Core Inflation / Lạm Phát Cơ Bản
Lạm phát cơ bản là tỷ lệ lạm phát thể hiện sự thay đổi mức giá mang tính chất lâu dài mà loại bỏ những thay đổi mang tính tạm thời nên lạm phát cơ bản chính là lạm phát xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ (hay chính lạm phát theo quan niệm của Friedman). Do đó không phải là CPI mà Lạm phát cơ bản là một công cụ đắc lực giúp Ngân hàng trung ương (NHTW) có con mắt đánh giá đúng đắn về lạm phát, qua đó mới có thể chỉ dẫn cho mục tiêu chính sách tiền tệ trong tương lai và một khi giá cả ổn định sẽ là tiền đề cho các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác ổn định và phát triển. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng các tác động của chính sách tiền tệ sau một độ trễ thời gian mới có hiệu lực, do đó sẽ là quá muộn nếu các NHTW đợi cho đến khi tỷ lệ Lạm phát cơ bản bắt đầu tăng thì mới bắt đầu cố gắng làm giảm sức ép lạm phát. Tùy vào các phương pháp đo lường khác nhau, các nước công nghiệp tiên tiến có phân biệt rõ ràng giữa tỷ lệ lạm phát được công bố rộng rãi theo thông lệ (thường là CPI, chỉ số giảm phát GDP) và tỷ lệ Lạm phát cơ bản (có thể công bố hoặc không công bố mà chỉ để sử dụng nội bộ tuỳ từng quốc gia). Điểm khác nhau giữa CPI, chỉ số giảm phát GDP và tỷ lệ Lạm phát cơ bản là CPI và chỉ số giảm phát GDP đều do tổng hợp tất cả các nhân tố tác động lên Mức giá, bao gồm cả sức ép về cầu, cung cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai; còn Lạm phát thực chất chính là tỷ lệ lạm phát đã được điều hoà theo các yếu tố sức ép bên cầu cùng với những trông chờ kỳ vọng vào tương lai và loại bỏ những biến động lớn gây sốc bên cung. Ví dụ đối với một số loại giá được coi là biến động lớn, khá ngẫu nhiên mà không theo bất kỳ một hướng nào như trường hợp của các loại lương thực thực phẩm biến động theo thời vụ và theo chất lượng mùa màng, sự gia tăng của giá dầu thô cũng thường xuyên chịu tác động bởi nhân tố tạm thời, chẳng hạn như thời tiết; những thay đổi về giá các mặt hàng do nhà nước quản lý, thay đổi các mức thuế gián thu,... Tất cả những cái đó chỉ gây ra thay đổi tạm thời mức giá và sẽ biến mất sau đó mà không đưa ra được xu hướng của lạm phát về cơ bản và lâu dài. Do những biến động này đều là những biến động nhất thời về giá cả và làm méo mó việc đo lường xu hướng lạm phát nên đều phải loại trừ. Trên thực tế, sẽ rất khó khăn trong việc xác định liệu những biến động về giá cả chỉ là tạm thời hay chúng kéo dài trong một thời gian lâu hơn. Chẳng hạn như giá cả dầu thô. Sự tăng giá của dầu thô ngoài sự biến động mùa vụ do thời tiết còn phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu trung hạn về dầu thô trên thị trường quốc tế và do đó lại phụ thuộc vào các nhân tố tăng trưởng kinh tế. Theo quan điểm của các nước nhập khẩu dầu, những thay đổi về tỷ giá của đồng bản tệ so với đồng USD cũng đóng một vai trò quan trọng đối với sự biến động giá dầu. Đối với các loại thực phẩm theo thời vụ lại có vấn đề là: Trong khi có những biến động lớn mang tính đột biến thì giá cả của các mặt hàng này vẫn theo xu hướng giá cả chung. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp nếu ta loại hẳn các loại giá cả này ra khỏi CPI thì sẽ loại bỏ cả phần biến động mang tính chất lâu dài của các nhóm này nên sẽ tách hẳn chúng khỏi xu hướng chung và do đó có thể sẽ làm thay đổi xu hướng. Chính vì vậy nếu loại bỏ hoàn toàn và thường xuyên các cấu phần giá cả nhiên liệu và lương thực thực phẩm thời vụ thì xu hướng lạm phát không bao giờ được phản ánh đầy đủ. Hơn nữa việc tách hẳn nhân tố tạm thời ra khỏi nhân tố lâu dài cũng rất khó khăn. Do đó, để khắc phục nhược điểm này nhiều NHTW đang tăng cường sử dụng mô hình hoá tỷ lệ lạm phát cơ bản ở nước mình theo hai cách chủ yếu: một là xác định các thành phần giá cả dễ biến động và quy định một quyền số thấp trong tính toán, như vậy những thông tin về loại giá cả này không hoàn toàn mất đi. Hai là chia tách sự biến động chỉ số giá cả tiêu dùng, hoặc các nhóm hàng hoá riêng lẻ cấu thành CPI thành những phần mang tính tạm thời và phần mang tính thường xuyên và lâu dài, trong đó phần có tính lâu dài sẽ biểu thị xu hướng lạm phát và tỉ lệ lạm phát khi đó sẽ được xác định tương ứng cho kỳ hạn dài hơn 1 năm.
Co-Ordinated Wage Policy / Chính Sách Tiền Lương Phối Hợp
Sự phối hợp giữa giới chủ và công đoàn để giải quyết lần lượt những đề nghị hay yêu cầu về lương của công đoàn.
Cooling Off Period / Giai Đoạn Lắng Dịu
Một giai đoạn trì hoãn được tiến hành hợp pháp trước khi hoạt động đình công có thể bắt đầu để giảm bớt căng thẳng hay làm lắng động cảm xúc và do đó nó được cho thời gian để đánh giá hợp lý hơn về vấn đề được tranh cãi.
Cook The Books / Xào Sổ Sách
Xào sổ sách là thuật ngữ được dùng để chỉ các hoạt động gian lận của các công ty hay tập đoàn, nhằm điều chỉnh các báo cáo tài chính để tạo thuận lợi, lợi nhuận cho mình. Trong thời gian vừa qua, chúng ta từng chứng kiến những scandal của các tập đoàn hùng mạnh như Enron, Worldcom - tất cả liên quan tới những báo cáo tài chính gian lận, họ đã có hành động xào sổ sách nhằm cải thiện số liệu tài chính. Khi hành động đó bị phanh phui thì cũng là lúc các công ty này đi tới phá sản. Đây là một bài học rất đắt cho các doanh nghiệp. Nó khiến cho các nhà đầu tư và quản lý giật mình bởi những hậu quả khó lường hết ẩn đằng sau những con số bóng bẩy, đẹp đẽ. Việt Nam cũng không là ngoại lệ, việc xào sổ sách cũng rất phổ biến và thường liên quan tới các vấn đề doanh thu, chi phí, hợp đồng thuê - mua...
Convex Function (Convexity) / Hàm Lồi (Tính Lồi)
Một hàm lồi so với gốc toạ độ, do đó, ĐẠO HÀM bậc hai của nó là dương.
Convertible Term Insurance / Bảo Hiểm Định Kỳ Chuyển Đổi Được
Một chính sách bảo hiểm trong đó doanh nghiệp bảo hiểm được yêu cầu cần thiết phải đổi mới chính sách trong một thời gian nhất định bất kể sự có sự thay đổi nào với sức khỏe của người được bảo hiểm hay không. Thỏa thuận này đòi hỏi phí bảo hiểm được trả đúng thời gian và người được bảo hiểm không có sự thay đổi nào trừ khi có sự thay đổi về phí bảo hiểm được thực hiện cho một loại bảo hiểm đặc biệt của người sử dụng loại bảo hiểm đó. Ngoài ra, điều này còn đảm bảo cho quyền tái bảo hiểm hoặc quyền chuyển đổi loại hình bảo hiểm hoặc đảm bảo việc bảo hiểm được thực hiện.
Convertible Security / Chứng Khoán Chuyển Đổi Được
Một loại chứng khoán, tức là một khiếu nợ đối với người phát hành, có thể chuyển đổi sang các loại khác trong đó có tiền mặt.
Convertible Securities / Chứng Khoán Chuyển Đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi - là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó thành một chứng khoán khác.Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là: Cổ phiếu ưu đãi; Trái phiếu. Mục đích của việc phát hành và đầu tư vào chứng khoán chuyển đổi: Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những thời điểm chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống giá. Lợi ích của trái phiếu chuyển đổi: - Đối với bên phát hành: do việc người đầu tư sẽ được hưởng quyền chuyển đổi trái phiếu này ra cổ phiếu thường khi đến hạn, nên: Nếu là trái phiếu: bên phát hành sẽ bán trái phiếu ra với lãi suất thấp. Nếu là cổ phiếu ưu đãi : bên phát hành sẽ chào bán với giá cao. Khi các chứng khoán được chuyển đổi, nhà phát hành còn có lợi vì loại bỏ được các khoản cố định phải trả, đồng thời tăng thêm số lượng cổ đông của công ty, một chỉ báo có lợi cho danh tiếng của công ty. - Đối với người đầu tư: Chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn ở chỗ chúng kết hợp được tính an toàn của trái phiếu (thu nhập cố định) với tính có thể đầu cơ của cổ phiếu thường. Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư có thể được bảo hiểm trước tình trạng lạm phát. Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tùy thuộc nhiều vào giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan giá giữa công cụ có thể chuyển đổi với những công cụ mà chúng có thể chuyển đổi thành. Đó là những yếu tố thường không nằm trong tầm kiểm soát của người đầu tư. Ví dụ 1: một trái phiếu có mệnh giá là 1.000.000 đồng; nếu cứ 50.000 đồng được đổi lấy một cổ phần của cổ phiếu thường, thì giá chuyển đổi là 50.000 đồng; hệ số chuyển đổi là 1.000.000 đồng: 50.000 đồng = 20 (cổ phần). Ví dụ 2: Giả sử trái phiếu trên đang có giá là 1.045.000 đồng; được chuyển thành 100 cổ phần của một cổ phiếu thường. Giá tương đương chuyển đổi là 1.045.000 đồng:100 = 10.450 đồng. Điều đó có nghĩa là giá trị trường của cổ phiếu ít nhất phải bằng 10.045 đồng thì việc nắm giữ trái phiếu và chuyển đổi nó thành cổ phiếu mới được coi là tương đương về mặt giá trị. Nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá tương đương chuyển đổi thì việc chuyển đổi sẽ đem lại một phần lợi nhuận. Trên thực tế rất có thể giá cổ phiếu không lên tới mức mà người nắm giữ trái phiếu có thể chuyển đổi trái phiếu để thu lợi nhuận.
Convertible Preferred Stock / Cổ Phiếu Ưu Đãi Chuyển Đổi
Một rủi ro trong mua cổ phiếu đó là nguy cơ bị thua lỗ, nhưng tránh không chơi cổ phiếu cũng có nghĩa là bạn đã bỏ lỡ cơ hội kiếm lời lớn. Tuy nhiên có một loại chứng khoán có thể giải quyết được tình trạng khó xử này của bạn, đó chính là cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi_một loại cổ phiếu đảm bảo sẽ mang đến cho bạn một khoản lãi cố định cộng với cơ hội làm cho vốn đầu tư của bạn có khả năng sinh sôi. Cổ phiếu ưu tiên chuyển đổi là loại cổ phiếu có lãi suất cố định trong đó nhà đầu tư có thể lựa chọn chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu thường của công ty phát hành sau một khoảng thời gian nhất định đã được thoả thuận trước từ khi mua, hoặc là vào một ngày nào đó trong tương lai. Vì có lãi suất cố định nên người nắm giữ sẽ có một lượng thu nhập ổn định trên cổ phiếu và đồng thời nguồn vốn đầu tư cũng được đảm bảo. Thêm vào đó việc lựa chọn chuyển đổi cổ phiếu này thành cổ phiếu thường của công ty phát hành có thể sẽ mang lại cho nhà đầu tư cơ hội hưởng lợi từ việc tăng giá của cổ phiếu thường. Cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi đặc biệt rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư muốn được hưởng lợi từ việc kinh doanh hiệu quả của công ty nhưng cũng muốn tránh được rủi ro từ việc rớt giá của cổ phiếu nếu như công ty không hoạt động tốt như mong đợi.
Convertible Bond (CVS) / Trái Phiếu Chuyển Đổi
Trái phiếu chuyển đổi là một loại trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu công ty theo một tỉ lệ công bố trước và vào một khoảng thời gian xác định trước. Thông thường bao giờ người phát hành trái phiếu chuyển đổi cũng dành cho người mua quyền quyết định có chuyển đổi sang cổ phiếu hay không. Người nắm giữ trái phiếu chuyển đổi có quyền không chuyển sang cổ phiếu nếu tại thời điểm chuyển đổi, công ty làm ăn không tốt. Trái phiếu chuyển đổi có thể được coi là sự kết hợp giữa một trái phiếu thường và một quyền chọn mua cổ phiếu. Thông thường, trái phiếu loại này có tỉ suất trái tức tương đối thấp so với các loại trái phiếu khác, song bù lại, nó hứa hẹn đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận lớn hơn từ khả năng mua được cổ phiếu với mức giá ưu đãi trong tương lai. Quyền chọn mua cổ phiếu chính là giá trị gia tăng của loại trái phiếu này, khiến nó trở thành một mặt hàng rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhiều khi, công ty chưa phát hành cổ phiếu, nhưng trái phiếu chuyển đổi của nó đã trở thành một mặt hàng được giới đầu tư săn lùng gắt gao, đặc biệt là trong trường hợp các "bluechip" tương lai. Từ góc độ của công ty phát hành, lợi ích chủ yếu của việc huy động vốn từ trái phiếu chuyển đổi là việc giảm được lãi suất đi vay. Ngoài trái phiếu chuyển đổi còn có một loại chứng khoán gần tương tự với nó, đó là trái phiếu hoán đổi (exchangeable bond). Hai loại này khá giống nhau, chỉ khác ở chỗ loại cổ phiếu mà trái phiếu hoán đổi nhận được là cổ phiếu của công ty khác. Phát hành trái phiếu chuyển đổi là một cách giúp công ty tránh việc nhà đầu tư nhìn nhận các hành động của mình theo chiều hướng tiêu cực. Ví dụ, một công ty đã niêm yết, chọn cách tăng vốn thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu. Thị trường thường nhìn nhận việc này như một tín hiệu cho thấy giá cổ phiếu của công ty đang được định giá quá cao. Để tránh ấn tượng xấu này, công ty sẽ phát hành trái phiếu chuyển đổi mà những người nắm giữ có thể chuyển sang cổ phiếu nếu công ty làm ăn tốt.
Convertible Bond / Trái Phiếu Chuyển Đổi
Là một loại trái phiếu doanh nghiệp có thể chuyển đổi thành cổ phiếu của doanh nghiệp đó theo tỷ lệ chuyển đổi và khuôn khổ thời gian, xác định ngay tại thời điểm phát hành. Loại trái phiếu này có đặc điểm là được trả một mức lãi suất cố định nên có vẻ giống như trái phiếu nhưng mặt khác lại có thể chuyển đổi thành loại cổ phiếu thường của công ty và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu có tính chuyển đổi. Khi thị trường đang phát triển, nhà đầu tư thường quan tâm nhiều đến cổ phiếu (CP) nên thị trường trái phiếu (TP) bị sa sút. Để tăng tính hấp dẫn với người đầu tư, các công ty phát hành TP có thể thêm vào đặc tính chuyển đổi, và công ty sẽ trả lãi suất thấp hơn cho nhà đầu tư sở hữu loại TP chuyển đổi này. Ngược lại, khi thị trường TP phát triển, TP có tính chuyển đổi sẽ phát huy tác dụng như một phương tiện tăng vốn cổ phần dựa trên cơ sở trì hoãn trả nợ vì khi TP chuyển đổi biến thành CP, vốn huy động của công ty sẽ thay đổi từ nợ sang vốn. Loại công cụ này cho phép tổ chức phát hành vay vốn với một chi phí (lãi suất) thấp trong hiện tại, đồng thời có thể hoán chuyển khoản nợ đó thành vốn cổ phần trong tương lai. Sở dĩ loại trái phiếu này thường có lãi suất thấp vì thuộc tính có thể chuyển đổi thành cổ phiếu có sức hấp dẫn đối với công chúng đầu tư. Người đầu tư có thể chấp nhận mức lãi suất danh nghĩa thấp hiện tại để đổi lấy quyền chuyển thành cổ phiếu trong tương lai. Ví dụ. Công ty niêm yết ABC hiện có 10 triệu cổ phần, giá thị trường là 30.000 đồng/cổ phiếu. Giả sử công ty phát hành thêm 1 triệu trái phiếu chuyển đổi, mệnh giá 100.000 đồng/trái phiếu, lãi suất 2%/năm.Sau 1 năm kể từ ngày phát hành có thể chuyển đổi thành cổ phiếu ABC theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phiếu) với tỷ lệ 1 trái phiếu: 10 cổ phiếu, 100% được phát hành cho cổ đông với tỷ lệ 10:1 (sở hữu 10 cổ phiếu được mua 1 trái phiếu).Theo ví dụ trên, có thể thấy rằng loại trái phiếu này tỏ ra rất hấp dẫn đối với người đầu tư, vì tuy mức lãi suất thấp nhưng họ được quyền mua cổ phiếu ABC với mức giá chỉ bằng 1/3 mức giá hiện hành sau thời hạn 1 năm.
Convertible Adjustable Preferred Stocks (CAPS) / Cổ Phần Ưu Đãi Điều Chỉnh Có Khả Năng Chuyển Đổi
Là cổ phần ưu đãi có tỷ lệ lãi (cổ tức) thả nổi và gắn cố định với tỷ lệ lãi suất của chứng khoán kho bạc. Loại cổ phần này có thể được chuyển thành cổ phần phổ thông hoặc tiền mặt theo mệnh giá cổ phiếu (gọi là par value hay giá trị bề mặt-face value) hoặc giá vào lúc đáo hạn (maturity date) sau khi mức cổ tức ở kì tiếp theo đã được thông báo. Hiện nay trên thị trường có các chứng khoán ghi mệnh giá trên bề mặt như trái phiếu nhưng có công ty lại phát hành các trái phiếu không ghi mệnh giá. Mệnh giá không có liên hệ với giá thị trường. Trị giá thị trường của chứng khoán phụ thuộc vào mức hoa lợi, khả năng kinh doanh và các kỳ vọng của nhà đầu tư về các lợi nhuận của công ty trong tương lai. Ngoài ra, mệnh giá còn rất quan trọng đối với trái phiếu và chứng khoán ưu đãi. Lãi suất trái phiếu được trả dựa trên tỷ lệ phần trăm nhất định so với mệnh giá. Cổ tức của chứng khoán ưu đãi thường thường hay được trả theo số phần trăm mệnh giá của chứng khoán ưu đãi đã phát hành. Đặc điểm có thể chuyển đổi của loại cổ phiếu này giúp các nhà đầu tư bảo vệ an toàn số tiền đầu tư của mình và tạo ra mức thanh khoản cao hơn trong trường hợp khả năng tài chính-tín dụng của tổ chức phát hành bị giảm xuống.
Convertibility / Khả Năng Chuyển Đổi
Một thuộc tính của một đồng tiền có thể trao đổi một cách thoải mái với một đồng tiền khác hay với vàng. (Xem EXCHANGE RATES, GOLD STANDARD, EXCHANGE RESERVES, GOLD RESERVES).
Conversion Privilege / Đặc Quyền Chuyển Đổi, Quyền Chuyển Đổi Hợp Đồng
Đặc tính trong cầm cố có lãi suất điều chỉnh cho phép người vay chuyển sang khoản vay có lãi suất cố định, thường vào cuối kỳ điều chỉnh lãi suất lần đầu.
Conversion / Chuyển Đổi
1. Chuyển đổi giấy phép ngân hàng bởi một ngân hàng hay một tổ chức tiết kiệm, ví dụ, một ngân hàng được cấp phép tiểu băng nộp đơn xin được cấp phép quốc gia từ Kiểm toán Trưởng Tài Chính. Chuyển đổi giấy phép giúp ngân hàng có lợi thế khác biệt trong quy định ngân hàng, như những giới hạn cho vay pháp lý tự do hơn đối với các ngân hàng được cấp phép tiểu bang tại một vài bang. 2. Chuyển từ quyền sở hữu hỗ tương sang quyền sở hữu cổ phần thông qua các quyền lợi cổ phiếu thường được thực hiện bởi một ngân hàng tiết kiệm hay hiệp hội tiết kiệm và cho vay nhằm nâng vốn cổ phần. 3. Chuyển cầm cố có lãi suất điều chỉnh sang khoản vay có lãi suất cố định, thường tính thêm phụ phí đối với người vay nếu được thực hiện trong một thời kỳ nhất định. 4. Trao đổi chứng khoán có thể chuyển đổi, như giấy nợ vốn hay giấy nợ để lấy một số cổ phiếu thường nhất định. 5. Trao đổi cổ phiếu quỹ hỗ tương lấy các cổ phiếu trong một nguồn quỹ khác, thường là miễn phí nếu việc chuyển xảy ra trong nội bộ các quỹ. 6. Theo luật đối với hành vi sau, việc sử dụng sau tài sản thuộc về một người khác, như khi người được ủy thác sử dụng tài sản trong một quỹ ủy thác cho lợi ích cá nhân.
Convergence Thesis / Luận Chứng Hội Tụ
Ý tưởng cho rằng các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đi ra khỏi các dạng "lý tưởng" tương ứng của chúng và tiến hoá theo những hình thái, suy nghĩ, thể chế và phương pháp ngày càng giống nhau.
Conventional Wisdom / Lẽ Phải Thông Thường
Conventional wisdom là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong chính trị, kinh tế và tài chính. Đây là thuật ngữ được đưa ra bởi nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith trong tác phẩm The Affluent Society. Thuật ngữ này dùng để chỉ những quan niệm hoặc cách giải thích được phần đông dân chúng cho là đúng và hợp lí. Conventional wisdom có thể đúng hoặc sai. Ví dụ, rất nhiều các truyện dân gian được chấp nhận dựa trên lẽ phải thông thường. Nhưng trên thực thế, lẽ phải thông thường thường được coi là một trở ngại để đưa ra các học thuyết mới hoặc các giải thích có tính sáng tạo. Mặc dù có các thông tin và phát hiện mới ra đời, nhưng Conventional wisdom lại mang nặng tính ì, đó là một động lực ngăn cản việc đưa ra các giải thích ngược lại, đôi khi còn dẫn đến sự phủ nhận cái mới đến mức vô lí. Tính ì được tạo ra do Conventional wisdom được tạo ra dựa trên những quan niệm mang tính tiện lợi thông thường, lôi cuốn và được dân chúng tin tưởng, họ tin vào quan niệm đó ngay cả khi các quan niệm này đã lỗi thời. Hậu quả không thể tránh khỏi đó là những quan niệm này sẽ không còn phù hợp với thực tế, và cuối cùng Conventional wisdom sẽ bị thay đổi. Theo cách thông thường được hiểu, Conventional wisdom dùng để chỉ niềm tin vào một vấn đề nào đó mà hầu như không có ai cãi lại quan điểm có, và vì vậy nó được coi như là một thước đo của một hành vi hay niềm tin nào đó, thậm chí trong cả môi trường chuyên gia. Ví dụ, ở năm 1960, hầu hết các bác sĩ phát biểu rằng hút thuốc lá không có hại lắm đến sức khỏe, đó là Conventional wisdom. Khi Conventional wisdom mới thay thế cái cũ, nó có thể có liên hệ hoặc hoàn toàn không có liên hệ gì với quan niệm cũ.
Control Of Money In CIrculation / Kiểm Soát Luồng Tiền
Tiền tệ, nguồn năng lượng cho nền kinh tế được tạo ra chẳng dựa trên vật chất gì mà chỉ bởi Hệ thống Dự trữ Liên bang. Giữ cho một nền kinh tế hiện đại hoạt động xuôn xẻ cần một phi công có khả năng giữ cho nó khỏi bị quá chậm trễ và cũng không tăng tốc nhanh quá. Nước Mỹ, giống như hầu hết các quốc gia khác, cố gắng kiểm soát lượng tiền trong lưu thông. Quá trình đổ thêm tiềnvào hoặc rút bớt tiền phản ánh chính sách tiền tệ mà Hệ thống Dự trữ Liên bang đang theo đuổi nhằm điều hành nền kinh tế. Chính sách tiền tệ không phải là một hệ tư tưởng cứng nhắc. Đó là một hoạt động điều chỉnh liên tục để giữ cho đủ tiền trong nền kinh tế sao cho nền kinh tế phát triển mà không cần tăng tưởng quá nhanh. Các cách kiểm soát luồng tiền: 1. Điều chỉnh lãi suất 2. Thay đổi lượng cung 3. Tạo ra tiền
Control Monopolies / Kiểm Soát Độc Quyền
Trong thị trường cạnh tranh, sản lượng và giá cân bằng thể hiện mức sản xuất và tiêu dùng có hiệu quả kinh tế tối ưu. Tuy nhiên, trong thị trường độc quyền, do sản lượng thấp hơn trong khi giá thì cao hơn so với mức cân bằng cạnh tranh nên xã hội luôn bị tổn thất. Vì thế chính phủ thường áp dụng các biện pháp điều tiết hay kiểm soát độc quyền. Biện pháp đầu tiên là cho phép thị trường trở nên cạnh tranh hơn. Chẳng hạn, vài năm trước các nhà sản xuất xe máy của hãng Honda có thể xem là độc quyền trên thị trường Việt Nam, giá mỗi chiếc lên đến 2.500 USD. Thế nhưng từ khi cho phép bán các loại xe mang nhãn hiệu khác được nhập hay lắp ráp trong nước, sức ép cạnh tranh đã buộc các nhà sản xuất xe máy Honda phải giảm giá bán hơn 50% so với trước. Đối với những ngành được độc quyền khai thác các nguồn lực chiến lược như năng lượng và khí đốt, chính phủ có thể đánh thuế để giảm bớt lợi nhuận siêu ngạch của nhà độc quyền. Ví dụ, thuế thu nhập áp dụng cho các công ty dầu khí ở Việt Nam là 50%, trong khithuế suất phổ biến cho các ngành khác chỉ là 32%. Kiểm soát giá là một biện pháp khác mà chính phủ thường áp dụng cho các ngành độc quyền tự nhiên như đường sắt, điện, nước. Lúc này, một mức giá tối đa sẽ được ấn định trên cơ sở xác định một suất sinh lợi hợp lý của nhà độc quyền, có xét đến vốn và độ rủi rotrong đầu tư của họ. Tuy nhiên việc xoá bỏ độc quyền đôi khi có thể gây tác động bất lợi cho phúc lợi xã hội, nếu chính phủ không có thêm những biện pháp ngăn ngừa các ngoại tác tiêu cực. Vấn nạn xe máy trong giao thông Việt Nam ngày nay là một ví dụ. Vì thế, sự cần thiết và biện pháp điều tiết độc quyền hiện vẫn là một chủ đề gây tranh cãi trong lĩnh vực kinh tế.
Contrarian Investing / Đầu Tư Ngược Xu Thế
Trong tài chính, đầu tư ngược xu thế là việc nhà đầu tư cố gắng tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi theo hướng khác hẳn với những suy nghĩ thông thường của số đông, khi ý kiến của số đông lại có vẻ sai.Nhà đầu tư ngược xu thế tin rằng một phản ứng nào đó của các nhà đầu tư có thể dẫn đến việc định giá sai trên thị trường chứng khoán mà anh ta có thể khai thác được. Ví dụ, kỳ vọng không tốt về một cổ phiếu có thể kéo giá xuống quá thấp đến mức nó đã quá phóng đại rủi ro, trong khi đánh giá quá thấp triển vọng kinh doanh tốt trở lại của công ty này. Xác định được và mua vào những cổ phiếu bị đánh giá thấp như vậy, và bán chúng ra sau khi công ty này đã hồi phục có thể giúp nhà đầu tư thu được lợi nhuận cao hơn bình quân thị trường.Tương tự, sự lạc quan thái quá của thị thị trường có thể dẫn đến việc đánh giá giá trị cổ phiếu cao một cách vô lý, mức giá này sau đó chắc chắn sẽ hạ xuống và những kỳ vọng cao kia rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Tránh đầu tư vào những cổ phiếu bị đánh giá quá cao sẽ giúp giảm nguy cơ mắc vào những cú rớt giá như vậy. Những nguyên tắc chung này có thể áp dụng khi đầu tư vào một cổ phiếu, một ngành, hay toàn bộ thị trường hoặc lớp tài sản nào đó.Các nhà đầu tư ngược xu thế đôi khi được coi là những người sống với thị trường giá xuốngvì họ luôn có xu hướng ưa chuộng thị trường giá xuống hơn. Tuy nhiên, nhà đầu tư ngược xu thế không phải lúc nào cũng là người có cái nhìn bi quan về kỳ vọng toàn thị trường, lúc nào cũng tin rằng cổ phiếu trên thị trường đang bị định giá quá cao hay cho rằng những quan điểm của số đông luôn luôn sai. Thay vào đó, họ tìm kiếm những cơ hội để tiến hành những khoản đầu tư cụ thể khi phần đông các nhà đầu tư khác có vẻ như đã sai khi đi theo hướng ngược lại. Sự tương đồng giữa đầu tư ngược xu thế và đầu tư giá trị Cũng giống như đầu tư giá trị, nhà đầu tư ngược xu thế luôn tìm kiếm những cổ phiếu bị thị trường đánh giá sai, mua vào những cổ phiếu bị đánh giá quá thấp. Nhiều nhà đầu tư giá trị nổi tiếng như John Neff từng đặt câu hỏi rằng liệu có tồn tại cái gọi là "đầu tư ngược xu thế" hay không, khi mà về cơ bản, nó chẳng khác gì đầu tư giá trị cả? Tuy nhiên, nếu phân định rạch ròi, nhà đầu tư giá trị là người thường xác định loại cổ phiếu cần đầu tư thông qua các chỉ số tài chính như giá trị sổ sách hay P/E. Trong khi đó, nhà đầu tư ngược xu thế, có thể cũng dựa vào những thước đo ấy, nhưng ngoài ra anh ta còn quan tâm đến những thước đo về mặt "cảm xúc" của các nhà đầu tư khác đối với loại cổ phiếu đó, như các tin tức về phân tích chiều bán và dự báo lợi nhuận, khối lượng giao dịch, các bình luận của các phương tiện thông tin đại chúng về công ty và triển vọng kinh doanh của nó.Trong ví dụ về một cổ phiếu đã rớt giá vì sự bi quan quá mức của thị trường người ta có thể nhìn thấy sự tương đồng với khái niệm "biên an toàn" mà nhà đầu tư giá trị Benjamin Graham tìm kiếm khi mua cổ phiếu, về cơ bản, đó không gì khác hơn là việc mua cổ phiếu ở mức giá dưới giá trị thực của nó. Biên an toàn có thể tồn tại khi cổ phiếu đã giảm giá rất mạnh sau những tin tức xấu và sự kém lạc quan chung của thị trường.Trong số những nhà đầu tư ngược xu thế nổi tiếng có thể kể đến những cái tên như David Dreman, John Neff (cho dù ông thường tự mô tả mình là nhà đầu tư giá trị và tự đặt câu hỏi về sự khác biệt ở bản chất của hai loại đầu tư này?)Quan hệ với Tài chính hành vi Các nhà đầu tư ngược xu thế luôn cố gắng khai thác các nguyên lý của Tài chính hành vi, và giữa hai lĩnh vực này có những sự giao thoa nhất định. Ví dụ, các nghiên cứu về tài chính tâm lý đã chứng minh rằng các nhà đầu tư theo nhóm có khuynh hướng phóng đại các xu thế mới xảy ra trên thị trường gần đây, khi dự đoán xu thế tương lai. Một cổ phiếu của một công ty có kết quả hoạt động nghèo nàn sẽ luôn được coi là một cổ phiếu tồi và ngược lại. Điều này khiến các nhà đầu tư ngược xu thế tin rằng do những giả định sai lầm của các nhà đầu tư khác về triển vọng lâu dài của công ty mà những cổ phiếu này có thể sẽ xuống giá quá mức khi có thông tin xấu.





