Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Barriers To Entry / Rào Cản Nhập Ngành

Các yếu tố đẩy những người mới nhập ngành vào một mức giá không thuận lợi so với các hãng đã thiết lập trong một ngành. Chừng nào các hãng đã thiết lập đặt giá ở một mức dưới điểm tối thiểu của chi phí trung bình dài hạn của hãng tiềm tàng hiệu quả nhất, các hãng đã thiết lập có thể đạt được mức siêu lợi nhuận về lâu dài mà không phải lo sợ về sự gia nhập ngành mới.

Barrier Option / Quyền Chọn Có Giới Hạn

Là một dạng quyền chọn trong đó lựa chọn thực hiện hợp đồng phụ thuộc vào việc tài sảncơ sở đạt đến hay vượt qua một mức giá xác định từ trước. Quyền chọn có giới hạn được thiết lập như một cách đưa ra phương án phòng vệ cho hợp đồng quyền chọn, và có thể tiết kiệm một phần khoản phí phải trả để mua quyền chọn đó. Ví dụ, nếu bạn tin rằng cổ phiếu IBM sẽ tăng trong năm nay, nhưng sẽ không tăng quá $100, bạn có thể mua giới hạn và trả khoản phí ít hơn quyền chọn thông thường. Quyền chọn có giới hạn là một loại quyền chọn ngoại lai (exotic option) theo cách nào đó gần giống với những quyền chọn thông thường. Nó có quyền chọn mua và quyền chọn bán, cũng như quyền chọn kiểu Mỹ và kiểu châu Âu. Nhưng chúng được kích hoạt, hoặc ngược lại, vô hiệu lực và không có giá trị chỉ khi tài sản cơ sở đạt mức xác định trước (giới hạn).Nó có thể là quyền chọn knock-in hoặc knock-out. Quyền chọn "In" vô giá trị khi bắt đầu có hiệu lực, và chỉ trở nên hoạt động khi đạt đến giá giới hạn knock-in đã xác định từ trước. Quyền chọn "Out" có hoạt động ngay khi bắt đầu có hiệu lực và trở nên vô hiệu lực và không có giá trị khi đạt đến giá giới hạn knock-out. Trong cả 2 trường hợp, nếu quyền chọn không hoạt động khi đáo hạn, số tiền phải trả có thể được giảm xuống. Nó có thể là không gì cả, trong trường hợp quyền chọn trở nên vô giá trị, hoặc có thể là một phần phí quyền chọn. Up-and-out: Giá thực hiện ban đầu thấp hơn mức giới hạn và sẽ phải tăng giá để quyền chọn kết thúc (bị knock-out). Quyền chọn Down-and-Out cũng tương tự- giá thực hiện ban đầu cao hơn mức giới hạn và sẽ phải giảm giá để quyền chọn trở nên vô hiệu lực và vô giá trị. Up-and-in (Down-and-in): giá ban đầu thấp hơn (cao hơn) mức giới hạn và sẽ phải tăng giá (hoặc giảm) để quyền chọn được hoạt động. Ví dụ, một quyền chọn mua kiểu châu Âu có thể được viết dưới một tài sản cơ sở với giá thực hiện là $100, và giới hạn knockout là $120. Quyền chọn này có tính chất như một quyền chọn mua kiểu châu Âu thông thường, trừ khi giá thực hiện tăng quá $120, quyền chọn kết thúc và hợp đồng trở nên vô hiệu lực và vô giá trị. Chú ý rằng quyền chọn sẽ không hoạt động trở lại nếu giá rớt xuống dưới $120. Một khi nó đã kết thúc, nó kết thúc mãi mãi. Sự cân bằng in-out của quyền chọn có giới hạn tương ứng với sự cân bằng quyền chọn bán- mua. Nếu chúng ta kết hợp một quyền chọn có giới hạn "in" và một quyền chọn có giới hạn "out" có giá thực hiện và ngày đáo hạn như nhau, ta có giá của một quyền chọn thông thường:                                             C = Cin + Cout

Baron - Magnate - Mogul - Tycoon / Ông Trùm

Báo chí thường sử dụng một số từ ngữ để ám chỉ những nhà tư bản giàu có và có thế lực (những ông trùm) trong một số lĩnh vực cụ thể như sau: Baron: lĩnh vực truyền thông/báo chí/thông tin đại chúng. Magnate: lĩnh vực truyền thông/bất động sản/vận chuyển đường thủy. Mogul: lĩnh vực truyền thông/phim ảnh/TV. Tycoon: lĩnh vực truyền thông/dầu lửa/bất động sản.

Barometer / Phong Vũ Biểu Của Nền Kinh Tế

Barometer là những chỉ số về kinh tế và thị trường, nó thể hiện và dự báo cho một xu hướng hay trào lưu nào đó trong tương lai, ví dụ như giá cả hay chứng khoán được coi là nhiệt kế của nền kinh tế. Thực chất thuật ngữ "Barometer" có nghĩa gốc là "Phong vũ biểu", một dụng cụ đo gió và áp suất không khí nhằm để dự báo thời tiết. Trong giới tài chính Barometer được sử dụng để chỉ sức mạnh của một loại cổ phiếu hay một thị trường nào đó, và chỉ số chứng khoán Dow Jones là ví dụ điển hình. Một trăm năm qua, Dow Jones (DJIA) vẫn là chỉ số lâu năm nhất trong thị trường Mỹ, bao gồm cổ phiếu của 30 công ty với sự lớn mạnh đi kèm, đó là những công ty đầy quyền lực như Proctor & Gamble, Home Depot, Coca Cola, và Microsoft... DJIA là một chỉ số biểu thị thị trường nổi tiếng nhất thế giới, một phần vì nó đã đủ chín muồi để nhiều thế hệ các nhà đầu tư trở nên quen thuộc khi định giá nó, và một phần vì thị trường cổ phiếu Mỹ là thị trường danh giá nhất trên thế giới. Tuy bao gồm tất cả những công ty lớn, nhưng nó được thiết kế để đại diện cho hầu hết bất kỳ công ty Mỹ nào. Cách tính chỉ số DJIA là theo nguyên tắc trung bình, cộng tất cả giá cổ phiếu vào và chia cho số cổ phiếu, chỉ số này được tính hàng ngày dựa trên giá của mỗi công ty. Như một chỉ số lâu đời nhất và chỉ số tác động thường xuyên nhất, khi mọi người hỏi thị trường hoạt động như thế nào, người ta sẽ thường hỏi về DJIA. DJIA có vài sản phẩm tài chính liên quan đến nó bao gồm chỉ số các quỹ và chỉ số các quỹ ngoại thương như Dow Diamond. Những công ty DJIA không thể biến mất- chúng là một vài trong số những công ty lớn nhất của Mỹ. Một nhà đầu tư đang tìm kiếm sự ít mạo hiểm, bảo tồn vốn và nhiều thu nhập từ các cổ phần sẽ là người mua lý tưởng của những sản phẩm liên kết với Dow.

Là tập hợp những chỉ số về kinh tế và thị trường, nó thể hiện và dự báo cho một xu hướng hay trào lưu nào đó trong tương lai. Ví dụ về phong vũ biểu dự báo kinh tế bao gồm chi tiêu của người tiêu dùng, bắt đầu nhà ở và lãi suất. Chỉ số Standard & Poor's 500 và chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones có thể được coi là phong vũ biểu thị trường chứng khoán. Một số phong vũ biểu kinh tế bao gồm bán một số loại quần áo hoặc một số loại thực phẩm. Một chỉ số kinh tế cho thấy xu hướng chi tiêu của người tiêu dùng sẽ là bán các mặt hàng như đồ trang điểm, đồ lót nam, thư rác và bán hạt giống rau và cấy ghép. Ví dụ, sự gia tăng doanh số bán hạt giống rau, trong thời kỳ suy thoái, cho thấy rằng mọi người có động lực tiết kiệm hơn nên họ sẽ có xu hướng trồng rau thay vì mua chúng.

Barlow Report / Báo Cáo Barlow

Những kết quả phân tích của một uỷ ban hoàng gia Anh về sự phân bố địa lý của ngành công nghiệp Anh và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của chính sách khu vực hậu công nghiệp Chiến tranh ở Anh.

Bargaining Unit / Đơn Vị Thương Lượng; Đơn Vị Mặc Cả

Một đơn vị đại diện cho quyền lợi của người lao động trong thương lượng về quản lý lao động ở Mỹ. Các đơn vị này có thể là rất nhỏ, là các nhân viên được tuyển trong một hãng đơn lẻ hay rất lớn, tất cả những người được tuyển dụng trong một ngành trên khắp đất nước. Các đơn vị thương lượng khác nhau về quy mô và cơ cấu.

Bargaining Theory Of Wages / Lý Thuyết Thương Lượng Về Tiền Công; Lý Thuyết Mặc Cả Về Tiền Công

Tiền công được cố định trong một quá trình thương lượng tập thể, một sự dàn xếp về mặt cơ chế so với quá trình điều chỉnh cung cầu chính thống. Lý thuyết thương lượng về tiền công chỉ những mô hình của quá trình thương lượng áp dụng cho mối quan hệ của sự quản lý của công đoàn vượt ra ngoài mô hình ĐỘC QUYỀN SONG PHƯƠNG, trong đó kết quả cuối cùng của thương lượng vẫn còn mơ hồ, để rút ra một giải pháp rõ ràng.Xem STRIKES, WAGE THEORY.

Bargaining Tariff / Thuế Quan Mặc Cả; Thuế Quan Thương Lượng

Thuế được áp đặt bởi một nước để củng cố vị trí của nó trong đàm phán thương mại với các nước khác, khi các nước này sử dụng lời hứa chiết khấu thuế để đạt được sự nhượng bộ trong thương mại.

Barbell Strategy / Chiến Lược Barbell

Chiến lược đầu tư vào trái phiếu trong đó thời gian đáo hạn của những chứng khoán trong danh mục đầu tư được tập trung ở 2 cực. Một chiến lược Barbell đặc trưng bao gồm việc chọn lựa trái phiếu với thời gian đáo hạn ngắn và rất dài hạn. Cấu trúc kỳ hạn của mộtdanh mục đầu tư có thể kéo dài hoặc thu ngắn tùy theo lượng chứng khoán ở cả 2 cực của phạm vi đáo hạn.Sử dụng chiến lược này yêu cầu sự chú ý liên tục từ người quản lý danh mục đầu tư. Những trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn cần được chuyển sang chứng khoán ngắn hạn mới ngay khi đáo hạn. Khi trái phiếu dài hạn ở giữa thời gian đáo hạn, chúng cần được chuyển sang những chứng khoán dài hạn mới. Một điểm bất lợi của chiến lược barbell chính là chi phí giao dịch. Thêm vào đó, những trái phiếu dài hạn thường nhạy cảm hơn với những thay đổi lãi suất. Vì thế, cực gồm những trái phiếu dài hạn của danh mục đầu tư thường không ổn định hơn cực gồm những trái phiếu ngắn hạn. Chiến lược này được tạo ra trên cơ sở kết hợp chiến lược chuyển đáo hạn về phía trước với chiến lược chuyển đáo hạn về phía sau. Theo đó, ngân hàng đặt phần lớn nguồn quỹ của họ vào danh mục gồm các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao ở một cực, tại cực còn lại là danh mục gồm những trái phiếu dài hạn, ở khoảng giữa của hai cực, không có hoặc có rất ít chứng khoán nắm giữ. Danh mục ngắn hạn cung cấp nguồn thanh khoản cho ngân hàng, trong khi đó danh mục dài hạn được thiết kế để đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng.

Bankruptcy Risk / Rủi Ro Phá Sản

Là nguy cơ một công ty không thể trả hết các khoản nợ của mình. Thường được nhắc đến như "sự vỡ nợ" (default) hay "rủi ro không trả được nợ" (insolvency risk). Đây là một rủi ro mà cả vốn sở hữu và chủ sở hữu trái phiếu có thể gặp phải khi quyết định đầu tư vào một công ty. Bên cạnh việc nhìn vào lợi nhuận tổng thể, nhà đầu tư phải phân tích các nghĩa vụ nợ và khả năng trả nợ của công ty. Những công ty như Moody's và Standard & Poor's cố gắng xác định rủi ro bằng cách đưa ra đánh giá trái phiếu.

Là rủi ro một công ty có thể không thể đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ. Rủi ro này thường được nhắc với tên gọi "rủi ro vỡ nợ". ("insolvency risk.") Đây là rủi ro mà cả cổ đông và chủ nợ gặp phải khi quyết định đầu tư vào một công ty. Để đưa ra cái nhìn tổng quan về khả năng sinh lời, khả năng trả nợ và khả thanh toán của một công ty, các đại lý như Moody's và S&P's đã cố gắng để xác định rủi ro này bằng việc đưa ra xếp hạng tín dụng.

Bankruptcy / Sự Phá Sản

Tình trạng không trả được nợ hay mất khả năng thanh toán nợ.  Các toàn xử phá sản giải quyết hai trường hợp lớn: phá sản tự nguyện bởi các con nợ muốn tìm kiếm khởi đầu mới, và phá sản không tự nguyện  được khởi kiện bởi đủ số chủ nợ, những người tin rằng con nợ phạm luật phá sản bằng cách giấu giếm tài sản hay thiên vị giữa các chủ nợ. Trong cả hau trường hợp, mục đích là công bằng và vô tư khi giải quyết các trái quyền và phân phối tài sản. Việc lập đơn xin phá sản sẽ tự động hoãn việ thu nợ cho đến khi nợ được giải quyết, đơn kiến nghị bị bác hay kế hoạch tái thanh toán được các chủ nợ chấp thuận. Sau khi hồ sơ xin phá sản được lập, vụ phá sản vẫn còn trên báo cáo của văn phòng tín dụng của con nợ trong 10 năm.  Bộ luật Cải cách Phá sản năm 1978, là sửa đổi lớn lần đầu tiên. Bộ luậ phá sản trong bốn thập kỷ đã đem lại những thay đổi quan trọng: luật mới đơn giản hóa các thủ tục cho việc lập đơn xin phá sản, bổ sung quy tắc ưu tiên tuyệt đối (absolute priority rule) giúp các chủ nợ lâu năm được bảo đảm so với các chủ nợ khác, giới hạn trái quyền của chủ nợ trong việc khấu trừ tài sản của con nợ, và mở rộng quyền thẩm phán liên bang khi quyết định các vụ phá sản. Các tu chính án của bộ luật năm 1984 trao cho tòa xử phá sản quyền bác bỏ các đơn xin phá sản gian dối do các con nợ giấu giếm tài sản. Các tu chính án có hiệu lực năm 2005 (luật ngăn cấm lạm dụng phá sản và bảo vệ khách hàng) bổ sung thêm luật phá sản nhằm ngăn chặn các đơn xin phá sản gian dối. Các cá nhân có đủ thu nhập để hoàn trả món nợ của họ (xác định bởi "kiểm định tài sản") buộc phải lập đơn xin phá sản theo Chương 13. Chương 7: được gọi là thanh lý, cho phép người nhận ủy thác do tòa chỉ định có các quyền tùy ý phân phối các tài sản giữa các chủ nợ, và dàn xếp tài chính tạm thời. Nói chung, người nhận ủy thác đại diện cho quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm. Tuy nhiên, nếu không có tài sản, thì nợ được dỡ bỏ và các chủ nợ không nhận được gì cả.  Chương 9: phần bộ luật ít được sử dụng, được thiết kết cho việc điều chỉnh nợ đô thị. Cũng được gọi là tái tổ chức đô thị.  Chương 11: tái tổ chức, thông thường bởi một doanh nghiệp, cho phép con nợ (được gọi là con nợ thuộc quyền sở hữu nếu không có tên người nhận ủy thác) duy trì hoạt động kiểm soát, trong khi tái cơ cấu nợ và thực hiện thời biểu tái thanh toán có thể chấp nhận cho chủ nợ. Khoản vay của chủ nợ dành cho các con nợ theo Chương 11 thì được phép trong một số điều kiện nhất định. Chương 12: Khoản dự phòng mới để giải quyết các vụ phá sản nông nghiệp, cho phép các nông trại nhỏ sở hữu gia đình có số nợ dưới 1.5 triệu USD, được trả nợ dựa trên giá trị thị trường hợp lý của tài sản thế chấp tiền vay. Chương 13: Kế hoạch thanh toán nợ, được gọi là kế hoạch trả nợ dần theo tiền công, do các cá nhân có thu nhập đều đặn lập ra. Người nợ lập ngân sách trả nợ với tòa án, và đồng ý thanh toán từng phần (thấp hơn 100%) nghĩa vụ nợ cho các chủ nợ trong giai đoạn ba đến năm năm, thông thường trong vòng ba năm, Xem COMPOSITION; CRAM-DOWN; DISCHARGE OF BANKRUPCY; PREFERENCE; PRIORITY OF LIEN; REAFFIRMATION; REDEMPTION; VOIDABLE PREFERENCE.

Bankruptcy / Phá Sản

Tình trạng không trả được nợ hay mất khả năng thanh toán nợ.  Các tòa xử phá sản giải quyết hai trường hợp: phá sản tự nguyện bởi các con nợ muốn tìm kiếm khởi đầu mới, và phá sản không tự nguyện được khởi kiện bởi đủ số chủ nợ, những người tin rằng con nợ phạm luật phá sản bằng cách giấu giếm tài sản hay thiên vị giữa các chủ nợ. Trong cả hai trường hợp, mục đích là công bằng và vô tư khi giải quyết các trái quyền và phân phối tài sản. Việc lập đơn xin phá sản sẽ tự động hoãn việc thu nợ cho đến khi nợ được giải quyết, đơn kiến nghị bị bác hay kế hoạch tái thanh toán được các chủ nợ chấp thuận. Sau khi hồ sơ xin phá sản được lập, vụ phá sản vẫn còn trên báo cáo của văn phòng tín dụng của con nợ trong 10 năm.  Bộ Luật Cải cách phá sản năm 1978 là sửa đổi lớn lần đầu tiên Bộ Luật phá sản trong bốn thập kỷ đã đem lại những thay đổi quan trọng: luật mới đơn giản hóa các thủ tục cho việc lập đơn xin phá sản, bổ sung quy tắc ưu tiên tuyệt đối (absolute priority rule) giúp các chủ nợ lâu năm được bảo đảm so các chủ nợ khacsm giới hạn trái quyền của chủ nợ trong việc khấu trừ tài sản của con nợ và mở rộng quyền thẩm phán liên bang khi quyết định các vụ phá sản. Các tu chính án của bộ luật năm 1984 trao cho tòa xử phá sản, quyền bác bỏ các đơn xin phá sản gian dối do các con nợ giấu diếm tài sản. Các tu chính án có hiệu lực từ năm 2005 (luật ngăn cấm lạm dụng luật phá sản và bảo vệ khách hàng) bổ sung thêm luật phá sản nhằm ngăn chặn các đơn xin phá sản gian dối. Các cá nhân có đủ thu nhập để hoàn trả một phần món nợ của họ (xác đinh bởi kiểm định tài sản) buộc phải lập đơn xin phá sản theo Chương 13. Các chương quan trọng trong bộ luật sửa đổi là các chương sau: Chương 7: Được gọi là Thanh lý, cho phép người nhận ủy thác do tòa chỉ định có các quyền tùy ý phân phối các tài sản giữa các chủ nợ, và dàn xếp tài chính tạm thời. Nói chung, người nhận ủy thác đại diện cho quyền lơi của các chủ nợ không được bảo đảm. Tuy nhiên, nếu không có tài sản, thì nợ được dỡ bỏ và các chủ nợ không nhận được gì cả.  Chương 9: Phần bộ luật ít được sử dụng, được thiết kế cho việc điều chỉnh nợ đô thị. Cũng được gọi là tái tổ chức đô thị.  Chương 11: Tái tổ chức thông thường bởi một doanh nghiệp, cho phép con nợ thuộc quyền sở hữu nếu không có tên người nhận ủy thác duy trì hoạt động kiểm soát, trong khi tái cơ cấu nợ và thực hiện thời biểu tái thanh toán có thể chấp nhận cho chủ nợ. Khoản vay của chủ nợ dành cho các con nợ theo Chương 11 thì được phép trong một số điều kiện nhất định. Chương 12: Khoản dự phòng mới để giải quyết các vụ phá sản nông nghiệp, cho phép các nông trại nhỏ sở hữu gia đình có số nợ dưới 1.5 triệu USD được trả nợ dựa trên giá trị thị trường hợp lý của tài sản thế chấp tiền vay. Chương 13: Kế hoạch thanh toán nợ, được gọi là kế hoạch trả nợ dần theo tiền công, do các cá nhân có thu nhập đều đặn lập ra. Người nợ lập ngân sách trả nợ cho với tòa án và đồng ý thanh toán từng phần (thấp hơn 100%) nghĩa vụ nợ cho các chủ nợ trong vòng ba năm Xem COMPOSITION; CRAM DOWN; DISCHARGE OF BANKRUPCY; PREFERENCE; PRIORITY OF LIEN; REAFFIRMATION; REDEMPTION; VOIDABLE PREFERENCE.

Tình trạng không trả được nợ hay mất khả năng thanh toán nợ.  Các tòa xử phá sản giải quyết hai trường hợp lớn: PHÁ SẢN TỰ NGUYỆN bởi các con nợ muốn tìm kiếm khởi đầu mới, và PHÁ SẢN KHÔNG TỰ NGUYỆN được khởi kiện bởi đủ số chủ nợ, những người tin rằng con nợ phạm LUẬT PHÁ SẢN bằng cách giấu giếm tài sản hay thiên vị giữa các chủ nợ. Trong cả hai trường hợp, mục đích là công bằng và vô tư khi giải quyết các trái quyền và phân phối tài sản. Việc lập đơn xin phá sản sẽ tự động hoãn việc thu nợ cho đến khi nợ được giải quyết, đơn kiến nghị bị bác hay kế hoạch thanh toán được các chủ nợ chấp thuận. Sau khi hồ sơ xin phá sản được lập, vụ phá sản vẫn còn trên báo cáo của văn phòng tín dụng của con nợ trong 10 năm. Bộ luật Cải cách Phá sản 1978, là sửa đổi lớn lần đầu tiên Bộ luật phá sản trong 4 thập kỷ đã đem lại những thay đổi quan trọng: luật mới đơn giản hóa các thủ tục cho việc lập đơn xin phá sản, bổ sung QUY TẮC ƯU TIÊN TUYỆT ĐỐI (ABSOLUTE PRIORITY RULE) giúp các chủ nợ lâu năm được bảo đảm so các chủ nợ khác, giới hạn trái quyền của chủ nợ trong việc khấu trừ tài sản của con nợ, và mở rộng quyền thẩm phán liên bang khi quyết định các vụ phá sản. Các tu chính của bộ luật năm 1984 trao cho tòa xử phá sản, quyền bác bỏ các đơn xin phá sản gian dối do các con nợ giấu giếm tài sản. Các tu chính án có hiệu lực năm 2005 (LUẬT NGĂN CẤM LẠM DỤNG PHÁ SẢN VÀ BẢO VỆ KHÁCH HÀNG) bổ sung thêm luật phá sản nhằm ngăn chặn các đơn xin phá sản gian dối. Các cá nhân có đủ thu nhập để hoàn trả một phần món nợ của họ (xác định bởi "kiểm định tài sản") buộc phải lập đơn xin phá sản theo Chương 13. Các chương quan trọng trong bộ luật sửa đổi là các chương sau: Chương 7: được gọi là THANH LÝ, cho phép người nhận ủy thác do tòa chỉ định có các quyền tùy ý phân phối các tài sản giữa các chủ nợ, và dàn xếp tài chính tạm thời. Nói chung, người nhận ủy thác đại diện quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm. Tuy  nhiên, nếu không có tài sản thì nợ được dỡ bỏ và các chủ nợ không nhận được gì cả. Chương 9: phần bộ luật ít được sử dụng, được thiết kế cho việc điều chỉnh nợ đô thị. Cũng được gọi là tài tổ chức đô thị. Chương 11: TÁI TỔ CHỨC, thông thường bởi một doanh nghiệp cho phép con nợ (được gọi là CON NỢ THUỘC QUYỀN SỞ HỮU nếu không có tên người nhận ủy thác), duy trì hoạt động kiểm soát, trong khi tái cơ cấu nợ và thực hiện thời biểu tái thanh toán có thể chấp nhận cho chủ nợ. Khoản vay của chủ nợ dành cho các con nợ theo Chương 11 thì được phép trong một số điều kiện nhất định.  Chương 12: Khoản dự phòng mới để giải quyết các vụ phá sản nông nghiệp, cho phép các nông trại nhỏ sở hữu gia đình có số nợ dưới 1.5 triệu USD, được trả nợ dựa trên giá thị trường hợp lý của tài sản thế chấp tiền vay. Chương 13: Kế hoạch thanh toán nợ, được gọi là KẾ HOẠCH TRẢ NỢ DẦN THEO TIỀN CÔNG do các cá nhân có thu nhập đều đặn lập ra. Người nợ lập ngân sách trả nợ cho với tòa án, và đồng ý thanh toán từng phần (thấp hơn 100%) nghĩa vụ nợ cho các chủ nợ trong giai đoạn ba đến năm năm, thông thường trong vòng ba năm. Xem COMPOSITION; CRAM-DOWN, DISCHARGE OF BANKRUPTCY; PREFERENCE; PRIORITY OF LIEN; REAFFIRMATION; REDEMPTION, VOIDABLE PREFERENCE.

Phá sản là một quy trình pháp lý liên quan đến việc một cá nhân hay tổ chức không còn chi trả các khoản nợ. Phá sản bắt đầu bằng việc người mắc nợ hoặc đôi khi là chủ nợ đệ đơn đề nghị phá sản. Mọi tài sản của người mắc nợ sẽ được định giá để chi trả một phần cho các khoản nợ. Nhờ vào việc phá sản thành công, người mắc nợ sẽ được giải phóng khỏi nghĩa vụ nợ xảy ra trước khi điền đơn đề nghị phá sản.  Phá sản mang lại cho cá nhân hoặc tổ chức cơ hội để bắt đầu lại một công việc kinh doanh mới bằng việc được miễn trừ nợ trong khi chủ nợ vẫn có cơ hội được hoàn lại một phần cho vay từ việc thanh lý tài sản của người mắc nợ. Trên lý thuyết, việc đệ đơn phá sản có thể có lợi cho toàn nền kinh tế bằng việc mở ra cho các cá nhân, tổ chức một cơ hội kinh doanh khác và cung cấp cho các chủ nợ một phương pháp để nhận lại một phần khoản tiền cho vay. Phá sản ở Mỹ có thể là một trường hợp thuộc một số chương của Đạo luật Phá sản, như là Chương 7 (quy định về thanh lý tài sản), Chương 11 (tái cấu trúc) và Chương 13 (hoàn nợ với điều khoản nợ dưới chuẩn hoặc kế hoạch trả nợ). Điều kiện để được phá sản khác nhau giữa các quốc gia dẫn đến tỷ lệ đệ đơn phá sản thấp hay cao khác nhau phụ thuộc vào việc một cá nhân hay doanh nghiệp có dễ dàng hoàn thành quy trình phá sản hay không.

Banking Services / Dịch Vụ Ngân Hàng

Các hoạt động chính của ngân hàng bao gồm: Giữ tiền được an toàn trong khi vẫn cho phép rút tiền khi cần thiết. Phát hành sổ séc mà nhờ đó các hóa đơn được thanh toán, và các dạng thanh toán khác có thể được chuyển phát bằng bưu điện. Cung cấp các khoản vay và vay thế chấp (chủ yếu là các khoản vay để mua nhà, tài sản hoặc kinh doanh). Phát hành thẻ tín dụng. Cho phép giao dịch tài chính tại các chi nhánh hoặc sử dụng máy ATM. Tạo điều kiện thuận lợi cho lệnh duy trì* và các món nợ trực tiếp, nhờ đó việc thanh toán hóa đơn có thể thực hiện tự động. Dàn xếp số tiền chi trội bằng tiền của chính Ngân hàng để đáp ứng mức chi tiêu hàng tháng của khách hàng trong tài khoản hiện hành của họ. Cung cấp thẻ thanh toán tiêu dùng. Cung cấp thẻ séc được đảm bảo bởi chính ngân hàng và được trả trước bởi khách hàng. (*)Lệnh duy trì (standing order): Một lệnh hay điều luật được giữ cho có hiệu lực cho đến khi được thay đổi hay rút lại, đặc biệt các thủ tục trong nghị viện hay trong quân đội.

Banking School / Trường Phái Ngân Hàng

Một tập hợp các ý kiến liên quan đến cuộc tranh luận về quy tắc điều tiết phát hành giấy bạc của ngân hàng Anh trong nửa đầu thế kỷ XIX.

Banking Panic / Cơn Hoảng Loạn Ngân Hàng

Một tình huống trong đó có sự mất tự tin của một hay nhiều ngân hàng gây nên sự "đổ xô" bất ngờ và lan rộng của công chúng tới các ngân hàng nói chung để rút tiền gửi hoặc vào những lúc khi phát hành lệnh phiếu tư nhân là phổ biến để yêu cầu thanh toán các hối phiếu này bằng phương tiện khác.

Banking And Currency Schools / Hai Nhóm Các Nhà Kinh Tế Của Anh

British Banking School và British Currency School là hai nhóm các nhà kinh tế, có quan điểm đối lập về những vấn đề ngân hàng và tiền tệ.

Banker's Acceptance / Chấp Nhận Của Ngân Hàng

Đây là một thuật ngữ chỉ việc: tờ Séc hoặc Thương phiếu được một ngân hàng bảo đảm, thưòng được dùng trong việc cấp vốn cho nhà xuất nhập khẩu. Khi ngân hàng chấp nhận một thương phiếu thì uy tín của người phát hành cũng được nâng cao, nên các thương phiếu được ngân hàng chấp nhận thường là những chứng thư nợ có chất lượng cao có thể bán lại dễ dàng cho các nhà đầu tư. Tất nhiên với nghiệp vụ chấp nhận này ngân hàng sẽ được hưởng một khoản thù lao. Người nắm giữ những chứng thư này (thường là người xuất khẩu nắm giữ tờ Séc hoặc Hối phiếu kí phát cho người nhập khẩu) sẽ đến Ngân hàng yêu cầu "được chấp nhận" lên tờ Séc hay Thương phiếu ấy. Khi ngân hàng chứng thực lên đó tức là nó đã cam kết và thừa nhận trách nhiệm thanh toán cuối cùng của mình cho bất kì người nào cầm giữ chứng thư được chấp nhận đó, nhưng thông thường sự đảm bảo này có giá trị trong vòng 6 tháng. Sau đó chứng thư này, do có sự bảo đảm của ngân hàng nên dễ lưu thông mua bán trên thị trường thứ cấp hơn và thường được bán theo một tỉ lệ chiết khấu nhất định trên mệnh giá của nó.               "Chấp nhận của ngân hàng" được sử dụng rất phổ biến ở Mỹ, và được xem như một tài sản rất an toàn, bởi vì nó thay thế được tín dụng ngân hàng và có tính linh động cao vì có thể mua đi bán lại dễ dàng trên thị trường. Bên cạnh đó nó được sử dụng rộng rãi trong giao dịch quốc tế khi mà các đối tác chưa thực sự tin tưởng vào uy tín của nhau.

Bank Run / Rút Tiền Hàng Loạt

Việc rút tiền mặt bất ngờ hàng loạt, do việc giảm nhanh niềm tin của người gửi tiền, hay do lo sợ ngân hàng sẽ bị đóng của bởi cơ quan thẩm quyền. Ngày nay, việc rút tiền âm thầm phổ biến hơn việc rút tiền hàng loạt trong quá khứ, khi đó khách hàng xếp hàng trước quầy giao dịch viên và yêu cầu rút tiền tiết kiệm của họ. Ngày nay, những người gửi tiền đơn giản chỉ chuyển tiền nhạy với lãi suất- được gọi là gửi tiền nóng (hot money) tới các định chế khác. Cũng được gọi là rút tiền tháo chạy khỏi ngân hàng (run on a bank).

Bank Reserves Requirement / Yêu Cầu Dự Trữ Ngân Hàng

Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng mà các ngân hàng thương mại phải giữ bằng tiền mặt để bảo đảm số tiền gửi, theo quy định của chính phủ. Tăng yêu cầu dự trữ sẽ làm giảm lượng tiền gửi mà một ngân hàng có thể cho vay hoặc đầu tư; còn giảm yêu cầu dự trữ có tác động ngược lại.

Bank Rate / Tỉ Lệ Chiết Khấu Chính Thức Của Ngân Hàng Anh

Xem COMPETITION AND CREDIT CONTROL, MONETARY POLICY.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55