Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bandwagon Effect / Hiệu Ứng Đoàn Tàu

Hiệu ứng nhờ đó khi giá cả hàng hoá giảm và cầu của một vài bộ phận hay các cá nhân trong cộng đồng tăng, các cá nhân hoặc bộ phận "bắt chước" cách phản ứng này và cũng tăng cầu của họ.

Bancor / Đồng Tiền Bancor (Đồng Tiền Quốc Tế)

Một cái tên được Keynes đưa ra để chỉ tiền tệ quốc tế mà ông cho rằng nên được tạo bởi một ngân hàng quốc tế, được sử dụng để thanh toán các khoản nợ quốc tế và một phần tạo nên năng lực chuyển hoá quốc tế nhưng bị phản đối.

Balloon Mortgage / Cầm Cố Trả Dồn

Cầm cố không trả đủ tiền gốc và lãi khi đến ngày đáo hạn. Cầm cố trả dồn, cũng được biết đến như là cầm cố không khấu trừ dần, có khoản thanh toán nợ thấp hơn tiền vay cầm cố có lãi suất cố định theo quy ước, do vậy thu hút những người mua nhà mới, mà thu nhập của họ kỳ vọng sẽ tăng, hay những người mong bán được tài sản của họ, và trả dứt tiền vay trong thời gian ngắn hơn nhiều so với vay theo cầm cố khấu trừ đầy đủ theo quy ước. Có hai loại cầm cố trả dồn là tiền vay chỉ trả lãi - một khoản cầm cố với việc thanh toán chỉ trả tiền lãi còn nợ mà thôi, và cầm cố khấu trừ từng phần, cũng được biết đến như là cầm cố tái tục, là một cầm cố ngắn hạn cần được tái tài trợ khi đến cuối thời hạn quy định, thường là từ ba đến năm năm. Xem ALTERNATIVE MORTGAGE INSTRUMENTS; NEGATIVE AMORTIZATION.

Balancing Item / Phần Tử Bù Trừ

Thành phần được thêm vào để làm cân bằng bản bản quyết toán.

Balancing Allowance / Tổn Thất Định Thuế Khi Bán Tài Sản Cố Định

Lỗ hoặc lãi trước thuế sau khi bán tài sản cố định.

Balanced-Budget Multiplier / Số Nhân Ngân Sách Cân Đối

Tỷ số biến động thu nhập của thu nhập thực tế so với biến động chi tiêu chính phủ khi chi tiêu của chính phủ thu từ thuế thay đổi một lượng bằng nhau.

Balanced Investment Stategy / Chiến Lược Đầu Tư Cân Bằng

Đây là sự phân bổ danh mục đầu tư và phương thức quản trị nhằm đạt đến mục tiêu cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Các danh mục đầu tư thường được chia theo tỷ lệ bằng nhau giữa cổ phiếu và các chứng khoán có thu nhập cố định (trái phiếu)Mặc dù chiến lược đầu tư cân bằng nhằm đạt đến mục tiêu cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi, nhưng nó cũng mang nhiều rủi ro hơn các chiến lược nhằm mục tiêu nhằm bảo toàn vốn hoặc bảo toàn thu nhập hiện thời khác. Nói cách khác, chiến lược đầu tư cân bằng có gì đó giống với chiến lược đầu tư tấn công và nó thích hợp cho các nhà đầu tư có thời gian đầu tư dài (thường là trên 5 năm) và có sức chịu đựng rủi ro.

Balanced Growth / Tăng Trưởng Cân Đối

Trong HỌC THUYẾT TĂNG TRƯỞNG, điều kiện năng động của nền kinh tế trong đó tất cả các biến thực tế tăng lên liên tục cùng một tỷ lệ (có thể bằng 0, hay âm). Xem STAEDY GROWTH.

Balanced Economic Development / Phát Triển Kinh Tế Cân Đối

Quan niệm cho rằng tất cả các thành phần của nền kinh tế nên được phát triển một cách đồng thời để đạt được một dạng phát triển cân đối. Xem BALANCED GROWTH, BIG PUSH.

Balance Sheet Ratios / Các Tỷ Lệ Cân Đối Kế Toán

Các tỷ lệ cân đối kế toán dùng để đánh giá khả năng tài chính (cho vay và trả nợ) và các thay đổi vị thế tài chính của của một ngân hàng thương mại dựa trên các dữ kiện báo cáo trong bảng cân đối kế toán. Quan trọng nhất là tỷ lệ vốn (đo lường tỷ lệ vốn cổ đông đối với tổng tài sản) và tỷ lệ thanh toán (đo lường khả năng ngân hàng để trang trải số tiền ký thác được rút ra và chi trả quỹ nhằm thoả mãn nhu cầu tín dụng của người vay). Các tỷ lệ hữu ích khác là tỷ lệ tiền vay đối với số ký thác (tổng số tiền vay chia cho tổng số ký thác), tỷ lệ thanh lý (charge-off ratio), tỷ lệ xoá nợ vì khó đòi (số xoá sổ thuần được tính theo số phần trăm của tổng số tiền cho vay). Tỷ lệ dự trữ tiền vay mất đứt (số dự trữ tiền vay mất đứt đối với trên vay có khả năng mất đứt tính theo số phần trăm tổng số trên cho vay) và tỷ lệ tiền cho vay chưa trả (Nonperforming loans - tiền vay quá hạn chưa trả) đối với tổng số tiền cho vay. Tỷ lệ kế toán do nhân viên tín dụng ngân hàng dùng để đánh giá sức tín dụng của người vay. Các tỷ lệ thường được sử dụng rộng rãi nhất là: tỷ lệ đo lường sức chứng khoán (Acid test ratio) hay tỷ lệ thử biết ngay (quick ratio) được tính bằng tài sản ngắn hạn chia cho nợ hiện hành, tỷ lệ hiện hành (current ratio) được tính bằng tài sản hiện hành chia cho nợ hiện hành và tỷ lệ trang trải nợ được tính bằng vốn lưu động chia cho nợ dài hạn. Tỷ lệ tài chính có thể được đo lường dựa trên các tỷ lệ trong các năm trước hay các chỉ số công nghiệp để tính cho nhanh và dễ so sánh.

Balance Budget / Ngân Sách Cân Đối

Thu nhập hiện tại đúng bằng chi tiêu hiện tại của CHÍNH PHỦ.

Balance Sheet Ratios / Các Tỷ Số Của Bảng Cân Đối Kế Toán

1. Tỷ số được sử dụng trong việc xem xét tình hình tài chính, và những thay đổi tình hình tài chính của bất kỳ công ty nào, dựa trên các dữ liệu được báo cáo trong bảng cân đối kế toán. Một vài tỷ số cụ thể được áp dụng cho các ngân hàng. Các tỷ số quan trọng nhất là các tỷ số vốn (capital ratios) (đo lường tỷ lệ vốn cổ phần so với tổng tài sản) và các tỷ số thanh khonar (liquidity ratios) (đánh giá khả năng chi trả việc rút tiền gửi từ ngân hàng và thanh toán các quỹ, nhằm đáp ứng các nhu cầu tín dụng của người vay). Các tỷ số hữu ích khác là tỷ số tiền vay so với tiền gửi (tổng số tiền vay được chia cho tổng số tiền gửi) tỷ lệ xóa sổ (charge-off ratio) (xóa sổ ròng tính theo phần trăm tổng số tiền vay), tỷ lệ dự phòng lỗ tiền vay (dự phòng lỗ tiền vay đối với tiền vay có khả năng khó đòi tính theo phần trăm tổng tiền vay), và tỷ lệ tiền vay không hoạt động so với tổng tiền vay. Xem NET INTEREST MARGIN; RETURN ON ASSETS; RETURN ON EQUITY. 2. Các tỷ số kế toán được nhân viên tín dụng ngân hàng sử dụng, nhằm đnáh giá khả năng đủ tiêu chuẩn tín dụng của người vay. Các tỷ số được sử dụng phổ biến là : tỷ số thanh toán nhanh hay tỷ số tức thời (tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn); tỷ số thanh toán hiện hành (tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn); và tỷ số trang trải nợ (vốn hoạt động chia cho nợ dài hạn). Các tỷ số tài chính có thể được đo lường bằng cách so sánh với các tỷ số năm trước hay mức bình quân công nghiệp, nhằm só sánh nhanh và dễ dàng. Các tỷ số về hiệu quả then chốt như tỷ số nợ (nợ dài hạn tính theo phần trăm tỷ số nợ ròng của cổ đông), thường được dùng trong việc định giá khoản vay thương mại. Tiền vay có thể dùng dải lãi suất quanh lãi suất cơ bản, ví dụ, lãi suất cơ bản (base rate primary date) của ngân hàng cộng với 25 điểm cơ sở, nếu đòn bẩy tài chính được duy trì bằng hoặc dưới một mức nhất định. Xem RATIO ANALYSIS.

Balance Sheet / Bảng Cân Đối Kế Toán

1. Báo cáo vị thế tài chính của ngân hàng liệt kê các tài sản sở hữu, các khoản nợ, và vốn cổ phần của chủ sở hữu vào thời điểm cụ thể. Các ngân hàng nhận tiền gửi (được tính như nợ phải trả của ngân hàng) và cho vay (được tính là tài sản của ngân hàng). Điều này giải thích tầm quan trọng của việc quản lý tài sản - nợ phải trả trong việc quản lý suất sinh lợi và sự ổn định thu nhập của ngân hàng.  Hệ thống kế toán ngân hàng khác với hệ thống kế toán doanh nghiệp, trong đó các tài khoản thuộc sổ cái ngân hàng được cân đối hàng ngày, là báo cáo tình hình hàng ngày, cung cấp bằng chứng rằng các sổ sách kế toán của ngân hàng đã cân đối trong ngày hôm đó.  Thông tin trong bảng cân đối này được báo cáo hàng quý cho cổ đông và công chúng, và báo cáo theo yêu cầu và báo cáo tình hình đối với cơ quan điều lệ ngân hàng.  2. Bức tranh tài chính mô tả các tài sản sở hữu và các khoản nợ phải trả. Số chênh lệch được gọi là giá trị ròng (net worth).

Một báo cáo tài chính tóm tắt các tài sản, nợ phải trả của công ty và vốn chủ sở hữu tại một thời điểm cụ thể. Ba phần của bảng cân đối cung cấp cho các nhà đầu tư một cái nhìn về những gì công ty sở hữu và nợ, cũng như số tiền mà các cổ đông đầu tư. Bảng cân đối kế toán phải tuân theo công thức sau: Tài sản = Nợ phải trả + vốn chủ sở hữu cổ đông Nó được gọi là một bảng cân đối vì hai bên cân bằng nhau. Điều này có ý nghĩa là một công ty có phải trả cho tất cả những gì nó có (tài sản) bằng cách vay tiền (nợ phải trả) hoặc nhận được từ các cổ đông (vốn chủ sở hữu). Mỗi phần trong ba phân đoạn của bảng cân đối sẽ có nhiều mục với các con số nói lên giá trị của mỗi tài sản, nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu. Các mục như tiền mặt, hàng tồn kho và tài sản huộc phía bên tài sản của bảng cân đối, trong khi ở phía bên nợ phải trả có các mục như tài khoản phải trả hoặc nợ dài hạn. Các mục chính xác trên bảng cân đối sẽ khác nhau giữa các ngành khác nhau, vì không có một mẫu nào có thể ghi lại chính xác sự khác biệt giữa các doanh nghiệp.

Balance Sheet / Bản Cân Đối Kế Toán

Báo cáo tài chính là một hệ thống các số liệu và phân tích cho ta biết tình hình tài sản và nguồn vốn, luồng tiền và hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Báo cáo tài chính có 4 loại: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Trong đó Bảng cân đối kế toán hay còn gọi là báo cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chính, cho biết tình trạng tài sản của công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối tháng. Báo cáo tài chính là một hệ thống các số liệu và phân tích cho ta biết tình hình tài sản và nguồn vốn, luồng tiền và hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp. Báo cáo tài chính có 4 loại: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. Trong đó Bảng cân đối kế toán hay còn gọi là báo cáo tình hình hay báo cáo vị thế tài chính, cho biết tình trạng tài sản của công ty, nợ và vốn cổ đông vào một thời điểm ấn định, thường là lúc cuối tháng. Đây là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một khối vốn (tài sản) được bố trí dựa trên nguồn của vốn đó (nợ và vốn cổ đông). Tài sản tương đương với nợ và vốn cổ đông nên bản cân đối tài khoản là bản liệt kê các hạng mục sao cho hai bên đều bằng nhau. Không giống với bản báo cáo kết quả kinh doanh là bản cho biết kết quả của các hoạt động trong một khoảng thời gian, bản cân đối kế toán cho biết tình trạng các sự kiện kinh doanh tại một thời điểm nhất định. Nó là một ảnh chụp (tĩnh) chứ không phải là một cuốn phim (động) và phải được phân tích dựa trên sự so sánh với các bản cân đối kế toán trước đây và các báo cáo hoạt động khác. Bảng cân đối kế toán có vai trò hết sức quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, không những phản ánh vừa khái quát vừa chi tiết tình trạng tài sản và vốn của doanh nghiệp mà còn là minh chứng thuyết phục cho một dự án vay vốn khi doanh nghiệp trình lên ngân hàng, và đồng thời cũng là căn cứ đáng tin cậy để các đối tác xem xét khi muốn hợp tác với doanh nghiệp. Bảng cân đối kế toán có những đặc điểm chủ yếu sau đây : - Các chỉ tiêu được biểu hiện dưới hình thái giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới các hình thái (cả vật chất và tiền tệ, cả vô hình lẫn hữu hình) . - BCĐKT được chia thành 2 phần theo 2 cách phản ánh tài sản là cấu thành tài sản và nguồn hình thành nên tài sản. Do vậy, số tổng cộng của 2 phần luôn bằng nhau. - BCĐKT phản ánh vốn và nguồn vốn tại một thời điểm nhất định. Thời điểm đó thường là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán. Chúng ta có thể xem kết cấu khái quát của bảng cân đối kế toán theo mẫu dưới đây:     Phần tài sản   Nội dung Loại A Số dư nợ tài khoản loại 1 và loại 3 Loại B Số dư nợ tài khoản loại 2 ( nếu dư có ghi âm ) Tổng cộng tài sản Cộng loại A và B Phần nguồn vốn   Loại A Số dư có tài khoản loại 3 và loại 1 Loại B Số dư tài khoản loại 4 ( nếu dư nợ ghi âm ) Tổng cộng nguồn vốn Cộng loại A và B                                                Chỉ tiêu ngoài bảng

Balance Principle / Nguyên Lý Cân Đối

Một phương pháp cơ bản của kế hoạch Xô Viết đó là kế toán sổ kép bằng giá cả hay vật chất.Mục đích của cân đối là đảm bảo sự đồng bộ trong các kế hoạch. Các cân đối này ít phức tạp hơn trong bảng cân đối LIÊN NGÀNH thực hiện vai trò tương tự trong lập kế kế hoạch. Về nghĩa riêng xem MATERIALS BALANCE PRINCIPLE.

Balance Of Trade - Balance Of Payment / Cán Cân Thương Mại - Cán Cân Thanh Toán

Cán cân thanh toán (balance of payment) là bản kết toán tổng hợp giá trị bằng tiền của tất cả giao dịch quốc tế của một quốc gia, bao gồm: giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa, và thu nhập từ dịch vụ và đầu tư. Cán cân thương mại (balance of trade) là bộ phận trong cán cân thanh toán liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

Cán cân thanh toán (balance of payment) là bản kết toán tổng hợp giá trị bằng tiền của tất cả giao dịch quốc tế của một quốc gia, bao gồm: giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa, và thu nhập từ dịch vụ và đầu tư. Cán cân thương mại (balance of trade) là bộ phận trong cán cân thanh toán liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

Balance Of Trade / Cán Cân Thương Mại

Balance Of Trade là cán cân thương mại thường chỉ cán cân mậu dịch "hữu hình", đó là buôn bán hàng hoá trong một giai đoạn nhất định. Trên thực tế cán cân mậu dịch chỉ là một yếu tố, các yếu tố khác là vô hình trong "Cán cân thanh toán vãng lai" mà nó chỉ là một phần của toàn bộ CÁN CÂN THANH TOÁN của một nước.

Balance Of Payments Approach To Exchange Rate - BOP / Bản Ghi Chép Phản Ánh Cung Cầu Ngoại Tệ

Balance Of Payments Approach To Exchange Rate - BOP là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại giá trị tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.BOP được kết cấu thành 3 cán cân bộ phận chính: Cán cân vãng lai (Current Balance Account - CA) Cán cân vốn (Capital Balance Account) Cán cân bù đắp chính thức: Official Financing Balance - OFB): Là hạch toán các giao dịch can thiệp của ngân hàng trung ương trên thị trường ngoại hối. Khi cán cân thâm hụt, ngân hàng trung ương mua nội tệ (bán ngoại tệ), làm phát sinh cung ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Khi cán cân tổng thể thặng dư, ngân hàng trung ương bán nội tệ (mua ngoại tệ), làm phát sinh cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Những tài khoản trên BOP phản ánh hoạt động thương mại quốc tế, sự di chuyển của các luồng vốn... là thước do của tất cả các nhân tố làm phát sinh cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Điều này làm BOP trở thành phương tiện dễ dàng, thuận tiện và hiệu quả trong việc tiếp cận lý thuyết xác định tỷ giá. Do đó, có thể xem BOP là một bản danh sách ghi chép tất cả các khoản mục đứng đằng sau cung cầu một đồng tiền.

Balance Of Payments / Cán Cân Thanh Toán

Việc hạch toán các giao dịch kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Cán cân thanh toán của bất kỳ quốc gia nào cũng được chia thành hai loại tài chính: tài khoản vãng lai (current account), tượng trưng cho thương mại xuất nhập khẩu, cộng với thu nhập từ du lịch, lợi nhuận thu từ hải ngoại, thanh toán tiền lãi, và tài khoản vốn (capital account), tượng trưng cho tổng số tiền gửi ngân hàng, đầu tư bởi các nhà đầu tư tư nhân, và các chứng khoán nợ được bán bởi ngân hàng trung ương hay các cơ quan chính phủ.  Trong thuật ngữ kinh tế, thặng dư cán cân thanh toán nghĩa là một quốc gia thu tiền từ thương mại và đầu tư, nhiều hơn số tiền nó trả cho các quốc gia khác, dẫn đến sự tăng giá trị đồng tiền quốc gia đối với tiền tệ của các quốc gia khác. Thâm hụt ngân sách trong cán cân thanh toán có tác động ngược lại: nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu, sự phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài và nội tệ bị định giá quá cao. Các quốc gia trải qua việc thâm hụt cán cân thanh toán phải bù khoản chênh lệch bằng cách xuất khẩu vàng hay dự trữ ngoại tệ mạnh, như đồng dollar Mỹ, là đơn vị tiền tệ được chấp nhận thanh toán nợ quốc tế. Xem INTERNATIONAL RESERVES; SPECIAL DRAWING RIGHTS.

Balance Of Payment / Cán Cân Thanh Toán

Cán cân thanh toán, hay cán cân thanh toán quốc tế, ghi chép những giao dịch kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định. Những giao dịch này có thể được tiến hành bởi các cá nhân, các doanh nghiệp cư trú trong nước hay chính phủ của quốc gia đó. Đối tượng giao dịch bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ, tài sản thực, tài sản tài chính, và một số chuyển khoản. Thời kỳ xem xét có thể là một tháng, một quý, song thường là một năm. Những giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú trong nước tới người cư trú ngoài nước được ghi vào bên tài sản nợ. Các giao dịch đòi hỏi sự thanh toán từ phía người cư trú ở ngoài nước cho người cư trú ở trong nước được ghi vào bên tài sản có. Cán cân thanh toán có thể được sử dụng như một dấu hiệu ổn định kinh tế và chính trị. Trên góc độ kinh tế học, thặng dư cán cân thanh toán nghĩa là một quốc gia nhận được nhiều từ thương mại và đầu tư hơn là phải trả cho các quốc gia khác, khiến đồng tiền của quốc gia này tăng trị so với các quốc gia khác. Cán cân thanh toán thâm hụt có ảnh hưởng ngược lại, nhập khẩu vượt quá xuất khẩu, phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài, và một đồng tiền mất giá. Các quốc gia đang có thanh toán thâm hụt phải thay đổi tình thế bằng cách xuất khẩu vàng hoặc dự trữ ngoại tệ mạnh, như đồng dollar Mỹ, là những đồng tiền được chấp nhận để trả các khoản nợ quốc tế. Các thành phần của cán cân thanh toán Theo quy tắc mới về biên soạn biểu cán cân thanh toán do IMF đề ra năm 1993, cán cân thanh toán của một quốc gia bao gồm bốn thành phần sau. Tài khoản vãng lai: Tài khoản vãng lai ghi lại các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và một số chuyển khoản. Tài khoản vốn: Tài khoản vốn ghi lại các giao dịch về tài sản thực và tài sản tài chính. Thay đổi trong dự trữ ngoại hối nhà nước: Mức tăng hay giảm trong dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương. Do tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn bằng 0 và do mục sai số nhỏ, nên gần như tăng giảm cán cân thanh toán là do tăng giảm dự trữ ngoại hối tạo nên. Mục sai số: Do khó có thể ghi chép đầy đủ toàn bộ các giao dịch trong thực tế, nên giữa phần ghi chép được và thực tế có thể có những khoảng cách. Khoảng cách này được ghi trong cán cân thanh toán như là mục sai số. Khủng hoảng cán cân thanh toán Khủng hoảng cán cân thanh toán xảy ra khi nhà đầu cơ mua hết tài sản của chính phủ trong dự trữ ngoại hối.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55