Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Collateral / Tài Sản Thế Chấp

Tài sản được cầm cố bảo đảm thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ nợ. Trong việc cho vay của ngân hàng, thông thường đó là vật có giá trị do người vay sở hữu. Nếu người đi vay không chi trả, tài sản cầm cố có thể được thanh lý và được bán bởi người cho vay để hoàn tất hợp đồng gốc. Bốn loại thế chấp, được Luật thương mại thống nhất công nhận, thường được sử dụng trong cho vay có bảo đảm: (1) hàng hóa thương mại, (2) giấy tờ có giá (công cụ chuyển nhượng và chứng từ quyền sở hữu), (3) tài sản vô hình, và (4) tiền thu được từ kinh doanh (tiền mặt). Vật thế chấp được giao cho người cho vay có thể là tài sản được tài trợ, như trong cho vay căn cứ tài sản, trong đó tiền vay có thể được bảo đảm bởi hàng tồn kho kinh doanh hay các khoản phải thu. Trong cho vay thế chấp mua nhà, người vay giao cho người cho vay thế chấp trên nhà cửa đang được mua.  Khi các tài sản ngân hàng được chứng khoán hóa hay được chuyển thành chứng khoán khả mại trong thị trường thứ cấp, khoản thanh toán tiền gốc và tiền lãi được coi là vật thế chấp cho các chứng kóoán được chào bán cho nhà đầu tư. Xem ASSET-BACKED SECURITIES; COLLATERAL LOAN; SECURITY AGREEMENT; SECURITY INTEREST; SIDE COLLATERAL.

Circumvention / Gian Lận, Qua Cầu Rút Ván

Loại bỏ những người đã giới thiệu cho bạn cơ hội hay nhà môi giới, với mục đích không thưởng cho họ nếu như bạn thành công.

Cash Poor / Thiếu Tiền Mặt

Thuật ngữ đề cập đến một cá nhân mà là “giàu tài sản, nhưng thiếu tiền mặt”. Mặc dù họ có thể có hàng triệu Đô la tài sản cứng, họ có thể có ít hoặc không có thanh khoản để tham gia vào các giao dịch khác nhau.

Cash Backed / Bảo Chứng Bằng Tiền Mặt

Tài sản được bảo chứng bằng tiền mặt, đây là hình thức bảo chứng hấp dẫn hơn đối với các ngân hàng và các Trader PPP.

Collateralized Mortgage Obligation - CMO / Nghĩa Vụ Trả Nợ Cầm Cố Thế Chấp

Trái phiếu cầm cố được bảo đảm bởi dòng tiền mặt của một tập tài sản thế chấp. Trong CMO, người vay thanh toán tiền gốc và lãi được tách thành nhiều dòng thanh toán khác nhau, tạo ra một số trái phiếu hoàn trả vốn đầu tư với các lãi suất khác nhau. Vốn gộp chung thường đảm bảo nhiều cấp CMO khác nhau. Một CMO trả cho chủ trái phiếu theo thời biểu khác với vốn thế chấp gộp chung, và bao gồm các trái phiếu thanh toán nhanh, thanh toán trung bình và thanh toán chậm, nhằm thích ứng với nhu cầu của các nhà đàu tư khác nhau. Thỏa thuận thường bao gồm: trái phiếu thanh toán nhanh có kỳ đáo hạn ngắn hơn tổng vốn gộp chung; tiền lãi thanh toán trái phiếu chỉ dành cho một thời kỳ có thể được cố định dựa trên các CMO trước thể hiện ra sao, trước khi thanh óoán tiền gốc bắt đầu; và một trái phiếu trả tiền lãi biến thiên căn cứ một chỉ số, thường là lãi suất chào giá liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR), mặc dù chính các thế chấp có thể là các khoản vay lãi suất cố định. Các trái phiếu thanh toán nhanh hấp dẫn hầu hết người tìm khoản vay tiết kiệm và tiền vay đầu tư có khả năng thanh toán ngắn hạn, trong khi các CMO dài hạn hơn thu hút nhu cầu đầu tư quỹ hưu trí và các nhà đầu tư định chế. Các CMO đầu tiên được phát hành bởi Công ty Cầm cố Khoản vay Mua nhà Liên bang (Freddie Mac) năm 1983. Các CMO quản lý rủi ro thanh toán trước liên quan các chứng khoán có liên kết với cầm cố, bằng cách phân tách hỗn hợp  khoản vay cầm cố thnafh nhiều loại khác nhau. Các CMO trả tiền gốc và lãi mỗi nửa năm. Một CMO có thể là việc bán tài sản không truy hồi bởi công ty phát hành, phụ thuộc giao dịch được sắp xếp ra sao. Các luật kế toán trong việc phát hành các chứng khoán này rất phức tạp. Xem ACCRUAL BOND; PASS - THROUGH SECURITY; REAL ESTATE MORTGAGE INVESTMENT CONDUIT.

Client Information Sheet - CIS / Bảng Thông Tin Khách Hàng

Một trong những tài liệu tuân thủ được yêu cầu cho các chương trình phát hành giành riêng. Tài liệu này yêu cầu các thông tin cơ bản như là chi tiết liên lạc, ngành kinh doanh mà ứng viên đang làm.

Customer/Client/Consumer/Clientele / Khách Hàng

Customer và client có thể được sử dụng để chỉ cả người hoặc công ty mua sản phẩm/dịch vụ, trong khi consumer và clientele thường dùng để chỉ người. Từ customer thường được sử dụng khi đối tượng mua bán là sản phẩm dịch vụ thông thường.Từ client hay được dùng trong trường hợp đối tượng mua bán là sản phẩm dịch vụ được thiết kế riêng, như với dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp. Với các công ty cung cấp dịch vụ công cộng, như bệnh viện hay công ty xe bus, hiện tại từcustomer và client được sử dụng nhiều hơn từ bệnh nhân hay hành khách, v.v... khi muốn tạo ra một hình ảnh chuyên nghiệp. Từ consumer được sử dụng để mô tả người mua hàng nói chung chứ không phải khách hàng hay công ty cụ thể.Từ clientele chỉ tất cả những khách hàng của một cửa hàng, nhà hàng hay sử dụng một dịch vụ nào đó.

Customer Trust / Lòng Tin Người Tiêu Dùng

Thái độ của người tiêu dùng đối với sức khoẻ kinh tế bị ảnh hưởng bởi những gì người ta nghe được. Và lòng tin hoặc sự mất niềm tin của họ ảnh hưởng tới tình trạng nền kinh tế. Nếu người tin dùng cảm thấy yên ổn về tình trạng hiện tại và tương lai, ho có xu hướng tiêu dùng khá thoải mái, điều này thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nếu họ lon lắng về an toànviệc làm, họ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn, làm chậm lại sự tăng trưởng kinh tế và toàn nền kinh tế nói chung.  Người tiêu dùng thường phản ứng chậm trước các thông tin về phục hồi kinh tế nếu họ không quan sát thấy ảnh hưởng tài chính tích cực và lập tức lên đời sống của họ.  Sự ngần ngại của họ trong việc bắt đầu chi tiêu trở lại khiến cho quá trình phục hồi kinh tế chậm lại. Các yếu tố dưới đây mô tả bức tranh thông tin phức hợp về trạng thái nền kinh tế mà chính phủ xây dựng hàng tháng và công bố.

Custom Union / Liên Minh Thuế Quan

Là một tổ chức gồm một số nước, trong đó hạn chế về mậu dịch giữa chúng được loại bỏ.

Custom Co-Operative Council / Uỷ Ban Hợp Tác Hải Quan

Một uỷ ban được thành lập năm 1950 nhằm cải thiện và làm hoà hợp các hoạt động hải quan.

Cusip / Hệ Thống Cusip

Cusip thông thường là chữ viết tắt của Uỷ ban về thủ tục nhận dạng Chứng khoán thống nhất (Committee on Uniform Security Identification Procedures) và cũng là hệ thống nhận dạng Chứng khoán gồm 9 chữ số áp dụng cho tất cả các loại Chứng khoán, gồm có cổ phần, các công ty đã đăng kí ở Mỹ/Canada, và cả trái phiếu Chính phủ, với mục đích làm thuận lợi hoá các giao dịch và thanh toán trong Thương mại. Hệ thống Cusip được ban hành bởi Hiệp hội Ngân hàng Mỹ (American Bankers Association) và được vận hành bởi Standard & Poor's. Cục dịch vụ Cusip (Cusip services Bureau) hoạt động như Hiệp hội Mã số quốc gia (National Numbering Association-NNA) đối với khu vực Bắc Mỹ, và hệ thống số CUSIP có chức năng như Hệ thống số nhận dạng Mã số quốc gia đối với các Chứng khoán phát hành ở cả Mỹ và Canada. Mã CUSIP được dùng để nhận dạng công ty phát hành chứng khoán và các công cụ tài chính khác dựa trên khung chuẩn gồm 9 kí tự gồm cả kí tự chữ và số Mã CUSIP cũng được ban hành nhằm phổ biến tiêu chuẩn nhận dạng trên các thị trường. Vào những năm 1980 đã có những nỗ lực để mở rộng hệ thống Mã Cusip cho cả các loại chứng khoán quốc tế và kết quả là Hệ thống mã số quốc tế Cusip- CUSIP International Numbering system-CINS ra đời, Nhưng hệ thống này ít được sử dụng bởi vì nó được ra đời cùng lúc với hệ thống quốc tế chuẩn ISIN (International Securities Identifying Number-Hệ thống số nhận dạng Chứng khoán quốc tế).

Current Ratio / Hệ Số Khả Năng Thanh Toán Nợ Hiện Tại

Là hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. CT:Current Ratio = Tài sản hiện tại : Các khoản phải trả hiện tại Current Ratio còn được gọi là "liquidity ratio," "Cash asset Ratio," hoặc "cash ratio." Hệ số này được sử dụng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, nhưtiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho). Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn. Tỷ lệ này cho phép hình dung ra chu kì hoạt động của công ty xem có hiệu quả không, hoặc khả năng biến sản phẩm thành tiền mặt có tốt không. Nếu công ty gặp phải rắc rối trong vấn đề đòi các khoản phải thu hoặc thời gian thu hồi tiền mặt kéo dài, thì công ty rất dễ gặp phải rắc rối về khả năng thanh khoản hay tính lỏng.

Current Liabilities / Nợ Ngắn Hạn

Một khoản nợ của công ty hay một nghĩa vụ nợ mà thường xác định trong khoảng thời gian 1 năm ( năm tài chính ). Tài sản nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán của công ty bao gồm những khoản nợ ngắn hạn, tài khoản có thể phải trả, các khoản nợ tích lũy và các loại khoản nợ khác. Về bản chất, đó là những hóa đơn phải trả giữa người đi vay và người cho vay trong một khoảng thời gian ngắn. Thông thường, công ty dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả cho nợ ngắn hạn của họ. Thông thường, các nhà phân tích hoặc những người cho vay sử dụng hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại, hoặc hệ số khả năng thanh toán nhanh để xác định khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty. Trong kế toán, thuật ngữ này được dùng để chỉ những khoản nợ của bảng cân đối kế toán trong cột ghi nợ. Nợ ngắn hạn thường phải trả trong khoảng một năm hoặc ít hơn ( ví dụ tiền lương, thuế.. ),  trái với nợ dài hạn hoặc nợ cố định.

Current Income / Thu Nhập Hiện Thời

Mục tiêu đầu tư cho danh mục chứng khoán “bảo thủ” ở mức vừa phải hoặc là quỹ hỗ tương có khả năng cung cấp cổ tức cao và các khoản thanh toán  hàng năm thỏa mãn các yêu cầu thu nhập ổn định của một nhà đầu tư.Danh mục thu nhập hiện thời thường được tạo ra cho các cá nhân trong giai đoạn họ nghỉ hưu bởi vì thu nhập ổn định là cần thiết cho họ trang trải các chi phí sống. Thu nhập mà họ nhận được từ các quỹ thu nhập hiện thời đến từ các khoản thanh toán lãi trái phiếu, cổ tứcvà khoản thanh toán hằng năm khác.Một danh mục đầu tư thu nhập hiện thời thì khá “bảo thủ”, bởi vì nó thường chứa phần lớn các chứng khoán có thu nhập cố định ( thường là trái phiếu), ngoài ra còn có các tài sản khác như các cổ phiếu blue chip và các niên kim. Một danh mục đầu tư thu nhập hiện thời có thể bao gồm quỹ hỗ tương với cùng danh mục tài sản và các chiến lược, ví dụ như quỹ trái phiếu chính phủ và một quỹ cổ tức.

Current Assets / Tài Sản Lưu Động

Gồm 3 loại tài sản chính: 1)"Dự trữ" bao gồm các hàng hoá đã được hoàn thiện, đang được sản xuất và các nguyên vật liệu thô. 2)Khoản tiền sẽ thu được hay khoản nợ ngắn hạn. 3)Tiền mặt và đầu tư ngắn hạn.

Current Assets / Tài Sản Ngắn Hạn

Bảng cân đối kế toán cho biết giá trị của tất cả tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm của một chu kỳ kinh doanh thông thường ( hoặc ít hơn 1 năm, hoặc nhiều hơn 1 năm tùy từng ngành nghề cụ thể). Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt, tài khỏan nhận được, đầu tư, chứng khoán có thể bán được, chi phí trả trước hoặc những tài sản có tính thanh khoản khác.Tài sản ngắn hạn rất quan trọng trong kinh doanh bởi đó là những tài sản được sử dụng trong quỹ hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh . Phụ thuộc vào quốc gia kinh doanh, tài sản ngắn hạn có thể được sắp xếp từ những thùng dầu thô, tới những hàng hóa, hay ngoại tệ.. Đối với mỗi cá nhân, tài sản ngắn hạn là tất cả tài sản mà một người có thể chuyển đổi sang tiền mặt được để trả những khoản nợ hiện tại và trang trải nghĩa vụ tài chính mà không phải bán tài sản cố định đi. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt gửi trong ngân hàng, và chứng khoán có thể bán được. Nói cách khác, tài sản ngắn hạn là tất cả những tài sản có tính thanh khoản cao.

Current Account / Tài Khoản Vãng Lai/ Tài Khoản Hiện Hành, Cán Cân Tài Khoản Vãng Lai

Trong ngành Ngân hàng Anh, một tài khoản mà khách hàng rút SÉC lên tới số dư tín dụng hoặc vượt quá số dư tín dụng giới hạn THẤU CHI ĐÃ ĐƯỢC THOẢ THUẬN. Ở Mỹ, đây là tiền gửi ngân hàng linh hoạt nhất và có trong tất cả các định nghĩa về cung tiền.

Currency Swap / Swap Tiền Tệ

Swap tiền tệ là một hợp đồng trao đổi ngoại tệ giữa hai bên, sau một khoảng thời gian nhất định, số tiền đó sẽ được hoán đổi ngược trở lại như ban đầu. Về cơ bản swap tiền tệ tương tự như swap lãi suất, điểm khác nhau cơ bản là swap tiền tệ được thực hiện giữa hai đồng tiền khác nhau còn swap lãi suất thực hiện trên cùng một đơn vị tiền tệ. Ngoài ra, nếu như trong swap lãi suất, khoản tiền gốc không thực sự được chuyển giao, hai bên chỉ hoán đổi lãi suất cho nhau trên một số tiền danh nghĩa của hợp đồng, thì trong swap tiền tệ có sự chuyển giao của số tiền thực tế của hợp đồng 2 lần: lúc bắt đầu swap và lúc kết thúc swap.    Swap tiền tệ có thể là hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn, thời hạn của nó có thể kéo dài đến 10 năm hoặc hơn. Không giống như vay giáp lưng, theo luật kế toán của một số nước, hợp đồng hoán đổi tiền tệ không được coi là một khoản vay, do đó nó không phản ánh trênbảng cân đối kế toán. Một hợp đồng hoán đổi tiền tệ bao giờ được cấu thành từ 2 phần, bắt đầu là một vụ trao đổi tiền tệ (nhánh ngắn), và kết thúc bằng việc thực hiện một hợp đồng kì hạn. Hợp đồng swap tiền tệ giúp một công ty có thể huy động được vốn với lãi suất thấp hơn. Ví dụ: công ty X của Mỹ phát hành một lượng trái phiếu trị giá 100 triệu CHF ( viết tắt đồng Franc Thuỵ Sĩ) sang Thuỵ Sĩ, với lãi suất cố định là 6%/6 tháng. Lý do là một số nhà đầu Thuỵ Sĩ đang có một lượng vốn bằng CHF, muốn đa dạng hoá danh mục đầu tư của họ và cần tìm những công ty như X, vì vậy họ sẵn sàng mua trái phiếu của X với mức lợi suất thấp hơn các nhà đầu tư Mỹ(8%). Công ty X đã huy động được số vốn 100 triệu CHF, tuy nhiên hoạt động chủ yếu của nó là tại Mỹ và thực hiện bằng USD, cho nên X lại tiếp tục tham gia vào một hợp đồng SWAP tiền tệ với ngân hàng First Bank London (FBL).  Hợp đồng này gần giống như X cho FBL vay 100tr CHF còn FBL cho X vay số tiền tương đương bằng USD. X đổi ngay 100tr CHF ra USD theo tỉ giá thị trường, nhận tiền lãi như tiền lãi của một khoản tiền gửi bằng CHF vào cùng ngày mà họ phải thanh toán cho các nhà đầu tư Thuỵ Sĩ, đồng thời phải trả lãi cho khoản tiền chuyển đổi tương đương bằng USD. Đến ngày đáo hạn hai bên sẽ hoán đổi ngược lại, X nhận lại 100tr CHF, FBL nhận lại USD. Nhờ sự kết hợp 2 hoạt động này mà trong khoảng thời gian 6 tháng, công ty X đã huy động được một lượng vốn lớn với lãi suất thấp hơn huy động từ các nhà đầu tư Mỹ. Để tính toán giá trị của hợp đồng SWAP người ta cũng sử dụng kĩ thuật chiết khấu dòng tiền về thời điểm hiện tại như các hợp đồng SWAP khác. Nhìn chung khi bắt đầu tiến hành nghiệp vụ SWAP, giá trị hiện tại thuần (Net present value = PVA - PVB) của hợp đồng SWAP bằng 0, tức là không bên nào có lợi hơn bên nào. Tuy nhiên do sự biến động của một số nhân tố như lãi suất, tỉ giá mà khi kết thúc hợp đồng có thể sẽ có bên lãi và bên lỗ.

Currency Substitution / Sự Thay Thế Tiền Tệ

Là hình thức thay đổi các đồng tiền có thể chuyển đổi trong các đồng tiền tệ quốc tế với mục đích sinh lợi hay tránh sự tổn thất trong việc thay đổi giá trị TIỀN TỆ.

Currency Retention Quota / Hạn Mức Giữ Ngoại Tệ

Quyền ở một số nước xuất khẩu, phần lớn là các nước XHCN, được mua lại một tỷ lệ nhất định số thu nhập NGOẠI HỐI của mình, do đó mà không bị lệ thuộc vào việc phân bổ nhập khẩu từ trung ương.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55