Bank Rate / Lãi Suất Ngân Hàng
Đó là mức lãi suất mà ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trong nước vay tiền. Ngân hàng trung ương sử dụng công cụ lãi suất này để điều chỉnh nguồn cung tiền. Ngân hàng trung ương điều chỉnh nguồn cung tiền trong nước bằng cách thay đổi lãi suất. Khi ngân hàng trung ương giảm mức lãi suất cho vay này, nó làm tăng sự hấp dẫn của các khoản vay và khiến ngân hàng thương mại vay nhiều hơn, từ đó làm tăng nguồn cung tiền. Khi ngân hàng trung ương tăng mức lãi suất, sự hấp dẫn của các khoản vay đối với các ngân hàng thương mại giảm xuống và từ đó khiến nguồn cung tiền giảm xuống. Tuy vậy, nhưng thuật ngữ Bank Rate cũng được dùng trong nhiều trường hợp khác nhau, tuỳ từng đối tượng và mối quan tâm. Ví dụ, các chủ ngân hàng thì sử dụng thuật ngữ này với nghĩa là Lãi suất chiết khấu liên bang phải trả cho Các ngân hàng tiết kiệm (Federally Chartered Savings Banks). Còn người tiêu dùng thì dùng thuật ngữ này để nhắc đến mức lãi suất họ được nhận đối với chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, hay những người vay nợ ngân hàng... Thông thường ở Mỹ có các loại lãi suất như: lãi suất ngân hàng đối với CD, Lãi suất đối với thẻ tín dụng hoặc các khoản vay khác, Lãi suất cho vay mua ô tô hay bất động sản.
Là lãi suất mà ngân hàng trung ương một quốc gia cho các ngân hàng trong nước vay tiền. Những khoản vay này thường trong khoảng thời gian rất ngắn. Quản lý lãi suất ngân hàng là phương pháp ưa thích mà trong đó ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh mức độ hoạt động của nền kinh tế. Lãi suất ngân hàng thấp có thể giúp mở rộng nền kinh tế khi thất nghiệp gia tăng, bằng cách giảm chi phí vốn cho người đi vay. Ngược lại, lãi suất ngân hàng cao giúp thắt chặt nền kinh tế, khi lạm phát cao hơn dự kiến. Lãi suất ngân hàng cũng có thể chỉ mức lãi suất mà ngân hàng tính cho các khoản vay của khách hàng. Ở Mỹ, lãi suất ngân hàng thường được gọi là Tỉ lệ lãi suất cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc (Federal funds rate). Lãi suất ngân hàng được quy định gián tiếp bởi Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC), bằng cách mua hoặc bán chứng khoán kho bạc để điều tiết mức cung tiền tệ. Những hành động này để đẩy tỉ lệ lãi suất cho vay nhằm đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc hiện tại (effective federal funds rate) gần hơn với lãi suất mục tiêu. Việc điều tiết nền kinh tế thông qua quản lý cung tiền được gọi là chính sách tiền tệ.
Bank Of United State / Ngân Hàng Hoa Kỳ
Từ năm 1791-1811 và từ năm 1816-1836 một số chức năng ngân hàng trung ương ỏ Mỹ được lần lượt do ngân hàng thứ nhất thứ hai thực hiện. Trong một thời gian khoảng 30 năm (đến khi có Đạo luật ngân hàng quốc gia năm 1864) hầu như không có chức năng ngân hàng trung ương ở Mỹ. Trên thực tế, phải đến lúc có Đạo luật dự trữ liên bang năm 1913 mỹ mới có một ngân hàng trung ương thực sự.
Bank Of England / Ngân Hàng Anh
Là ngân hàng TRUNG ƯƠNG của Anh. Do thương nhân London đề xướng như một ngân hàng thương mại và được thành lập theo đạo luật của Quốc hội năm 1694.
Bank Of America / Ngân Hàng Bank Of America
Ngân hàng Bank of America (Mã trên sàn giao dịch chứng khoán NYSE là BAC), là ngân hàng thương mại lớn nhất của Mỹ xét trên phương diện tiền gửi, và cũng đồng thời là một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới. Trước năm 1998, ngân hàng Bank of America có tên là NationsBank và trước nữa tên là North Carolina National Bank (bởi vì trụ sở của ngân hàng này ở Charlotte, North Carolina). Năm 1998, NationsBank mua lại ngân hàng BankAmerica (trụ sở tại San Francisco) và đặt tên lại là Bank of America.
Bank Note / Giấy Nợ Ngân Hàng, Giấy Bạc Ngân Hàng
1. Phiếu hẹn trả tiền không chịu lãi, được phát hành bởi ngân hàng được ủy quyền thanh toán nợ. Phiếu khoán dự trữ liên bang là phiếu lưu hành có thẩm quyền chính thức. Đồng nghĩa với tiền tệ và tiền pháp định. 2. Giấy nợ chịu lãi không bảo đảm được các ngân hàng phát hành với mệnh giá $100000 và hơn, và được bán cho các định chế đầu tư. Những giấy nợ này giống như chứng chỉ tiền tệ gởi. Các giấy nợ ngân hàng giống với trái phiếu, hơn tiền gửi, chi trả lãi bán niên, và là khoản nợ phải trả của các ngân hàng phát hàng hơn là của các công ty ngân hàng mẹ. Xem DEPOSIT NOTE.
Bank Loan / Khoản Vay Ngân Hàng
Để chỉ bất cứ khoản ứng trước nào của ngân hàng, nhung có sự phân biệt trong việc cho vay của ngân hàng giữa điều kiện MỨC THẤU CHI và điều kiện cho vay.
Khoản Vay Ngân Hàng (Bank Loan) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Bank Line / Mức Cho Vay Thiện Ý Của Ngân Hàng
Cam kết đạo đức của ngân hàng cho vay, khác với cam kết pháp lý mang tính hợp đồng, còn có tên là hạn mức tín dụng (line of credit). Mức cho vay thiện ý của ngân hàng là thiện ý của ngân hàng sẵn sàng cho người vay mượn lên với số tiền xác định trước, thường được dùng như vốn hoạt động với một thời hạn từ một đến ba năm. Mức tín dụng có thể tiếp tục theo quyền chọn người cho vay, miễn sao người đi vay thỏa mãn các điều kiện nào đó, ví dụ, đồng ý giữ một phần mức tín dụng trong số dư bù trừ (compensating balance) đối với bên cho vay, nhằm duy trì doanh nghiệp trong điều kiện tài chính tốt. Trong một số trường hợp, người đi vay có thể được yêu cầu chứng minh khả năng hoạt động không có tài trợ của ngân hàng bằng cách giảm theo định kỳ số tiền vay đến số không (được gọi là quy định thanh toán dứt điểm). Thông thường không tính phí cam kết, mặc dầu người cho vay có thể tính phí sử dụng trên số tiền đã thực sự ứng trước. Mức tín dụng tư vấn được ông khai cho người đi vay, trong khi mức tín dụng hướng dẫn được dùng cho việc giám sát tín dụng nội bộ bởi người cho vay, và không công khai. Xem EVERGREEN LOAN; REVOLVING CREDIT.
Bank Insurance Fund (BIF) / Quỹ Bảo Hiểm Ngân Hàng
Quỹ bảo hiểm tiền gởi điều hành bởi công ty Bảo hiểm tiền gởi Liên Bang, nhằm bảo hiểm tiền gởi trong các ngân hàng thương mại và ngân hàng tiết kiệm lên đến $100,000 tiền lãi và vốn gốc mỗi tài khoản. Xem SAVINGS ASSOCIATION INSURANCE FUND.
Bank Investment Contract / Hợp Đồng Đầu Tư Ngân Hàng
1. Chứng khoán với lãi suất được đảm bảo bởi một ngân hàng. Nó cung cấp một lợi suất đầu tư nhất định cho một danh mục đầu tư trong một giai đoạn nhất định. 2. Hợp đồng được soạn bởi một ngân hàng đến một nhà đầu tư tổ chức, thường là một kế hoạch chia lợi nhuận được một công ty tài trợ hoặc kế hoạch 401(k), đảm bảo thu về một lãi suất cố định cho vốn đầu tư trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực. Một hợp đồng đầu tư ngân hàng tương tự như một hợp đồng đầu tư có đảm bảo (guaranteed investment contract- GIC) được bán bởi một công ty bảo hiểm, có thời gian đến khi đáo hạn là 10 năm, cộng thêm sự bảo trợ của bảo hiểm tiền gửi liên bang tối đa $100 000 mỗi tài khoản được bảo hiểm.
Bank For International Settlements (BIS) / Ngân Hàng Thanh Toán Quốc Tế (BIS)
Tổ chức quốc tế, có trụ sở tại Basel Thụy Sỹ, hoạt động như ngân hàng trung ương của các nước công nghiệp hàng đầu. Được thành lập năm 1930 bởi một nhóm các ngân hàng trung ương Châu Âu, BIS phát triển từ những năm 1960 thành một tổ chức tiền tệ có ảnh hưởng, hỗ trợ các ngân hàng trung ương trong đầu tư vào các tài sản tiền tệ. Tiêu chuẩn vốn trên rủi ro được các ngân hàng trong nhóm 10 quốc gia chấp nhận vào năm 1988, trong đó khoản cho vay và các tài sản ngân hàng được xếp loại theo rủi ro, được thành lập bởi các ngân hàng trung ương. Ủy ban thống đôc Cục Dự trữ Liên bang tham gia vào các hội thảo của BIS, và ngân hàng này là thành viên của mạng lưới hoán đổi của cục Dự trữ Liên bang với các ngân hàng trung ương khác. Xem BASEL COMMITTEE.
Tổ chức quốc tế, có trụ sở tại Basel Thụy Sỹ, hoạt động như ngân hàng trung ương của các nước công nghiệp hàng đầu. Được thành lập năm 1930 bởi một nhóm các ngân hàng trung ương Châu Âu, BIS phát triển từ những năm 1960 thành một tổ chức tiền tệ có ảnh hưởng, hỗ trợ các ngân hàng trung ương trong đầu tư vào các tài sản tiền tệ. Tiêu chuẩn vốn trên rủi ro được các ngân hàng trong nhóm 10 quốc gia chấp nhận vào năm 1988, trong đó khoản cho vay và các tài sản ngân hàng được xếp loại theo rủi ro, được thành lập bởi các ngân hàng trung ương. Ủy ban thống đôc Cục Dự trữ Liên bang tham gia vào các hội thảo của BIS, và ngân hàng này là thành viên của mạng lưới hoán đổi của cục Dự trữ Liên bang với các ngân hàng trung ương khác. Xem BASEL COMMITTEE.
Bank For International Settlements / Ngân Hàng Thanh Toán Quốc Tế (BIS)
Tổ chức quốc tế, có trụ sở tại Basel Thụy Sỹ, hoạt động như ngân hàng trung ương của các nước công nghiệp hàng đầu. Được thành lập năm 1930 bởi một nhóm các ngân hàng trung ương Châu Âu, BIS phát triển từ những năm 1960 thành một tổ chức tiền tệ có ảnh hưởng, hỗ trợ các ngân hàng trung ương trong đầu tư vào các tài sản tiền tệ. Tiêu chuẩn vốn trên rủi ro được các ngân hàng trong nhóm 10 quốc gia chấp nhận vào năm 1988, trong đó khoản cho vay và các tài sản ngân hàng được xếp loại theo rủi ro, được thành lập bởi các ngân hàng trung ương. Ủy ban thống đôc Cục Dự trữ Liên bang tham gia vào các hội thảo của BIS, và ngân hàng này là thành viên của mạng lưới hoán đổi của cục Dự trữ Liên bang với các ngân hàng trung ương khác. Xem BASEL COMMITTEE.
Bank Draft / Hối Phiếu Ngân Hàng
Bank draft- hối phiếu ngân hàng- là một dạng hối phiếu do một ngân hàng phát hành ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản của Ngân hàng phát hành hối phiếu để trả cho người thụ hưởng chỉ định trên hối phiếu. Qua khái niệm này ta có thể hiểu, đây không phải là hối phiếu được phát sinh từ quan hệ thương mại mà phát sinh từ quan hệ đại lý giữa một ngân hàng với ngân hàng đại lý của nó. Hối phiếu ngân hàng có những đặc điểm như sau: - Người kí phát hối phiếu là ngân hàng "mẹ" có quyền ra lệnh cho người bị kí phát trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng. - Người bị kí phát là ngân hàng đại lí có trách nhiệm phải trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ghi trên hối phiếu. - Người thụ hưởng thường là người được quyền nhận số tiền ghi trên hối phiếu khi đến hạn. Hối phiếu ngân hàng thường được sử dụng trong quan hệ giao dịch biên mậu hoặc chuyển tiền giữa các cá nhân. Một ngân hàng sẽ phát hành hối phiếu này khi có một khách hàng yêu cầu (bằng một đơn thư yêu cầu) để thanh toán cho việc mua bán giữa các cá nhân cách xa nhau, như mua ô tô hay mua nhà cửa. Sau đó ngân hàng sẽ kiểm tra số dư tài khoản của khách hàng, và sẽ trừ vào tài khoản đó một số tiền bằng đúng số tiền khách hàng yêu cầu ghi trên hối phiếu. Ngoài ra khàch hàng phải trả một khoản phí cho ngân hàng. Khi nhận được Hối phiếu ngân hàng người bán (người thụ hưởng) nên xác định chắc chắn rút được tiền từ hối phiếu đó, từ ngân hàng đại lý, thì mới giao hàng. Đó là cách an toàn nhất để tránh tình trạng hối phiếu giả.
Một loại chi phiếu được ngân hàng phát hành để đảm bảo việc thanh toán. Thông thường, ngân hàng sẽ kiểm tra tài khoản của người yêu cầu sử dụng hối phiếu để xem họ đủ tiền chi trả không. Một khi số tiền trong tài khoản được xác nhận, ngân hàng sẽ lập tức đặt riêng số tiền này ra để sẵn sàng cho việc sử dụng hối phiếu. Hối phiếu ngân hàng thường về các giao dịch cần một khoản tiền lớn, hoặc trong trường hợp có thể phát hành tín phiếu. Giả sử bạn đang muốn mua một chiếc xe mới, việc đưa ra một bản hối phiếu ngân hàng cho phép đại lý đảm bảo rằng bạn có đủ tiền để mua và chi phiếu sẽ không bị trả về.
Bank Deposite / Tiền Gửi Ngân Hàng
Theo nghiã giản đơn, đó là các khoản tiền gửi trong tài khoản ngân hàng. Trong thực tế chúng đơn giản là những ghi chép về tình trạng nợ của một ngân hàng đối với những người gửi, và chúng nảy sinh từ tính chất của ngân hàng với vai trò là TRUNG GIAN TÀI CHÍNH.
Bank Deposit / Tiền Gửi Ngân Hàng
Tiền của dân cư hoặc tổ chức kinh tế, phi kinh tế, lợi nhuận, phi lợi nhuận gửi vào tài khoản tại ngân hàng, hoặc chứng chỉ tiền gửi hoặc sổ tiết kiệm (rất phổ biến tại Việt Nam). Có thể có nhiều loại tài khoản khác nhau, tiết kiệm, séc, giao dịch, v.v.. theo nhiều cách chia. Về cơ bản các khoản tiền gửi này được hưởng lãi suất tùy theo chính sách lãi suất của ngân hàng nhận tiền tại thời điểm đó, phù hợp với các đặc điểm của món tiền gửi như: Thời gian gửi; Số lượng tiền; Điều kiện số tiền tối thiểu và số lần rút; Loại sản phẩm ngân hàng người gửi tiền tham gia; Thời điểm thanh toán (trước sau, có cộng dồng hay không); Loại tiền gửi (nội tệ, ngoại tệ...) Dựa trên các đặc điểm và lãi suất, cách thức vay - trả mà các ngân hàng có thể "gói" các loại tài khoản khác nhau để chào các "sản phẩm tiền gửi" tới nền kinh tế, nhằm thu hút sự chú ý và tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế.
Tiền Gửi Ngân Hàng (Bank Deposit) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Bank Credit / Tín Dụng Ngân Hàng
1. Tổng số khoản vay và chiết khấu của ngân hàng (khoản vay có tiền lãi được khấu trừ khi cho vay) của ngân hàng, được mở rộng bởi các ngân hàng thương mại và các định chế tiết kiệm và là nguồn tài sản sinh lợi nhuận lớn ở các ngân hàng. Việc cho vau của ngân hàng hầu hết bị tác động thông qua nghiệp vụ thị trường mở (open market operations) của Hệ thống Dự trữ Liên bang, và bị tác động ít hơn bởi việc vay có chiết khấu (discount window), bởi các ngân hàng Dự trữ Liên bang trực tiếp cho các ngân hàng và các định chế tiết kiệm vay. Khi Cục Dự trữ Liên bang (FED) mua các chứng khoán từ các hãng giao dịch trong thị trường mở, thì tín dụng ngân hàng được mở rộng, tín dụng được rút từ hệ thống ngân hàng khi Fed bán chứng khoán. 2. Tín dụng dự trữ liên bang, tín dụng mà ngân hàng Dự trữ Liên bang góp vốn vào các định chế tài chính ký thác, hoặc trực tiếp từ các khoản vay của ngân hàng Dự trữ thông qua phương tiện Phòng cho vay có chiết khấu, hoặc gián tiếp từ các chứng khoán do Ngân hàng Dự trữ Liên bang sở hữu thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, cùng với tiền thả nổi của Dự trữ Liên bang.
1. Tổng số KHOẢN VAY VÀ CHIẾT KHẤU CỦA NGÂN HÀNG (khoản vay có tiền lãi được khấu trừ khi cho vay) của ngân hàng, được mở rộng bởi CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI và các định chế tiết kiệm và là nguồn tÀI SẢN SINH LỢI NHUẬN lớn của các ngân hàng. Việc cho vay của ngân hàng hầu hết bị tác động thông qua NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ (OPEN MARKET OPERATION)của Hệ Thống Dự trữ Liên bang, và bị tác động ít hơn bởi việc cho vay qua PHÒNG CHO VAY CÓ CHIẾT KHẤU (DISCOUNT WINDOW), bởi các Ngân hàng Dự trữ Liên bang trực tiếp cho các ngân hàng và các định chế tiết kiệm vay. Khi Cục Dự trữ Liên bang (Fed) mua các chứng khoán từ các giao dịch trong thị trường mở, thì tín dụng ngân hàng được mở rộng, tín dụng được rút từ hệ thống ngân hàng khi Fed bán chứng khoán. 2. TÍN DỤNG DỰ TRỮ LIÊN BANG, tín dụng mà Ngân hàng Dự trữ Liên bang góp vốn vào các định chế tài chính ký thác, hoặc trực tiếp từ các khoản vay của Ngân hàng Dự trữ thông qua phương tiện Phòng cho Vay có Chiết khấu, hoặc gián tiếp từ các chứng khoán do Ngân hàng Dự trữ Liên bang sở hữu thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, cùng với TIỀN THẢ NỔI CỦA DỰ TRỮ LIÊN BANG
Đây là lượng tín dụng có sẵn của một công ty hoặc một cá nhân trong hệ thống ngân hàng. Nó là tổng số tiền mà các tổ chức tài chính sẵn sàng cung cấp cho một cá nhân hoặc một tổ chức. Tín dụng ngân hàng của một công ty hoặc một cá nhân phụ thuộc vào cả khả năng trả nợ của tổ chức hoặc cá nhân và tổng tín dụng có sẵn trong hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng của các cá nhân đã tăng lên rất nhiều trong 50 năm qua do người tiêu dùng đã quen với việc có nhiều loại thẻ tín dụng. Một số nhà quan sát đã dự đoán rằng cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 có thể kéo mọi việc trở lại những năm trước đó khi mà tín dụng, mặc dù tương đối thấp, lại rất khó để có được đặc biệt là đối với những người có lịch sử tín dụng kém.
Bank Charter Act / Đạo Luật Ngân Hàng
Thường để chỉ đạo luật ngân hàng năm 1844 do chính quyền của huân tước Robert Peel thông qua.
Bank Bill / Hối Phiếu Ngân Hàng
Theo truyền thống, trên thị trường hối phiếu London, một HỐI PHIẾU đã được chấp nhận bởi một NGÂN HÀNG NHẬN THANH TOÁN, MỘT NGÂN HÀNG THANH TOÁN BÙ TRỪ hay một nhóm các ngân hàng của Anh hoặc các ngân hàng Dominions hợp thành, thay mặt khách hàng đã mở tín dụng chấp nhận. Xem ACCEPTANCE, DISCOUNT HOUSE.
Bank Advance / Khoản Vay Ngân Hàng
Một cụm thuật ngữ chung dùng cho bất kỳ một loại vay ngân hàng nào. Xem BANK LOAN.
Khoản Vay Ngân Hàng (Bank Advance) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Bank Accounts / Tài Khoản Ngân Hàng
Tài khoản ngân hàng là một tài khoản tiền tệ được để tại một tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng nhằm ghi lại sự cân đối trong tiền gửi của khách hàng. Tài khoản ngân hàng có thể có số dư (positive hoặc credit balance) nếu ngân hàng đang giữ tiền hộ khách gửi, hoặc bị âm (negative hoặc debit balance) khi đó khách hàng nợ tiền ngân hàng. Theo nghĩa rộng, các tài khoản được mở ra với mục đích giữ các khoản tiền gửi của khách được gọi là tài khoản tiền gửi (deposit accounts), còn các tài khoản trong đó khách hàng bị nợ gọi là tài khoản nợ (loan accounts). Một số tài khoản được gọi theo chức năng của nó chứ không phải theo vấn đề cân đối trong số tiền gửi. Một số tài khoản ngân hàng được tạo ra để tiến hành những giao dịch lớn vì vậy chúng không nhất thiết được gọi theo các tên trên. Các tài khoản giao dịch (transactional accounts) được gọi theo các tên khác nhau ở các nước khác nhau, ở Mỹ và Canada gọi là Checking accounts, ở Anh gọi là Current accounts.
Bank / Ngân Hàng
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh cung cấp các dịch vụ tài chính, thường là vì lợi nhuận. Những dịch vụ ngân hàng truyền thống bao gồm nhận tiền gửi, cho vay tiền, và thực hiện các giao dịch. Một ngân hàng thương mại nhận tiền gửi từ khách hàng và sử dụng tiền gửi đó để cho đối tượng khác vay. Rất nhiều ngân hàng cung cấp các dịch vụ đi kèm nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận, ví dụ: bán các sản phẩm bảo hiểm, các sản phẩm đầu tư, hoặc thực hiện môi giới chứng khoán. Các dịch vụ thường được thực hiện bởi ngân hàng Nhận tiền gửi từ khách hàng và phát hành Séc, hoặc tài khoản tiết kiệm cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh Cho vay Chuyển Séc thành tiền mặt Tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch tiền tệ, như chuyển tiền bằng điện Phát hành thẻ tính dụng, thẻ ATM, và thẻ ghi nợ Cất trữ các tài sản có giá trị, đặc biệt là trong các két an toàn Đổi thành tiền mặt các cuộn tiền xu (bank roll) hoặc cung cấp các túi đựng tiền xu (roll) Cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính cho khách hàng Đưa ra kế hoạch lương hưu và về hưu
Tổ chức, thường là một doanh nghiệp, nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán chi phiếu, và thực hiện những dịch vụ liên quan khác cho công chúng. Bộ luật tổng công ty ngân hàng năm 1956 định nghĩa ngân hàng như một định chế tài chính nhận ký thác chấp , nhận các tài khoản chi phiếu hay cho vay thương mại, và tiền gởi được bảo hiểm bởi cơ quan bảo hiểm tiền gởi liên bang. Một ngân hàng hoạt động như là trung gian giữa nhà cung cấp vốn và người sử dụng vốn, thay thế cho việc phân chia tín dụng cho nhà cung cấp vốn tốt nhất, thu tiền từ ba nguồn: các tài khoản séc, tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn; vay tiền ngắn hạn từ các ngân hàng khác và vốn cổ phần. Một ngân hàng kiếm tiền bằng cách tái đầu tư vốn này vào các tài sản dài hạn hơn. Một ngân hàng thương mại đầu tư nguồn vốn huy động từ những người gởi tiền và các nguồn khác, và dùng chủ yếu cho các khoản vay. Một ngân hàng đầu tư quản lý chứng khoán cho khách hàng và cho chính công việc kinh doanh của nó. Khi cho vay, ngân hàng chấp nhận rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng, lãi suất thị trường có thể tăng trên biên lãi suất ròng (Net interest margin) mà ngân hàng có thể kiếm được từ danh mục cho vay và đầu tư, và người vay có thể mất khả năng thanh toán. Ngoài vai trò trung gian tín dụng, các ngân hàng còn hoạt động như đại diện cho khách hàng trong một số chức năng có liên quan đến ngân hàng: thực hiện lệnh thanh toán cho các bên thứ ba, bằng chi phiếu hoặc chuyển tiền điện tử, mua hay bán chứng khoán, đối với tài khoản ủy thác của khách hàng, và thực hiện quản lý tiền mặt cho khách hàng là công ty. Những dịch vụ phi tín dụng này là nguồn thu nhập lệ phí quan trọng. Các ngân hàng cũng cung cấp hộp ký gởi an toàn, quản lý tài khoản ủy thác cho các cá nhân hay các quỹ bảo trợ, thanh toán chi phiếu và hối phiếu cho các định chế tài chính khác, bảo lãnh chứng khoán thông qua các công ty con phát hành chứng khoán; và nói chung thực hiện các dịch vụ liên quan đến ngân hàng theo các quy định ngân hàng liên bang và tiểu bang. Sự tiến bộ trong ngành dịch vụ tài chính từ giữa những năm 1970, cho phép khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng từ nhiều định chế tài chính khác nhau, như các ngân hàng tiết kiệm, các ngân hàng tiết kiệm liên bang, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay, và các nghiệp đoàn tín dụng, ngoài các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng tiết kiệm, các định chế tiết kiệm và cho vay, và các liên hiệp tín dụng (được gọi chung là các định chế tài chính) (Thirft Institutions) thực hiện cho vay mua xe, cho vay tiêu dùng, mua nhà thế chấp, và, cung cấp các khoản séc và các tài khoản lệnh rút tiền để chi trả (NOW) cạnh tranh trưc tiếp với các ngân hàng thương mại. Việc hiện đại hóa tài chính cũng đã loại bỏ nhiều chức năng then chốt khác biệt giữa các ngân hàng thương mại và các công ty ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng thương mại được cấp phép bởi đạo luật Gramm-Leach-Bliley trong mua bán chứng khoán, cung ứng các dịch vụ tư vấn, và thực hiện các chức năng khác liên quan ngành ngân hàng thông qua các công ty chi nhánh.
Là tổ chức tài chính được cấp phép như là một tổ chức nhận tiền gửi. Có hai loại của các ngân hàng: Ngân hàng thương mại / bán lẻ và ngân hàng đầu tư. Tại nhiều quốc gia, các ngân hàng được kiểm soát bởi chính phủ quốc gia hoặc ngân hàng trung ương. Ngân hàng thương mại chủ yếu liên quan đến quản lý rút tiền và tiền gửi cũng như cung cấp các khoản vay ngắn hạn cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Khách hàng chủ yếu sử dụng dịch vụ séc và tài khoản tiết kiệm đơn giản, chứng chỉ tiền gửi và đôi khi là cho vay thế chấp nhà tại các ngân hàng này. Ngân hàng đầu tư tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ như bảo hiểm và tái tổ chức doanh nghiệp cho khách hàng thuộc tổ chức. Trong khi nhiều ngân hàng có cả cơ sở thực và cơ sở trực tuyến trên mạng, một số ngân hàng chỉ có cơ sở trực tuyến. Các ngân hàng trực tuyến thường chào hàng khách hàng bằng lãi suất cao hơn và chi phí thấp hơn. Sự thuận tiện, lãi suất và lệ phí là các yếu tố điều khiển các quyết định của khách hàng mà ngân hàng để làm kinh doanh cùng. Như một sự thay thế cho các ngân hàng, khách hàng có thể lựa chọn tham gia hội tín dụng.





