là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định. Tức là, khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoánnào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân theo một số nguyên tắcnhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh, khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.  Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction) trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục cũng cao hơn.  Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn được về mức giá giao dịch - Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao dịch khớp lệnh liên tục. Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình. Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội, trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao dịch được ở mức cao nhất.

Call / Lệnh Thu Hồi Hợp Đồng Option Theo Chiều Lên

Call có thể hiểu là: Lệnh thu hồi hợp đồng option theo chiều lên. Thuật ngữ này có nghĩa: 1. Ngân hàng người cho vay yêu cầu chi trả sớm số tiền vay bởi vì người vay đã không làm đúng các cam kết trong hợp đồng như duy trì số bảo hiểm tương xứng hay chi trả đúng định kỳ, hoặc trong tiền vay hoạt kỳ (Demand Loan) người cho vay thực hiện quyền của người cho vay là yêu cầu chi trả lại đủ số tiền vay vào bất kỳ thời điểm nào. 2. Lệnh gọi của tổng kiểm soát được tổng kiểm soát viên tiền tệ gửi cho ngân hàng quốc gia để lập báo cáo theo lệnh gọi (Call Report) hay báo cáo tình hình (Report of Condition). 3. Lệnh của cơ quan lập pháp gởi cho một ngân hàng đang khó khăn yêu cầu ngân hàng huy động thêm vốn, đôi khi gọi là lệnh gọi vốn. 4. Quyền thu hồi trái phiếu đang lưu hành trước khi đáo hạn. Thời điểm đầu tiên khi nhà phát hành có thể ra lệnh gọi trái phiếu có ấn định trong tập quảng bá mỗi kỳ phát hành trái phiếu, trong giao kèo có ghi điều khoản về lệnh gọi. 5. Quyền mua một số lượng cổ phần đã ấn định theo một giá ấn định và theo thời điềm cố định.

Calender Spread / Mua Bán Song Hành Theo Lịch

Mua và bán song hành theo lịch, là khái niệm chỉ sách lược mua bán hợp đồng options bằng cách mua 2 hợp đồng option có cùng loại chứng khoán nhưng khác ngày đáo hạn. Nếu giá điểm (exercise price= strike price = giá thi hành) giống nhau thì gọi là chênh lệch theo chiều ngang (horizontal spread); Nếu giá thi hành khác nhau thì gọi là chênh lệch theo đường chéo (diagonal spread). Nhà đầu tư lời hay lỗ là do chênh lệch giá hẹp hay rộng (ít hay nhiều).

Calendar Effect / Hiệu Ứng Niên Lịch

Đây là một tập hợp các lý thuyết xác nhận rằng một số ngày tháng hoặc thời gian nào đó trong năm sẽ có  sự biến động về giá cao hơn mức bình quân, tác động đến các chỉ số thị trường và do đó cho thấy thời gian nào là tốt hay không tốt để đầu tư. Dưới hiệu ứng niên lịch còn có các hiệu ứng cụ thể như : hiệu ứng ngày thứ 2, hiệu ứng tháng 10, hiệu ứng Halloween, hiệu ứng tháng một...Hiệu ứng tháng một là hiệu ứng trong đó xét một cách tổng thể thì giá cả của các chứng khoán tăng trong tháng một. Thông thường, người ta quy kết sự tăng giá này là do các nhà đầu tư mua vào các loại chứng  khoán mà giá của chúng vừa mới giảm xuống do việc bán ra hàng loạt của các nhà đầu tư vào cuối tháng 12 nhằm giảm khoản thuế phải nộp trên thặng dư vốn hoặc thu tiền để chuẩn bị cho các kì nghỉ...Người ta cho rằng hiệu ứng tháng một ảnh hưởng tới các doanh nghiệp có mức vốn hoánhỏ  nhiều hơn các doanh nghiệp có mức vốn hoá trung bình và lớn. Tuy nhiên xu hướng này hiện nay không còn rõ nét nữa bởi thị trường luôn có sự điều chỉnh liên tục trước các hiệu ứng. Một lý do nữa khiến cho hiệu ứng này ngày nay không còn quan trọng nhiều như trước nữa đó là ngày càng có nhiều người sử dụng các kế  hoạch nghỉ hưu (retirement plans) tạo vỏ bọc về thuế nên họ không cần bán chứng khoán vào cuối năm để giảm thuế nữa. Hiệu ứng tháng 10 là hiệu ứng thừa nhận rằng các chứng khoán có xu hướng giảm giá trong suốt tháng 10. Một vài nhà đầu tư có thể lo lắng trong suốt tháng 10 bởi đây là thời gian mà trong lịch sử, nhiều thị trường đã bị sụp đổ trong tháng này. Ngày thứ hai đen tối, thứ ba đen tối và cả thứ năm đen tối đều xảy ra vào tháng 10 năm 1929, sau đó là cuộc đại suy thoái nổi tiếng mà chúng ta đã biết. Thêm vào đó cuộc suy thoái năm 1987 được cho là bắt đầu xảy ra vào ngày 19 tháng 10, ngay sau đó chỉ số Dow đã sụt giảm tới 22.6% trong vỏn vẹn có một ngày. Ngày nay, hiệu ứng tháng 10 chủ yếu được coi là một kì vọng có tính tâm lý học hơn là một hiện tượng thực tế. Phần lớn các số liệu thống kê đều đi ngược lại với lý thuyết này. Hiệu ứng ngày thứ hai là lý thuyết cho rằng thu nhập từ thị trường chứng khoán vào ngày thứ hai sẽ tiếp nối xu hướng từ ngày thứ 6 trước đó. Vì thế, nếu ngày thứ 6 thị trường đi lên thì xu hướng này sẽ tiếp tục vào ngày thứ hai tới, sau ngày nghỉ cuối tuần. Một vài nghiên cứu đã cho thấy sự liên hệ tương tự, nhưng không có nghiên cứu nào  có thể lý giải một cách chính xác sự tồn tại của hiệu ứng ngày thứ hai. Phần lớn các bằng chứng của các hiệu ứng trên đều là giai thoại, mặc dù cũng có một số trường hợp thống kê đúng với các lý thuyết này, và thông thường thì những bằng chứng này cũng đã đủ để khiến cho nhiều nhà đầu tư tin vào hiệu ứng niên lịch.

Calculated Intangible Value - CIV / Phương Pháp CIV

Giá trị tài sản vô hình của một doanh nghiệp có thể rất lớn tuy nhiên lại thường không được thể hiện ra ngoài, bị che giấu dưới các số liệu kế toán và các chuẩn mực kế toán truyền thống. Khi hoạt động trong quá khứ của một doanh nghiệp ít nhiều không được chú ý tới, thị trường thường thường sẽ phản ứng lại trước tính bất cân xứng của thông tin. Sự bất cân xứng này xảy ra do việc áp dụng các phương pháp báo cáo tài chính truyền thống: các báo cáo tài chính được kiểm toán, các bản phân tích, các bản báo cáo để công bố...che giấu đi một phần thông tin hữu ích đối với các nhà đầu tư, ví dụ thông tin về các tài sản vô hình như: giá trị thương hiệu, R&D, bằng sáng chế, bản quyền, danh sách khách hàng...cho thấy  một lỗ hổng thông tin khá lớn. Bất cứ một chuyên gia nào cũng có thể nói với bạn rằng giá trị của một doanh nghiệp có thể chuyển dời đáng kể từ việc tồn tại chủ yếu dưới dạng các tài sản hữu hình sang các tài sản vô hình, ví dụ: quyền sở hữu trí tuệ. Những giá trị vô hình là động lực chính làm tăng giá trị cho các cổ đông trong nền kinh tế tri thức, nhưng các tiêu chuẩn kế toán lại không thể hiện sự chuyển đổi này trong giá trị của một doanh nghiệp. Các bản báo cáo tài chính lập theo tiêu chuẩn GAAP không ghi chép các khoản mục đó. Chính vì thế mà các nhà đầu tư chỉ có thể dựa vào kết quả hoạt động của một doanh nghiệp để dự đoán giá trị của doanh nghiệp đó. CIV là một phương pháp định giá các tài sản vô hình của một doanh nghiệp. Phương pháp tính toán này nhằm mục đích phân bổ lượng giá trị bất biến của các tài sản vô hình, tức là lượng giá trị không đổi cho dù giá trị của doanh nghiệp có thay đổi theo thị trường. Thường thì tài sản vô hình của một doanh nghiệp sẽ được định giá bằng cách lấy giá trị thị trường trừ đi giá trị sổ sách  của tài sản đó. Tuy nhiên những người phản đối lại phương pháp này lại cho rằng vì giá trị thị trường của  một tài sản luôn thay đổi theo thời gian nên giá trị của tài sản đó nếu tính theo phương pháp này cũng sẽ biến đổi, khiến cho số liệu tính toán trở nên thiếu độ tin cậy. Việc tính toán giá trị tài sản vô hình của một doanh nghiệp theo phương pháp CIV được thực hiện thông qua 7 bước: Tính toán thu nhập trước thuế bình quân trong vòng 3 năm trước của doanh nghiệp. Tính toán giá trị tài sản vô hình bình quân tại thời điểm cuối năm của 3 năm trước Tính toán hệ số ROA của doanh nghiệp. Tính toán hệ số ROA bình quân ngành trong khoảng thời gian ba năm (như ở bước 2) Tính toán mức thu nhập vượt mức bằng cách: lấy ROA bình quân ngành nhân với giá trị tài sản vô hình bình quân như đã tính ở bước 2, sau đó lấy kết quả thu nhập trước thuế tại bước 1 trừ đi số liệu vừa tính được. Tính tỉ suất thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân trong ba năm, lấy số liệu này nhân với thu nhập vượt mức đã tính ở trên. Lấy thu nhập vượt mức trừ đi số liệu này. Tính toán giá trị hiện tại thuần của thu nhập vượt mức sau thuế, sử dụng chi phí vốn làm tỉ lệ chiết khấu.

Cads: Cash Available For Debt Service / Tiền Mặt Để Trả Nợ

Là tỉ lệ giữa tài sản tiền mặt và nợ phải trả (bao gồm phần lãi phải trả cộng thêm vốn vay). Tỉ lệ này được dùng để xác định độ rủi ro cho một dự án hay một chào bán hoặc chào mua cố định. Nếu tỉ lệ giữa tiền mặt doanh nghiệp có và nợ phải trả càng cao thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng lớn.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55