Competition Act 1980 / Đạo Luật Cạnh Tranh 1980
Đạo luật này nhấn mạnh tầm quan trọng trong chính sách cạnh tranh của các tập quán và điều kiện kinh doanh.(Xem RESTRICTIVE TRADE PRACTICES ACT 1956, MONOPOLIES AND MERGERS ACT 1965, RESTRICTIVE TRADE PRACTICES ACT 1968, FAIR TRADING ACT 1973, COMPETITION ACT 1980)
Competition / Cạnh Tranh
Cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống Doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh là tiền đề của hệ thống free-enterprise bởi niềm tin rằng càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu nhất đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ. Để được thành công trong thế giới cạnh tranh vô cùng khốc liệt ngày nay, một điều cực kì quan trọng đối với các doanh nghiệp là phải ý thức được đối thủ cạnh tranh đang làm gì và phải tìm ra được con đường để bắt kịp hoặc vượt qua sản phẩm của đối thủ. Ví dụ, Nếu Pepsi-Cola tung ra sản phẩm soda mới thì Coca-cola cũng phải tung ra ngay sản phẩm sôđa mới không có calo. Bằng việc cạnh tranh trực tiếp với Pepsi thông qua những sản phẩm có tính năng cải thiện hơn, Coca đã thuyết phục khách hàng mua sản phẩm đồ uống có ga của mình. Để cạnh tranh thành công, doanh nghiệp cần phải thực hiện các nghiên cứu và phát triển sản phẩm đó là lí do ra đời phòng R&D. Qua việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, doanh nghiệp hiểu được ước muốn, nhu cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực của khách hàng để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng tốt nhất. Việc phân tích SWOT sẽ giúp doanh nghiệp xác định được điểm mạnh, điểm yếu bên trong doanh nghiệp, cơ hội và đe doạ từ môi trường bên ngoài. SWOT sẽ giúp doanh nghiệp hiểu được mình có lợi thế cạnh tranh tương đối ở khu vực thị trường nào và có tiềm năng đối với sản phẩm nào để tập trung vào sản xuất và marketing cho sản phẩm đó. Để luôn dẫn đầu và tồn tại được trên thị trường doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng, công dụng của sản phẩm đồng thời phải sử dụng công nghệ hiện đại và các quy trình sản xuất, quản lí tiên tiến để cắt giảm chi phí. Vì vậy khách hàng sẽ luôn có sản phẩm hoàn thiện nhất với giá cả phải chăng nhất. Ngày nay việc xử lí chất thải sau sản xuất, và sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường để không làm tổn hại đến phúc lợi xã hội cũng là một vấn đề nhiều doanh nghiệp quan tâm. Các dạng cạnh tranh: Cạnh tranh hoàn hảo: Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên thị trường. Cung nhiều cầu ít sẽ dẫn đến giá giảm, cung ít cầu nhiều sẽ dẫn đến giá tăng. Cạnh tranh độc quyền: Xảy ra khi trên thị trường một số lượng lớn các nhà sản xuất sản xuất ra những sản phẩm tương đối giống nhau nhưng khách hàng lại cho rằng chúng có sự khác biệt, dựa trên chiến lược khác biệt hoá sản phẩm của các công ty. Ví dụ, trên thị trường có các sản phẩm xà bông tương đối giống nhau. Nhưng có hãng thì bảo rằng sẽ đem lại làn da mềm mại sau khi tắm, hãng thì bảo là đem lại hương thơm tươi mát, hãng thì bảo rằng sẽ làm trắng da. Độc quyền nhómLà loại độc quyền xảy ra khi trong ngành có rất ít nhà sản xuất, bởi vì các ngành này đòi hỏi vốn lớn, rào cản ra nhập ngành khó. Ví dụ: ngành công nghiệp sản xuất ôtô, máy bay. Độc quyền tuyệt đốiXảy ra khi trên thị trường tồn tại duy nhất một nhà sản xuất và giá cả, số lượng sản xuất ra hoàn toàn do nhà sản xuất này quyết định. Ví dụ: Điện, nước ở Việt Nam do nhà nước cung cấp.
Compensation Tests / Kiểm Nghiệm Đền Bù
Những cuộc kiểm nghiệm như vậy đặt ra câu hỏi liệu những người gây thiệt hại do thay đổi nào đó có được đền bù cho thiệt hại của họ hay không trong khi vẫn để những người được lợi khấm khá hơn trước khi có thay đổi đó. Kiểm nghiệm được biết đến nhiều nhất là KIỂM NGHIỆM KALLDOR - HICHS.
Compensation Rules / Các Quy Tắc Trả Thù Lao
Một công thức xác định thu nhập của cá nhân. 1. Dựa trên thời gian làm việc của cá nhân. 2. Dựa trên kết quả hoàn thành công việc của cá nhân. 3. Dựa trên cơ sở kết qủa thực hiện của một đội như trong chế độ chia lợi nhuận hay thưởng theo đội. 4. Dựa trên kết quả thực hiện so sánh của cá nhân như đối với quy tắc THÙ LAO THEO XẾP HẠNG TRONG THI ĐẤU.
Compensated Demand Curves / Đường Cầu Đã Được Bù
Một đường cầu trong đó HIỆU ỨNG THU NHẬP của thay đổi giá đã được loại bỏ để thu nhập thực tế dọc đường cầu không đổi.
Comparative Statics / Phương Pháp So Sánh Tĩnh
So sánh một vị trí CÂN BẰNG mới với vị trí cân bằng cũ sau khi có thay đổi nào đó trong các biến số mà không đổi chiều với cách đạt được vị trí mới và thường không có khía cạnh định lượng.
Comparative Dynamics / Phương Pháp So Sánh Động
Một phương pháp sử dụng trong KINH TẾ HỌC ĐỘNG với nét đặc biệt là mức độ thay đổi về giá trị của các THAM SỐ và về giá trị cân bằng của các biến là không đổi.
Comparative Advantage / Lợi Thế So Sánh
Khái niệm lợi thế so sánh đóng một vai trò cực kì quan trọng trong học thuyết thương mại quốc tế hiện đại. Một bên (quốc gia, khu vực, cá nhân) được coi là có lợi thế so sánh hơn bên kia trong việc sản xuất một sản phẩm nếu họ có thể sản xuất sản phẩm đó với chi phí cơ hội thấp hơn. Người đầu tiên đề cập đến lợi thế so sánh là Robert Torrens vào năm 1815 khi ông có một bài viết về việc trao đổi ngũ cốc giữa Anh và Ba Lan. Ông rút ra kết luận là người Anh vẫn có lợi khi xuất khẩu hàng hoá sang Ba Lan để đổi lấy ngũ cốc, cho dù họ có thể sản xuất ngũ cốc với chi phí thấp hơn Ba Lan. Tuy vậy, người có đóng góp lớn nhất cho lý thuyết lợi thế so sánh chính là David Ricardo khi ông đã đưa ra những giải thích mang tính hệ thống trong cuốn sách xuất bản năm 1817 "Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khoá", sử dụng những ví dụ tương tự liên quan đến hoạt động trao đổi rượu lấy vải vóc giữa Anh và Bồ Đào Nha. Theo lý thuyết trước đó của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối, trong thương mại quốc tế, mỗi quốc gia sẽ tìm cho mình một số sản phẩm mà nó có lợi thế tuyệt đối, tức là nó sẽ thu lợi nhờ việc chuyên môn hoá và những sản phẩm mà nó sản xuất hiệu quả nhất và trao đổi với các quốc gia khác. Như vậy phải chăng những nước không có lợi thế tuyệt đối về bất cứ sản phẩm nào thì không thể thu được lợi ích từ thương mại quốc tế? Với lý thuyết lợi thế so sánh, Ricardo đã chỉ ra rằng, ngay cả những nước như vậy cũng vẫn tìm được chỗ đứng cho mình trong thương mại quốc tế nếu chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà nó có lợi thế so sánh. Lý thuyết của Ricardo dựa trên nhiều giả định hơi phi thực tế một chút, như là chi phí vận chuyển = 0, và lợi ích từ việc tăng sản lượng có thể bù đắp được các ngoại ứng tiêu cực như ô nhiễm môi trường hay bất công bằng xã hội. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học-công nghệ, với sự ra đời của máy bay và internet thì dường như giả định của Ricardo ngày càng vững vàng hơn. Lý thuyết lợi thế so sánh được minh hoạ qua ví dụ sau: hai người đàn ông sống sót sau một vụ đắm tàu dạt lên một hòn đảo hoang. Để sống sót họ buộc phải tiến hành một vài hành vi kinh tế cơ bản như là kiếm nước ngọt, bắt cá, nấu ăn, dựng và sửa lều... Người thứ nhất là một chàng trai trẻ, khoẻ, có học hành và nhanh nhẹn hơn, tháo vát hơn, làm việc hiệu quả hơn trong mọi việc. Như vậy là anh ta có lợi thế tuyệt đối trong mọi việc. Người thứ hai là một ông già ốm yếu và không được học hành. Ông ta kém lợi thế tuyệt đối trong mọi việc. Đối với một số việc thì khoảng cách giữa hai người là rất lớn, trong khi một số việc khác thì khoảng cách cũng tương đối nhỏ. Vậy có ai trong số hai người sẽ có lợi hơn khi sống đơn độc không? Câu trả lời là không, vì chuyên môn hoá và trao đổi sẽ đem lại lợi ích cho cả hai. Hai người phân công công việc như thế nào? Theo như lý thuyết lợi thế so sánh, chàng trai trẻ sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những việc mà anh ta làm tốt hơn ông già kia rất nhiều, còn ông già sẽ tập trung vào những việc mà ông ta làm kém chàng trai chút đinh . Một thoả thuận như thế sẽ giúp tăng được tổng số sản phẩm và/hoặc giảm tổng thời gian lao động, nó sẽ giúp cả hai sung túc hơn. Tuy nhiên, chuyên môn hoá và trao đổi sẽ không thể diễn ra nếu có một đầu vào không thể thay thế nào đó bị cạn kiệt. Trong ví dụ trên, nếu nước ngọt chỉ còn đủ cho một người thì cách duy nhất là giải quyết bằng bạo lực. Hoặc nếu chi phí cơ hội của hai bên với cùng một sản phẩm là như nhau thì không ai được coi là có lợi thế so sánh, trong trường hợp này chuyên môn hoá cũng là vô ích. Để hiểu rõ lý thuyết này chúng ta tiếp tục phân tích một ví dụ định lượng nữa: Bảng dưới đây mô tả số sản phẩm tạo ra từ một đơn vị nguồn lực của hai nước Việt Nam và Thái Lan. Để việc phân tích được đơn giản có thể đưa ra những giả sử sau: 1. Mỗi bên đều có 10 đơn vị nguồn lực và nguồn lực dùng để sản xuất lúa gạo và xe máy là có thể thay thế hoàn hảo lẫn nhau, các nguồn lực được tự do di chuyển trong mỗi nước nhưng không được di chuyển sang nước khác 2. Thế giới chỉ có 2 nước và mỗi nước chỉ sản xuất 2 mặt hàng này 3. Chi phí cơ hội của mỗi nước là bất biến 4. Cơ chế giá cả hoạt động trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo. Việt Nam Thái Lan Xe máy 2 c 5 c Gạo 10 t 12.5 t Nhìn vào bảng trên có thể thấy Thái Lan có lợi thế tuyệt đối, còn Việt Nam kém lợi thế tuyệt đối ở cả hai mặt hàng này. Nếu không có thương mại thì Việt Nam có thể sản xuất tối đa là 20 chiếc xe máy, hoặc 100 tấn gạo, còn Thái Lan có thể có tối đa 50chiếc xe máy hoặc 125 tấn gạo. Trường hợp hai nước quyết định tiến hành hoạt động giao thương với nhau. Bảng dưới đây cho thấy chi phí cơ hội để sản xuất mỗi mặt hàng: Việt Nam Thái Lan Xe máy 5 t/c 2.5 t/c Gạo 0.2 c/t 0.4 c/t Có thể thấy, chi phí cơ hội để sản xuất xe máy của Thái Lan thấp hơn, trong khi chi phí cơ hội để sản xuất gạo của Việt Nam thấp hơn. Vậy theo lý thuyết lợi thế so sánh Việt Nam nên tập trung vào sản xuất gạo còn Thái Lan sản xuất xe máy. Nếu chuyên môn hoá tuyệt đối Thì sản lượng của 2 nước như sau: Việt Nam Thái Lan Xe máy 0 50c Gạo 100t 0 Việt Nam và Thái Lan sau đó sẽ tiến hành trao đổi theo một tỉ lệ nào đó nằm trong khoảng 2.5t/c đến 5t/c, giả sử là 3 tấn gạo/ 1 xe máy. Giả sử Thái Lan quyết định đổi 20 xe máy lấy 60 tấn gạo. Vậy lượng hàng hóa cuối cùng mà mỗi nước có, so sánh với lượng hàng hoá nếu tự sản xuất như 2 bảng sau: Việt Nam Thái Lan Xe máy 20 30 Gạo 40 60 Sản lượng nếu có thương mại quốc tế Việt Nam Thái Lan Xe máy 12 ( =2x6 ) 30 ( =5x6 ) Gạo 40 (=10x4) 48 (=12x4) Sản lượng nếu tự sản xuất Như vậy nhờ có thương mại quốc tế mà cả hai nước đều được tiêu dùng lượng hàng hoá lớn hơn khả năng tự cung cấp của mình, hay nói cách khác họ đã đẩy được đường giới hạn khả năng sản xuất ra xa gốc toạ độ hơn. (Ảnh: David Ricardo 1772 - 1823) David Ricardo (1772-1823)
Comparable Worth / Giá Trị Có Thể So Sánh
Lương ngang nhau trả cho công việc có giá trị ngang nhau.
Comparable Sales / Giá So Sánh
Comparable sales (hay còn gọi là comps) là giá có thể so sánh được. Trong lĩnh vực bất động sản, đó là giá bán của các căn nhà tương tự ở các khu vực gần đó, được dùng để xác định giá thị trường của một căn nhà đang được bán. Còn trong bán lẻ, nó chỉ việc bán hàng tại các cửa hàng đã được mở trong hơn một năm. Điều này cho phép các nhà đầu tư xác định trong thành phần của sự tăng trưởng doanh số bán hàng có do việc mở cửa hàng mới tạo nên hay không, và cũng để theo dõi lợi nhuậncủa các chi nhánh bán lẻ. Việc kinh doanh hệ thống bán lẻ với chuỗi cửa hàng cũng là một yếu tố quan trọng để so sánh trong việc quyết định nên thay đổi chiến lược bán lẻ của công ty như thế nào.
Company Saving / So Sánh Về Lương
So sánh chính thức hay không chính thức do các nhóm lao động rút ra về mức lương của và của những người công nhân khác. Xem RELATIVE DEPRIVATION, COERCIVE COMPARISIONS.
Company Director / Giám Đốc Công Ty
Người do các cổ đông bầu ra để tham gia cùng các giám đốc khác điều hành công ty.
Giám Đốc Công Ty (Company Director) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giám Đốc Công Ty (Company Director) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Company Bargaining / Đàm Phán Công Ty
ĐÀM PHÁN TẬP THỂ giữa các đại diện của một công ty, có thể có một hoặc nhiều hơn các nhà máy trên khắp đất nước và những người đại diện cho công nhân viên chức, để đưa ra mức lương và điều kiện làm việc trong công ty. Xem PLANT BARGAINING.
Company / Công Ty
Thường để chỉ công ty CỔ PHẦN, đây là một thực thể pháp lý được thành lập để tiến hành các hoạt động công nghiệp, thương mại vốn được chia thành CỔ PHIẾU do các thành viên của công ty nắm giữ.
Community Indifference Curve / Đường Bàng Quan Cộng Đồng
Một đường dựa trên đó mỗi cá nhân trong một cộng đồng nhận được một mức thoả dụng không đổi.
Communism / Chủ Nghĩa Cộng Sản
Theo một nghĩa hẹp, đây là một giai đoạn phát triển kinh tế được cho là diễn ra khi tất cả các tầng lớp trong xã hội bị thu hút vào GIAI CẤP VÔ SẢN. Cụm thuật ngữ này, dù vậy, thường được dùng để chỉ một hệ thống kinh tế kế hoạch hoá được điều hành tại các nước thuộc HỘI ĐỒNG TƯƠNG TRỢ KINH TẾ (trước khi các cuộc cách mạng ở Đông Âu nổ ra vào cuối thập kỷ 80).
Common Stock Ratio / Tỷ Lệ Chứng Khoán Thường
Tỷ lệ chứng khoán thường là số phần trăm tổng số tư bản hoá tiêu biểu bằng chứng khoán. Theo quan điểm chủ nợ, tỷ lệ cao tiêu biểu có một khoảng cách an toàn trong trường hợp thanh lý. Tuy nhiên, trên quan điểm nhà đầu tư, tỷ lệ cao có nghĩa là thiếu đòn bẩy tài chính (leverage). Những gì tỷ lệ sẽ phải tuỳ thuộc phần lớn thì đó là sự ổn định của lợi nhuận. Công ty phục vụ công cộng về điện có thể hoạt động với tỷ lệ thấp vì lợi nhuận được ổn định. Theo quy luật chung, khi tỷ lệ chứng khoán công ty công nghiệp dưới 30%, nhà phân tích sẽ kiểm tra mức ổn định lợi nhuận và mức trang trải phí ổn định trong khoảng thời gian khó khăn cũng như trong khoảng thời gian thuận lợi.
Common Stock Equivalent / Tương Đương Chứng Khoán Thường
Tương đương chứng khoán thường Chứng khoán ưu đãi (preferred stock) hay trái phiếu có thể chuyển sang chứng khoán thường hay chứng chỉ (warrant) mua chứng khoán với giá đặc biệt hay giá thấp hơn giá thị trường. Chứng khoán dùng để chuyển qua chứng khoán thường có tiềm năng làm loãng trị giá của cổ đông sở hữu chứng khoán thường đang lưu hành và việc hoán chuyển hay thực hiện được người ta nhận biết khi thấy tỷ lệ lợi nhuận/cổ phần bị giảm hoàn toàn.
Common Stock And Preferred Stock / Cổ Phiếu Thường Và Cổ Phiếu Ưu Đãi
Cổ phiếu thường (phổ thông) Là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường. Về mặt thanh khoản, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường sẽ có các quyền lợi đối với tài sản của công ty sau khi quyền lợi của người nắm giữ trái phiếu công ty, những người nắm giữ các tài khoản nợ khác và người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đã được hoàn thành. Thông thường, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có 1 quyền bỏ phiếu/cổ phiếu để bầu ra ban Giám đốc (mặc dù số phiếu bầu luôn luôn không tương ứng về số lượng với số cổ phiếu được sở hữu). Ban Giám đốc là một nhóm các thành viên đại diện cho những người sở hữu công ty và đưa ra các quyết định chính cho hoạt động của công ty. Những cổ đông thường cũng có quyền bỏ phiếu liên quan đến các vấn đề khác của công ty như tách cổ phiếu và xây dựng mục tiêu cho công ty. Ngoài quyền bỏ phiếu, các cổ đông thường còn có quyền "ưu tiên mua trước". Quyền ưu tiên mua trước cho phép các cổ đông thường duy trì tỷ lệ cổ phần của mình (bằng cách mua thêm cổ phiếu) trong trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng các cổ đông thường với quyền ưu tiên mua trước có quyền nhưng không bị bắt buộc phải mua số cổ phiếu mới được phát hành thêm để duy trì tỷ lệ cổ phần như cũ trong công ty. Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường xét về tính thanh khoản. Cũng giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi địa diện cho phần vốn sở hữu của 1 cá nhân trong công ty, mặc dù cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết giống như cổ đông thường. Không giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả 1 lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ và không hề thay đổi ngay cả khi công ty không có đủ năng lực tài chính để trả trong trường hợp làm ăn thua lỗ. Lợi ích lớn nhất khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi là nhà đầu tư có khả năng thu hồi phần tài sản của công ty lớn hơn cổ đông thường. Cổ đông nắm cổ phiếu ưu đãi luôn được nhận cổ tức đầu tiên, và khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những người được công ty trả trước sau đó mới đến cổ đông thường. Nhìn chung, có 2 loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau, đó là cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi tham gia và cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi. Nhìn chung cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có lợi là thu nhập cổ tức ổn định và trong bất cứ trường hợp nào cũng được trả cổ tức, nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ khi công ty làm ăn phát đạt thì số cổ tức họ nhận được vẫn không hề tăng lên.
Cổ phiếu thường (phổ thông) Là loại chứng khoán đại diện cho phần sở hữu của cổ đông trong một công ty hay tập đoàn, cho phép cổ đông có quyền bỏ phiếu và được chia lợi nhận từ kết quả hoạt động kinh doanh thông qua cổ tức và/hoặc phần giá trị tài sản tăng thêm của công ty theo giá thị trường. Về mặt thanh khoản, cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường sẽ có các quyền lợi đối với tài sản của công ty sau khi quyền lợi của người nắm giữ trái phiếu công ty, những người nắm giữ các tài khoản nợ khác và người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi đã được hoàn thành. Thông thường, các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có 1 quyền bỏ phiếu/cổ phiếu để bầu ra ban Giám đốc (mặc dù số phiếu bầu luôn luôn không tương ứng về số lượng với số cổ phiếu được sở hữu). Ban Giám đốc là một nhóm các thành viên đại diện cho những người sở hữu công ty và đưa ra các quyết định chính cho hoạt động của công ty. Những cổ đông thường cũng có quyền bỏ phiếu liên quan đến các vấn đề khác của công ty như tách cổ phiếu và xây dựng mục tiêu cho công ty. Ngoài quyền bỏ phiếu, các cổ đông thường còn có quyền "ưu tiên mua trước". Quyền ưu tiên mua trước cho phép các cổ đông thường duy trì tỷ lệ cổ phần của mình (bằng cách mua thêm cổ phiếu) trong trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu. Điều này có nghĩa rằng các cổ đông thường với quyền ưu tiên mua trước có quyền nhưng không bị bắt buộc phải mua số cổ phiếu mới được phát hành thêm để duy trì tỷ lệ cổ phần như cũ trong công ty. Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông nắm giữ nó được trả cổ tức trước cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường xét về tính thanh khoản. Cũng giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi địa diện cho phần vốn sở hữu của 1 cá nhân trong công ty, mặc dù cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết giống như cổ đông thường. Không giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi trả 1 lượng cổ tức nhất định cho cổ đông nắm giữ và không hề thay đổi ngay cả khi công ty không có đủ năng lực tài chính để trả trong trường hợp làm ăn thua lỗ. Lợi ích lớn nhất khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi là nhà đầu tư có khả năng thu hồi phần tài sản của công ty lớn hơn cổ đông thường. Cổ đông nắm cổ phiếu ưu đãi luôn được nhận cổ tức đầu tiên, và khi công ty bị phá sản thì họ cũng là những người được công ty trả trước sau đó mới đến cổ đông thường. Nhìn chung, có 2 loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau, đó là cổ phiếu ưu đãi tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ, cổ phiếu ưu đãi tham gia và cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi. Nhìn chung cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có lợi là thu nhập cổ tức ổn định và trong bất cứ trường hợp nào cũng được trả cổ tức, nhưng cũng có nhược điểm ở chỗ khi công ty làm ăn phát đạt thì số cổ tức họ nhận được vẫn không hề tăng lên.
Common Stock / Cổ Phiếu Thường
Chứng khoán tượng trưng cho quyền sở hữu vốn trong một công ty. Các chủ sở hữu cổ phiếu thường có quyền chọn các giám đốc và nhận cổ tức được chia. Trái quyền của cổ phiếu được xếp dưới trái quyền của chủ trái phiếu, các chủ sở hữu cổ phiếu ưu đãi, và các chủ nợ khác.





