Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Clearing / Thanh Toán Bù Trừ

Thanh toán bù trừ là một phương thức thanh toán trong ngoại thương, trong đó tiền hàng không được thanh toán trực tiếp và ngay giữa người bán và người mua mà được ghi vào một tài khoản được gọi là tài khoản Clearing, đến cuối kỳ tiến hành bù trừ giữa tài khoản của hai bên. Cụ thể là, tài khoản Clearing được chia làm hai bên, bên Nợ và bên Có, thường là trong một năm xuất hiện nhiều thương vụ giữa bên A và bên B, khi bên A mua của bên B một lô hàng thì trị giá hàng sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản bên A và Nợ vào tài khoản bên B, còn nếu bên B mua của bên A một lô hàng thì trị giá sẽ được ghi vào bên Có của tài khoản B và ghi vào bên Nợ của tài khoản A. Đến cuối năm sẽ tiến hành bù trừ giữa bên Có và Nợ của hai tài khoản, và theo nguyên tắc số liệu cuối cùng ở hai tài khoản phải trùng khớp nhau. Khi đó nếu tài khoản A có số dư bên Có, tức là tài khoản B sẽ có số dư bên Nợ, và số dư đó chính là số tiền mà bên B phải thanh toán cho bên A. Ngược lại, nếu tài khoản B có số dư bên Có, tức là tài khoản A có số dư bên Nợ, lúc đó số dư đó chính là khoản tiền mà bên A phải trả cho bên B. Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán bù trừ là đồng tiền clearing tức là đồng tiền không được chuyển đổi ra bất kỳ đồng tiền nào khác, không được chuyển khoản sang các tài khoản khác, bên nào dư nợ sẽ phải trả bằng ngoại tệ tự do hoặc chuyển sang tài khoản vay nợ năm sau hoặc trả nợ bằng hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của nước chủ nợ. Tùy theo sự thỏa thuận của hai bên, tiền tệ clearing có thể được lựa chọn là tiền tệ của một trong hai nước của hai bên hoặc tiền tệ của nước thứ ba. Với phương thức thanh toán này có thể qui định cả hai bên phải mở tài khoản hoặc chỉ cần một bên mở tài khoản. Thực chất phương thức thanh toán bù trừ được sử dụng nhiều trong Hiệp định mua bán hàng hóa dịch vụ giữa chính phủ hai quốc gia, hoặc giữa hai thương nhân có quan hệ buôn bán thân thiết và hàng năm trao đổi với nhau nhiều loại hàng hóa. Để đơn giản thủ tục thanh toán hai bên sử dụng phương thức thanh toán bù trừ, ví dụ như Hiệp định thương mại và thanh toán clearing Việt Nam và Campuchia những năm 1960 qui định mở tài khoản bằng đồng Bảng Anh, Hiệp định Việt Nam ký với Ấn Độ bằng đồng Rupi Ấn Độ, với Ai Cập bằng đồng Bảng Ai Cập...Với những loại hiệp định như thế này, nước nào mở tài khoản nước đó sẽ có lợi, bởi vì nước không mở tài khoản muốn nhập hàng trước thì phải có số dư Có trên tài khoản nếu không phải xuất hàng trước rồi sau đó mới được phép nhập hàng. Ngược lại, nước mở tài khoản không có số dư Có trên tài khoản vẫn được quyền nhập khẩu. Để giải quyết sự không công bằng này, hiệp định kí kết giữa hai nước phải quy định tín dụng thấu chi cho nước không mở tài khoản clearing. Hiện nay với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, đặc biệt việc sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ L/C đã trở thành tập quán, thì phương thức thanh toán bù trừ rất ít được sử dụng.

Clearing / Nghiệp Vụ Clearing

Là quy trình nghiệp vụ mà một tổ chức hoạt động như là bên trung gian giữa hai bên giao dịch và ghi nhận vai trò của người mua và người bán trong các giao dịch, cuối cùng tổng kết lại các giao dịch trên cơ sở đã mua và bán. Nghiệp vụ clearing rất quan trọng đối với các giao dịch mua và bán trên thị trường. Nó tạo ra thị trường hiệu quả và thuận lợi cho Thương mại. Mỗi bên giao dịch đều thông qua công ty Clearing sau mỗi giao dịch mà không phải làm việc trực tiếp với nhau. Nghiệp vụ clearing rất phổ biến ở các ngân hàng. Các ngân hàng thành lập ra các Hiệp hội thanh toán với các Trung tâm xử lý thanh toán (clearing house) để giải quyết các khoản nghĩa vụ hoặc lợi nhuận hoặc chênh lệch mà các bên ngân hàng phải trả cho nhau. Người ta nói rằng các Clearing Houses tồn tại ở Florence trước năm 800 sau Công nguyên. Và phát triển ở mức hoàn hảo ở Lyons vào năm 1463. Sau đó phổ biến ở Châu âu vào thế kỷ 18. Hoạt động của các tổ chức như vậy bao gồm các buổi họp mặt thường xuyên với các đại diện của Ngân hàng địa phương để giải quyết các khoản chênh lệch giữa các ngân hàng thành viên. Ở Mỹ, Cán cân thanh toán (nợ hoặc có) của mỗi ngân hàng được xác định sau mỗi cuộc họp thì được thông báo trực tiếp tới Cục dự trữ Liên Bang, theo đó Cục dự trữ sẽ điều chỉnh các tài khoản riêng biệt này.Các cân đối chéo giữa các Bang được thực hiện dựa trên sổ sách kế toán của các ngân hàng thuộc hệ thống Dự trữ Liên Bang qua đường truyền điện tử. Nghiệp vụ clearing cũng được thực hiện đối với các giao dịch Trái phiếu và Cổ phiếu. Ví dụ Tập đoàn The Stock Clearing Corp., bắt đầu hoạt động từ năm 1920, chịu trách nhiệm cho các hoạt động thanh toán giao dịch được thực hiện ở Sàn Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE); National Securities Clearing Corp. (1976) giải quyết các giao dịch thanh toán bằng ngoại hối ở NYSE, American Stock Exchange, International Securities Clearing Corp. (1985) và Nasdaq chịu trách nhiệm với các giao dịch ở ngoại quốc. Các nghiệp vụ này ngày nay đều được vi tính hoá. Các yêu cầu giao dịch, hưởng lãi hoặc chênh lệch và các khoản thanh toán quốc tế (gọi chung là claims) được giải quyết bởi các Hiệp hội clearing, các ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tài chính lớn khác.

Clean Float / Thả Nổi Tự Do

Điều kiện thị trường trong đó giá trị tiền tệ của một nước trong tương quan tiền tệ với các nước khác, được xác định thuần túy bởi các lực thị trường tự do. Hầu như không có các đồng tiền phương Tây thả nổi tự do, nghĩa là các đồng tiền được hỗ trợ cách này hay cách khác thong qua sự can thiệp của các ngân hàng trung ương. Các đồng tiền được giao dịch với sự can thiệp tối thiểu của ngân hàng trung ương, hay các cơ quan tiền tệ trung ương là đồng franc Thụy Sỹ; đồng Mark Đức, và Dollar Canada. Xem DIRTY FLOAT.

Clayton Act / Đạo Luật Clayton

Được thông qua ở Mỹ năm 1914. Mục đích của đạo luật là xác định cụ thể những vi phạm chống độc quyền nhằm làm cho đạo luật Sherman rõ ràng hơn. (Xem CELLER- KEFAUVER ACT and ROB INSON- PATMEN ATC).

Clay-Clay / Đất Sét- Đất Sét

Một khía cạnh của HÀM SẢN XUẤT trong THUYẾT TĂNG TRƯỞNG không cho phép tỷ lệ vốn - lao động biến đổi trước hoặc sau khi thực hiện đầu tư. Cụm thuật ngữ "đất sét" dùng để chỉ vốn, do đất sét được cho là kém tính cán mỏng hơn so với "mát tít" (Xem PUTTY-CLAY and PUTTY- PUTTY).

Clawback / Sự Thu Hồi

Có hai định nghĩa về thuật ngữ này: 1. Một lợi ích tài chính hay một lợi ích nào khác được cấp nhưng sau đó lại được thu hồi lại do một số hoàn cảnh đặc biệt. Một ví dụ phổ biến nhất cho trường hợp này đó là khi khoản trợ cấp cụ thể được đưa ra, khoản trợ cấp này có thể bị đánh thuế cho người được hưởng trợ cấp, nhưng nếu những khoản trợ cấp này được cấp trước khi xác minh một số điều kiện để hưởng trợ cấp thì những lợi ích từ trợ cấp phải được thu hồi lại. 2. Một sự giảm điểm của thị trường chứng khoán xẩy ra ngay sau khi thị trường chứng khoán có phiên tăng điểm.

Classical Techniques / Các Kỹ Thuật Cổ Điển

Một cụm thuật ngữ dùng để miêu tả kỹ thuật thống kê chuẩn nhằm phân biệt chúng cụ thể với các kỹ thuật BAYES.

Classical Economics / Kinh Tế Học Cổ Điển

Kinh tế học cổ điển là tư tưởng kinh tế phần lớn xuất hiện ở Anh quốc trong giai đoạn từ giữa thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 19 nhưng có nguồn gốc ở Pháp trong thời kỳ trước đó. Đại diện chủ yếu của nó là Adam Smith, David Ricardo, Robert Malthus, Jean-Baptist Say, Senior và James S. Mill. Về cơ bản, kinh tế học cổ điển quan tâm tới quá trình tăng trưởng và phát triển. Nó đặt ra mục tiêu nghiên cứu bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, vấn đề phân phối sản phẩm quốc dân cho các nhân tố sản xuất và trong điều kiện dân số ngày càng tăng và nguồn lực có hạn, cũng như vấn đề cạnh tranh tự do trong những nền kinh tế chỉ bao gồm các doanh nghiệp tư nhân. Trọng tâm của kinh tế học cổ điển là quá trình tích lũy tư bản (hay tích lũy vốn), sự mở rộng thị trường và phân công lao động. Kinh tế học cổ điển cũng rất chú trọng việc nêu ra các khuyến nghị chính sách, mặc dù sự can thiệp của chính phủ chỉ được coi là chỉ có tính tạm thời, thực dụng, khi thị trường không họat động. Kinh tế học cổ điển cũng đề cập việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế vi mô. Lý thuyết cổ điển về giá trị chú trọng tới chi phí sản xuất và giá trị lao động. Kinh tế học cổ điển khác với các trường phái khác ở chỗ nó bao gồm cả lý thuyết về dân số. Điểm yếu của nó là không sử lý đúng khái niệm tổng cầu và thiếu đi sự rõ ràng trong việc nêu ra các yếu tố quyết định mức cung về vốn để đáp ứng nhu cầu thanh toán tiền lương( tức quỹ lương) và đầu tư mua sắm tài sản cố định. Xét về phương pháp luận, kinh tế học cổ điển chia thành hai trường phái. Một trường phái đi theo phương pháp quy nạp (như Adam Smith), nó tạo ra tiền đề rút ra từ kinh nghiệm, lập luận trên cơ sở các tiên đề, quy luật này và kiểm định kết quả bằng cách sử dụng số liệu thực nghiệm. Trường phái thứ hai (người nổi tiếng nhất là Ricardo) sử dụng phương pháp diễn giải. Họ nêu ra các tiền đề mang tính giả thuyết, suy luận theo phương pháp diễn giải để từ đó rút ra các kết luận, nhưng không tìm cách kiểm chứng nó.

Classical Dichotomy / Thuyết Lưỡng Phân Cổ Điển

Nội dung của học thuyết này là việc xác định riêng biệt và độc lập giá tương đối và tuyệt đối trong kinh tế học cổ điển và tân cổ điển.Trong phân tích cổ điển và tân cổ điển về việc làm và sản lượng, tất cả các biến lúc đầu được biểu thị bằng giá trị hiện thực và giá tương đối. Ở dạng đơn giản nhất, sản lượng là một hàm của lao động và kỹ thuật sản xuất. Lao động phụ thuộc vào tiền lương thực tế, tiền lương thực tế lại phụ thuộc vào cung và cầu của lao động. Để xác định giá cả và tiền công tuyệt đối, lý thuyết định lượng tiền tệ và các hình thái của nó được giới thiệu riêng biệt.Phương pháp này hàm ý rằng tiền tệ mang tính trung lập và không có ảnh hưởng tới các giá trị thực tế. Đây là một trong các định đề của trường phái Keynes nhằm liên kết tiền tệ và các biến thực tế rằng tiền tệ là không trung lập. Tiền có thể được giữ làm tài sản là tiền nhàn rỗi với tương lai không chắc chắn, và quyết định này có thể dẫn đến giảm cầu hữu hiệu đối với một mặt hàng hóa và dịch vụ nào đó cùng với tình trạng thất nghiệp do việc đó gây nên. Thuyết này vi phạm đến quan điểm cổ điển về tính trung lập của tiền tệ.Đến lượt mình, quan điểm trường phái Keynes cũng bị những người thuộc trường phái thích tiền mặt công kích. Họ đề xuất thuyết kỳ vọng hợp lý và lập luận rằng hành vi kinh tế bị chi phối bởi các đại lượng thực tế chứ không phải các đại lượng danh nghĩa. Điều này hàm ý rằng ngoại trừ trường hợp ngắn hạn khi việc nhận biết các sự kiện có thể được hình thành một cách không hoàn hảo, tiền tệ sẽ xác định các giá trị danh nghĩa nhưng không có ảnh hưởng tới các đại lượng thực tế như sản phẩm và việc làm. Với quan điểm đó thì thuyết lưỡng phân cổ điển vẫn đúng.

Clark, John Bates / (1847-1938)

Được phong giáo sư tại trường đại học Columbia năm 1895. Những ấn phẩm chính của ông bao gồm Triết lý về của cải (1885), Phân phối của cải (1899),Các yếu tố cốt yếu của thuyết kinh tế (1897), và Các vấn đề độc quyền (1904). Ông có đóng góp trong việc khám phá độc lập về nguyên lý phân tích biên và được coi là người sáng lập ra HỌC THUYẾT NĂNG SUẤT BIÊN ở Mỹ. Con đường riêng của ông tiến tới lý thuyết năng suất biên là đi từ việc khái quát hoá khái niệm của RICARDO về giá thuê. Ông đã tiến xa hơn VON THUNEN, JEVONS, MENGER và WALRAS bằng việc tuyên bố rằng phân phối thu nhập theo quy luật năng suất biên là "công bằng".

Circular Flow Of Income / Luồng Luân Chuyển Thu Nhập

Đây là luồng tiền thu và chi giữa các hãng và hộ gia đình trong nước. Tiền đi từ các hộ gia đình đến các hãng để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ do các hãng sản xuất ra và tiền đi từ các nhà sản xuất tới hộ gia đình để đổi lấy các dịch vụ yếu tố sản xuất do các hộ gia đình cung cấp. Khái niệm đơn giản là giá trị thu nhập bằng tiền của hộ gia đình phải bằng giá trị tiền tệ của sản lượng của hãng sản xuất, và giá trị chi tiêu bằng tiền của hộ gia đình để mua sản phẩm là cơ sở để tính thu nhập quốc dân. Nên lưu ý rằng tổng chi tiêu hay thu nhập, hoặc giá trị bằng sản lượng tiền thực trong một thời kỳ thường sẽ gấp vài lần giá trị lượng tiền trong mô hình đơn giản vì một đơn vì tiền tệ sẽ được trao tay nhiều lần trong thời kỳ đó. Việc rút tiền dẫn đến giảm luồng luân chuyển thu nhập, trong khi bơm tiền lại bổ sung thêm. Để cân bằng mức thu nhập quốc dân thì lượng tiền bơm vào phải bằng với lượng rút ra.

CIF / COST, Insurance And Freight

CIF (Cost, Insurance and Freight) một thuật ngữ chuyên ngành trong thương mại quốc tế nghĩa là Giá thành, Bảo hiểm và Cước, được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng mua bán trong thương mại quốc tế khi người ta sử dụng phương thức vận tải biển. Khi giá cả được nêu là CIF, nó có nghĩa là giá của bên bán hàng đã bao gồm giá thành của sản phẩm, cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm. CIF là một thuật ngữ thương mại quốc tế. CIF, ngoại trừ phần bảo hiểm, là đồng nhất với giá thành và cước (CFR) trong mọi khía cạnh, và các dẫn giải như vậy được áp dụng, bao gồm cả khả năng áp dụng được của nó đối với hàng hải theo tập quán. Bổ sung thêm các trách nhiệm của CFR, bên bán hàng theo các điều kiện giá CIF cần phải có bảo hiểm đơn có thể chuyển nhượng được để bảo chứng (tiền đảm bảo) cho các rủi ro trong quá trình vận chuyển từ các nhà bảo hiểm. Giá trị của bảo hiểm đơn cần bảo chứng cho giá CIF cộng 10 phần trăm và khi có thể cần phải là loại hình tiền tệ đã được ghi trong hợp đồng mua bán. Lưu ý rằng chỉ có bảo chứng cơ bản nhất được yêu cầu tương đương với các khoản mục của điều khoản "C", và bên mua hàng thông thường hay đòi hỏi bảo hiểm đơn dạng bảo chứng cho "mọi rủi ro" ("all risks") phù hợp với các khoản mục trong điều khoản "A". Trách nhiệm của bên bán hàng đối với hàng hóa kết thúc khi hàng hóa được giao cho nhà vận tải hàng hải hoặc khi được giao lên boong tàu vận tải tại điểm đi, phụ thuộc vào các thuật ngữ trong hợp đồng bảo hiểm. Thuật ngữ này chỉ thích hợp cho vận tải hàng hải tập quán, không phải là ro/ro hay vận chuyển container quốc tế.

Choice Variable / Biến Lựa Chọn

Một biến trong bài toán tối ưu mà giá trị của biến được "chọn" để tối ưu hoá giá trị của HÀM MỤC TIÊU. Các biến lựa chọn thường là biến độc lập của hàm mục tiêu.

Chi-Square Distribution / Phân Phối Kai Bình Phương (Phân Phối Khi Bình Phương)

Một phân bố xác suất với tham số n bậc tự do của tham số. Xem CONTINGENCY TABLES.

Child Allowance / Trợ Cấp Trẻ Em

Trong hầu hết các hệ thống THUẾ THU NHẬP đều trợ cấp cho trẻ em ăn theo.Ý tưởng này là giảm nhẹ gánh nặng chi phí nuôi dạy con cái mà gia đình phải gánh chịu.

Chief Technology Officer / Giám Đốc Kỹ Thuật

Một Giám đốc kỹ thuật (Chief Technology/Technical Officer - viết tắt là CTO) là một vị trí điều hành trong một công ty hoặc tổ chức tập trung vào các vấn đề khoa học và công nghệ. Nó thường bao gồm việc giám sát nghiên cứu và phát triển (R&D), xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn ở cấp quản lý. Về cơ bản, một CTO chịu trách nhiệm về việc chuyển vốn đầu tư - có thể là tiền tệ, trí tuệ, hoặc chính trị - vào công nghệ, xúc tiến các mục tiêu của công ty. Họ thường phải kết hợp một nền tảng kỹ thuật, khoa học mạnh mẽ với các kỹ năng phát triển kinh doanh. Vai trò này trở nên nổi bật với sự đi lên của công nghệ thông tin, và từ đó phổ biến trong các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ (ví dụ như năng lượng, công nghệ sinh học, vv.) Công việc của các CTO có thể tương phản với công việc của một Giám đốc thông tin - CIO. CIO có khả năng giải quyết vấn đề của tổ chức thông qua việc thích ứng với công nghệ hiện có, trong khi một CTO chủ yếu giám sát phát triển công nghệ mới. Nhiều công ty lớn có cả hai vị trí này. CTO tập trung vào công nghệ tích hợp vào sản phẩm đang được bán cho khách hàng, trong khi các CIO theo định hướng tập trung vào công nghệ cần thiết để điều hành công ty (và trong lĩnh vực CNTT, để duy trì phần mềm nền tảng cho bất kỳ ứng dụng mới nào) . Theo đó, CTO nhiều khả năng được gắn với xây dựng liên quan đến sở hữu trí tuệ các chiến lược và khai thác các công nghệ độc quyền.

Chief Risk Officer / Giám Đốc Quản Lý Rủi Ro

Các Giám đốc quản lý rủi ro (Chief Risk Officer - CRO hay Chief Risk Management Officer - CRMO) của một công ty là nhà quản lý có trách nhiệm phải quản trị những rủi ro một cách hiệu quả, và cả các cơ hội liên quan. Các rủi ro thường được phân loại là rủi ro chiến lược, rủi ro uy tín, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, hoặc rủi ro liên quan đến giám sát tuân thủ. Trong nhiều tổ chức có cơ cấu phức tạp, các CRO có trách nhiệm phối hợp các phương pháp tiếp cận quản lý rủi ro doanh nghiệp.Vị trí này đã trở nên phổ biến hơn sau khi Công ước Basel, Đạo luật Sarbanes-Oxley, Báo cáo Turnbull.Một ưu tiên chính của các CRO là đảm bảo rằng công ty tuân thủ đầy đủ các quy định được áp dụng (công việc giám sát của Giám đốc giám sát tuân thủ, hay Trưởng nhóm giám sát - CCO). Họ cũng có thể phải đối phó với các vấn đề liên quan đến bảo hiểm, kiểm toán nội bộ, điều tra doanh nghiệp, gian lận, và an ninh thông tin. Các CRO thường có bằng cấp sau đại học và ít nhất 20 năm kinh nghiệm kinh doanh về kế toán, thống kê bảo hiểm, kinh tế, và kiến thức pháp lý.

Chief Operating Officer / Giám Đốc Điều Hành

Chief Operating Officer, hay Chief Operations Officer, viết tắt là COO có thể dịch ra tiếng Việt là Giám đốc điều hành. COO là một trong những lãnh đạo cao cấp nhất trong một tổ chức, là một cấu thành của "bộ C" (tiếng Anh gọi là "the C-suite" - tức là những chức danh quản lý với từ "Chief"). COO chịu trách nhiệm về các hoạt động hàng ngày của công ty. COO thường xuyên báo cáo với giám đốc điều hành cấp cao nhất, hay gọi là Tổng Giám đốc điều hành (CEO). Với tiếng Việt, người ta vẫn gọi COO là Giám đốc điều hành. Tuy nhiên ở các nước phương Tây, trong trường hợp CEO hay Chủ tịch Hội đồng quản trị là nhà điều hành cấp cao nhất, thì COO có thể được coi là President.

Giám Đốc Điều Hành (Chief Operating Officer) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giám Đốc Điều Hành (Chief Operating Officer) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Chief Marketing Officer / Giám Đốc Marketing

Giám đốc Marketing (viết tắt tiếng Anh là CMO) là một chức danh giám đốc chịu trách nhiệm về các hoạt động marketing khác nhau trong một tổ chức. Với trách nhiệm chính về các lĩnh vực như quản lý bán hàng, phát triển sản phẩm, quản lý kênh phân phối, truyền thông (bao gồm cả quảng cáo và khuyến mãi), quyết định giá cả, nghiên cứu thị trường, và dịch vụ khách hàng, một CMO phải có kiến thức đa dạng của các ngành chuyên môn. Thách thức này có tính biến đổi bởi hoạt động hằng ngày bao gồm từ các công việc phân tích (ví dụ: lên giá và nghiên cứu thị trường) đến công việc cần tính sáng tạo (quảng cáo và khuyến mãi).Không nên nhầm lẫn CMO với Giám đốc Truyền thông (CCO), người có trách nhiệm truyền thông nội bộ và bên ngoài. Thực tế, trong hầu hết các trường hợp, các CMO và CCO đều phải làm báo cáo trực tiếp cho Giám đốc điều hành (CEO) và có thể chia sẻ trách nhiệm về thương hiệu công ty.

Chief Investment Officer / Giám Đốc Đầu Tư

Giám đốc đầu tư (CIO - viết tắt giống Giám đốc Thông tin: Chief Information Officer) là một chức danh công việc trong cấp quản lý của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về các khoản đầu tư trong một tổ chức. Mục tiêu của một CIO là hiểu, quản lý và giám sát danh mục tài sản của doanh nghiệp, đưa ra chiến lược cho sự phát triển, hoạt động như một đầu mối liên lạc với cộng đồng đầu tư, và nhận diện và tránh những rủi ro nghiêm trọng, kể cả những rủi ro chưa bao giờ gặp phải.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55