Consumer Demand Theory / Lý Thuyết Cầu Tiêu Dùng
Lĩnh vực của môn kinh tế học xác định những lý thuyết có thể kiểm nghiệm về cách người tiêu dùng phản ứng lại với những thay đổi trong các biến như giá cả, các giá khác, thay đổi về thu nhập…
Consumer Credit / Tín Dụng Của Người Tiêu Dùng (Như Mua Chịu, Mua Trả Dần)
Consumer Credit là tín dụng được mở rộng cho các cá nhân hay hộ gia đình sử dụng, thay vì kinh doanh. Theo định nghĩa rộng, tín dụng của người tiêu dùng bao gồm tất cả hình thức tín dụng trả góp ngoài các khoản vay được bảo đảm bởi bất động sản (cầm cố nhà cửa, chẳng hạn) cộng với tín dụng mở rộng như thẻ tín dụng. Tuy nhiên, các hình thức tín dụng mới, đã xóa nhòa những ranh giới này; mức tín dụng mua nhà là mức tín dụng tuần hoàn được đảm bảo bởi bất động sản - một quyền giữ thế chấp đối với nhà của người cho vay. Nhiều hình thức truyền thống khác của tín dụng người tiêu dùng. như tiền vay mua ô tô, có các hình thức thanh toán hàng tháng tiêu chuẩn - lịch trả nợ cố định trong một năm đến năm năm hoặc hơn - được trả theo lãi suất cố định hoặc lãi suất thau đổi dựa trên một chỉ số. Khoản vay tiêu dùng đáp ứng sự đa dạng nhu cầu: tài trợ việc mua xe hơi hay sản phầm gia dụng, nâng cấp nhà, hợp nhất nợ... Những khoản vay này có thể không được hay được đảm bảo bởi việc chuyển quyền sở hữu, như trong khoản vay mua hơi, hay tiền tại tài khoản của ngân hàng. Nợ của người tiêu dùng được giám soát bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang và là một trong những chỉ số hàng đầu về sự tăng trưởng kinh tế. Xem AMORTIZTION SCHEDULE; CLOSE - END CREDIT; HOME EQUITY CREDIT; RULE OF THE 78'S; REGULATION B; REGULATION Z; SIMPLE INTEREST.
Consumer / Người Tiêu Dùng
Bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng.
Construction Financing / Tài Trợ Xây Dựng Tạm Thời
Tài trợ xây dựng tạm thời là loại cho vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại đối với các công ty xây dựng để thi công các công trình xây dựng. Nguồn vốn để xây dựng các công trình như nhà ở, chung cư, cao ốc...cho bên chủ đầu tư là nguồn vốn chủ sở hữu hoặc nguồn vốn tài trợ dài hạn từ các định chế tài chính. Các nguồn vốn này chỉ được thanh toán cho bên xây dựng ( thi công) khi đã hoàn thành toàn bộ công trình hoặc từng hạn mức công trình theo thỏa thuận hợp đồng nhận thầu. Vì vậy trong quá trình thi công bên xây dựng phải bỏ chi phí để thuê nhân công, thuê thiết bị xây dựng, mua nguyên vật liệu....Nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu đó là vốn của công ty xây dựng, một phần ứng trước của chủ đầu tư và phần còn lại do các ngân hàng thương mại tài trợ. Loại cho vay này có đặc điểm sau : - Việc xét duyệt cho vay chủ yếu dựa trên cơ sở từng hợp đồng nhận thầu và tiền vay được cung cấp để thuê nhân công, thiết bị và mua vật tư, nguyên liệu dùng để thi công công trình theo hợp đồng nhận thầu xin vay. - Loại cho vay này được đảm bảo bằng khoản phải thu từ bên chủ đầu tư theo hợp đồng nhận thầu. - Kỳ hạn nợ được xác định trên cơ sở kế hoạch thi công theo hợp đồng nhận thầu. Nguồn thu nợ là tiền thanh toán của chủ đầu tư, có thể là vốn chủ sở hữu, hoặc nguồn tài trợ dài hạn của các định chế tài chính.
Constraint / Rằng Buộc
Thường là một mối quan hệ toán học giữa CÁC BIẾN LỰA CHỌN của một bài toán tối ưu hoá; trong đó một hàm nào đó của biến (ví dụ HÀM TUYẾN TÍNH) không bằng một hằng số.
Constestable Market / Thị Trường Có Thể Cạnh Tranh Được
Một THỊ TRƯỜNG trong đó có sự tự do nhập thị, sự gia nhập và rút lui không mất chi phí.
Constant Market Share Demand Curve / Đường Cầu Với Thị Phần Bất Biến
Mối quan hệ giữa lượng bán và giá mà hãng phải đối mặt nếu tất cả các đối thủ cạnh tranh của nó thích ứng với bất cứ sự thay đổi về giá nào do hãng này đưa ra.(Xem ELASTICITY)
Constant Elasticity Of Substitution (CES) Production Function / Hàm Sản Xuất Với Độ Co Giãn Thay Thế Không Đổi
Hàm sản xuất CES là một hàm sản xuất ĐỒNG NHẤT TUYẾN TÍNH có độ co giãn thay thế đầu vào không đổi.
Constant Capital / Tư Bản Bất Biến
Theo học thuyết của C.Mác, tư bản bất biến là một phần của TƯ BẢN được thể hiện bằng phương tiên sản xuất, nguyên liệu thô và công cụ lao động. Xem VARIABLE CAPITAL.
Conspicuous Consumption / Sự Tiêu Dùng Mang Tính Trình Diễn
Sự tiêu dùng mang tính trình diễn chính là sự tiêu thụ hàng hoá/dịch vụ không phải vì nhu cầu sử dụng những lợi ích mà đặc tính hàng hóa/dịch vụ mang lại, mà với mục đích phô trương. Ví dụ như, một người giầu có sử dụng cùng lúc vài chiếc xe hạng sang, thì không phải bởi mục đích chuyên chở của chiếc xe, mà nhằm khẳng định đẳng cấp của mình khi sử dụng những chiếc xe đó. Đây là một sự biến tướng của lý thuyết tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ đơn thuần, khi mà ở đó, số lượng của một hàng hoá/dịch vụ nhất định thay đổi ngược chiều với giá của nó (qua mô hình đường cong cầu đi xuống). Sự tiêu dùng phô trương này cũng có thể có được đường cong cầu đi lên nếu số lượng cầu tăng cùng với giá.
Consortium Bank / Tập Đoàn Ngân Hàng
Ngân hàng thương mại Châu Âu sở hữu bởi các ngân hàng từ nhiều nước khác nhau, và cùng tham gia vào nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Các tập đoàn ngân hàng, bắt nguồn từ những năm 1960 và 1970, hoạt động kém trong việc cho vay ở thị trường Châu Âu, và cũng có các hoạt động cho vay trong nước đối với các khách hàng doanh nghiệp.
Consortium / Công-Xoóc-Xium
Công-xoóc-xium (Consortium) là khái niệm chỉ một tổ hợp các doanh nghiệp được hình thành trong một thương vụ có mục tiêu đặc biệt nào đó. Việc hình thành tổ hợp này có tính chất như sau: 1. Liên kết lỏng: Các doanh nghiệp trong tổ hợp này không có nghĩa vụ tài chính và pháp lý gì với nhau đứng về mặt quản lý và vận hành riêng rẽ.2. Các nghĩa vụ pháp lý và tài chính chỉ có hiệu lực trong phạm vi của thương vụ mà họ đang cùng nhau tiến hành, thường căn cứ trên các khế ước hay hợp đồng được bảo chứng cụ thể cho từng điều khoản hợp tác.3. Thường chỉ tồn tại trong khoảng thời gian của dự án mà công-xoóc-xium đó theo đuổi.4. Mỗi Công-xoóc-xium thường có một doanh nghiệp lớn, uy tín đứng ra đảm bảo các nguyên lý vận hành trong quá trình tiến hành triển khai dự án, bao gồm: phân công công việc, trách nhiệm, phân chia quyền lợi kinh tế, thống nhất các qui tắc và điều khoản hợp đồng. Ví dụ dễ hình dung là một công-xoóc-xium để thăm dò-khai thác-chế biến dầu khí trên một vùng biển hoặc lãnh thổ được nhượng quyền khai thác. Công-xoóc-xium có thể có một công ty dẫn đầu thắng thầu nhượng quyền khai thác, và hàng chục thành viên bao gồm các công ty cung cấp hạ tầng kỹ thuật, một vài tập đoàn tài chính cung cấp dịch vụ và nguồn vốn, công ty xây dựng dầu khí, công ty bảo hiểm, v.v..
Consols / Công Trái Hợp Nhất
Ngày nay, thuật ngữ này để chỉ loại công trái 2,5% lãi suất.
Consolidation / Giai Đoạn Ổn Định Giá
Trong phân tích kỹ thuật, giai đoạn ổn định giá là giai đoạn giá chứng khoán biến thiên ổn định trong một khoảng nhất định, và thị trường thiếu vắng một xu thế rõ rệt. Giai đoạn này thường được coi là một giai đoạn lưỡng lự của thị trường, nó kết thúc khi giá chứng khoán vượt ra khỏi khoảng giới hạn và bắt đầu một xu thế mới. Giai đoạn này có thể sẽ làm nản lòng những tay đầu cơ trông chờ vào biến động giá lớn khi mà giá chứng khoán luôn ổn định trong một khoảng giới hạn nhất định. Giai đoạn ổn định giá thường diễn ra sau một đợt lên giá hoặc xuống giá của thị trường. Trong giai đoạn này, thị trường tương đối ổn định và thiếu vắng những động lực mạnh để có thể xảy ra những biến động lớn. Các nhà phân tích coi giai đoạn xác lập xu thế là một giai đoạn phát triển lành mạnh của thị trường, giúp giảm bớt tình trạng quá dư cung hoặc quá dư cầu. Mức kháng cự và mức hỗ trợ trong mỗi giai đoạn xác lập xu thế được tạo nên bởi giới hạn trên và giới hạn dưới của giá chứng khoán. Khi giá phá vỡ được những mức cản này, biến động giá sẽ gia tăng rất nhanh đồng thời đem lại cơ hội cho những nhà đầu tư ngắn hạn. Giai đoạn ổn định giá là giai đoạn được nghiên cứu rất nhiều trong phân tích kỹ thuật thông qua các mô hình, đồ thị giá. Nó có thể kéo dài phút, vài ngày, vài tháng thậm chí là vài năm. Giá chứng khoán trong một giai đoạn ổn định tương đối dài có thể được coi là một mức giá cơ sở.
Consolidated Fund / Quỹ Ngân Khố
Một cụm thuật ngữ khác cho NGÂN KHỐ ở Anh. Đó là một tài khoản của chính phủ bao gồm thu nhập từ thuế.
Consistency / Tính Nhất Quán
Một tính chất mong muốn của các ước lượng kinh tế lượng.
Tính Nhất Quán (Consistency) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tính Nhất Quán (Consistency) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Conservative Investing / Đầu Tư Bảo Thủ
Đây là một chiến lược đầu tư nhằm tìm kiếm sự bảo vệ trong giá trị của danh mục đầu tư bằng cách đầu tư vào các chứng khoán có mức rủi ro thấp hơn ví dụ như các chứng khoán có thu nhập cố định và các chứng khoán thị trường tiền tệ và cả các cổ phiếu blue chiphoặc là cổ phiếu có mức vốn hóa thị trường lớn.Các nhà đầu tư bảo thủ có mức chịu đựng rủi ro từ thấp đến vừa phải. Những ai có khả năng chịu đựng rủi ro thấp thường cảm thấy cực kỳ khó chịu với thị trường chứng khoán và thường muốn tránh đầu tư toàn bộ vào các cổ phiếu. Tuy nhiên, mặc dù chiến lược này có thể bảo vệ danh mục đầu tư chống lại lạm phát, nó cũng không tạo ra được nhiều giá trị hơn qua thời gian. Bảo toàn vốn và thu nhập hiện thời là các chiến lược đầu tư thụ động phổ biến.
Conglomerate Merge / Sáp Nhập Tập Đoàn / Nhập Thành Cônglômêra
Một sự sáp nhập của hai công ty liên quan đến các loại hình hình kinh doanh khác nhau của các doanh nghiệp. Có nhiều cách để điều này tạo ra lợi nhuận cho các công ty, chẳng hạn như chia sẻ tài sản và giảm rủi ro kinh doanh, nhưng cũng có thể trở thành một mối nguy cơ đối với nhiều công ty nếu công ty mới thành lập có quy mô quá lớn hoặc có thể các công ty không đạt được thành công từ sự hợp tác này. Một cách hiểu khác đó là một sự sáp nhập giữa các công ty có các loại hình kinh doanh hoàn toàn không liên quan đến nhau. Có hai loại hình sáp nhập tập đoàn: hỗn hợp và riêng lẻ. Sáp nhập riêng lẻ đề cập đến các công ty sáp nhập với các tập đoàn không có loại hình kinh doanh chung, trong khi loại hình sáp nhập tập đoàn hỗn hợp đề cập đến các công ty đang tìm kiếm cơ hội đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường. Có nhiều lý do cho việc các công ty muốn sáp nhập, trong đó có việc tăng trưởng thị phần, kết hợp sức mạnh và bán chéo sản phẩm cho nhau. Các công ty cũng sáp nhập nhằm mục đích đa dạng hóa sản phẩm và làm giảm nguy cơ rủi ro của họ. Tuy nhiên, nếu một tập đoàn trở nên quá lớn mạnh sau khi thôn tính các doanh nghiệp nhỏ từ các phi vụ mua lại doanh nghiệp thì kết quả kinh doanh của toàn bộ tập đoàn có thể bị ảnh hưởng. Điều này có thể đã được thấy trong giai đoạn sáp nhập tập đoàn của những năm 1960.
Conglomerate / Tập Đoàn; Tổ Hợp Doanh Nghiệp
Một hãng bao gồm công ty mẹ và các công ty con mà chúng không liên quan với nhau trong các hoạt động và thị trường.
Congestion Costs / Chi Phí Do Tắc Nghẽn
Khi việc sử dụng một phương tiện hay dịch vụ đang được nhiều người dùng tăng lên, sẽ xuất hiện một chi phí (không nhất thiết bằng tiền) đối với người đang sử dụng chúng, thì phương tiện đó gọi là "tắc nghẽn".





