Bear Hug / Tình Thế Bắt Buộc
Bear hug - dịch vui theo đúng nghĩa đen thì là Bị gấu ôm. Nhưng trong hoạt động kinh doanh, nó dùng để chỉ tình thế bắt buộc. Đó là khi giá đặt mua cao (takeover) - Giá đặt mua nhằm mua lại một công ty/ giá đặt mua để tiếp quản công ty, vì thế có giá và các đặc tính hấp dẫn BGĐ công ty bị mua (target company), BGĐ có thể phản đối vì các lý do khác nhưng cuối cùng vẫn phải chấp nhận nếu không muốn bị các cổ đông phản đối.
Đây là lời đề nghị của một công ty muốn mua cổ phiếu của người khác với mức giá mỗi cổ phiếu cao hơn giá trị của công ty. Tình thế bắt buộc thường được thực hiện khi ai đó nhận thấy rằng nhà quản lý của công ty mục tiêu đang sẵn lòng bán công ty của mình. Cái tên "tình thế bắt buộc" phản ánh tính thuyết phục đến từ một lời đề nghị quá hào phóng của công ty đề nghị đến công ty mục tiêu. Bằng cách đưa ra một mức giá mua vượt xa giá trị hiện tại của công ty đó, bên đề nghị hay là người đạt được thỏa thuận. Các nhà quản lý của công ty mục tiêu về cơ bản buộc phải chấp nhận một đề nghị hào phóng như vậy bởi vì họ có nghĩa vụ về mặt pháp lý là phải đem lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông.
Bear Bond / Trái Phiếu Tăng Giá Trị Khi Thị Trường Giá Xuống
Trái phiếu được xem như là có thể tăng giá trị khi thị trường giá xuống, ví dụ như lúc lãi suất thị trường đang tăng. Trái phiếu điển hình trả cho nhà đầu tư các khoản tiền mặt cố định theo trị giá đồng dollar và theo thời điểm chi trả, đồng thời giá của nó cũng giảm khi lãi suất thị trường tăng. Ví dụ, một vài loại trái phiếu nhất định như trái phiếu có lãi suất tách riêng (interest-only strip) hay chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp - chỉ trả duy nhất lãi suất, là có khả năng tăng giá trị khi thị trường giá xuống bởi vì các khoản trả trước của thế chấp cơ sở đã bị chậm lại. Việc làm chậm lại các khoản trả trước làm tăng tổng số tiền mặt mà nhà đầu tư mong nhận được trong khoảng thời gian đầu tư có hiệu lực.
Bayesian Techniques / Kỹ Thuật Bayes
Các phương pháp phân tích thống kê (bao gồm ƯỚC LƯỢNG và SUY LUẬN THỐNG KÊ) trong đó thông tin trước đây được kết hợp với số liệu mẫu để đưa ra những ước tính hay các giả thuyết kiểm nghiệm.
Batch / Nhóm, Đợt
Nhóm các chi phiếu, hối phiếu hay công cụ tài chính, được quản lý như một đơn vị xử lý tại văn phòng hỗ trợ trong ngày. Cũng được gọi là lô (block). Ngược với việc xử lý trực tuyến.
Nhóm các chi phiếu, hối phiếu, hay công cụ tài chính, được quản lý như một đơn vị xử lý tại văn phòng hỗ trợ trong ngày. Cũng được gọi là lô (block). Ngược với việc xử lý trực tuyến.
Basic Risk / Rủi Ro Basis
Là rủi ro mà các khoản đầu tư bù đắp vị thế trong một chiến lược phòng ngừa rủi ro không thay đổi theo các hướng đối ngược nhau. Mối tương quan không hoàn hảo giữa các khoản đầu tư bù đắp vị thế đã tạo ra các khoản lỗ hoặc lãi tiền tiêm ẩn trong một chiến lược phòng ngừa rủi ro và do đó đã làm gia tăng thêm rủi ro cho vị thế của nhà đầu tư (nhà phòng ngừa rủi ro)Các phương tiện bù đắp thường tương tự nhau trong cấu trúc của các khoản đầu tư được sử dụng để phòng ngừa rủi ro nhưng chúng vẫn khác nhau đủ để gây ra sự lo lắng cho các nhà phòng ngừa rủi ro. Ví dụ, trong nỗ lực cố gắng phòng ngừa rủi ro trái phiếu 2 năm với việc mua giao sau T-bill, sẽ có một rủi ro vì giữa T-bill và trái phiếu 2 năm đó không biến động hoàn toàn giống nhau.
Basis Rate Swap / Swap Lãi Suất Cơ Bản
Swap lãi suất cơ bản là một loại swap mà 2 bên thực hiện swap lãi suất thả nổi dựa trên cácthị trường tiền tệ khác nhau. Điều này thường được làm để hạn chế rủi ro lãi suất mà một công ty phải đối mặt do việc cho vay và đi vay với các lãi suất khác nhau.Ví dụ, một công ty cho các cá nhân vay tiền với lãi suất thả nổi theo lãi suất liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR) nhưng họ lại đi vay tiền với lãi suất T- bill. Sự khác nhau giữa lãi suất đi vay và lãi suất cho vay đặt công ty vào vị thế có rủi ro lãi suất. Bằng việc tham gia vào hợp đồng swap lãi suất cơ bản, nơi mà họ có thể trao đổi lãi suất T-Bill cho lãi suất LIBOR, họ có thể hạn chế được rủi ro lãi suất.
Basis Point(S) - BPS / Điểm Cơ Bản
Đơn vị lãi suất tương đương với 1/100 của 1%, và được sử dụng thường xuyên, thông dụng để thông báo thay đổi lãi suất của một công cụ tài chính. Điểm cơ bản được dùng phổ biến khi tính lãi suất, các chỉ số cổ phiếu và lợi suất của chứng khoán thu nhập cố định (fixed-income). 1% lãi suất được hiểu là 100 bps (100 điểm cơ bản). Một trái phiếu có mức lợi suất từ 5% tăng lên 5.5% được gọi là mức tăng 50 bps. Nếu ngân hàng tăng lãi suất thêm +1% thì có nghĩa là lãi suất tăng thêm 100 bps.
Basis / Basis
1. Basis được định nghĩa là sự khác biệt giữa giá giao ngay của hàng hóa giao nhận và giá của hợp đồng giao sau tương ứng cho cùng khoảng thời gian sống ngắn nhất cho đến khi đáo hạn. Bởi vì luôn có sự khác biệt giữa giá giao ngay và giá giao sau tương ứng cho đếnngày đáo hạn của hợp đồng gần nhất, basis không thật sự cần thiết phải chính xác. Thêm vào đó, sự khác biệt còn được tạo ra bởi các khoảng thời gian đáo hạn khác nhau giữa hợp đồng giao sau và hàng hóa giao ngay, chất lượng sản phẩm, địa điểm giao hàng… cũng có thể rất khác nhau. Nói chung, basis được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá khả năng sinh lợi giao nhận tiền mặt hoặc hàng hóa thực và các nhà đầu tư cũng sử dụng basis để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh chênh lệch.2. Basis của một chứng khoán là giá mua sau khi đã trừ đi chi phí môi giới và các chi phí khác. Nó cũng được gọi là” basis chi phí” hoặc “ basis thuế”. Các số liệu này được sử dụng để tính toán lãi vốn hoặc lỗ vốn khi chứng khoán đó được bán đi.
Basing-Point System / Hệ Thống Điểm Định Vị Cơ Sở
Một cách định giá trong đó những người bán hàng khác nhau trong một thị trường thống nhất rằng mức giá đối với một hàng hoá sẽ được tính bằng tổng giá cố định và mức phí vận chuyển đã được thống nhất liên quan đến khoảng cách giữa người tiêu dùng và điểm gần nhất trong một số các địa điểm đã được thoả thuận gọi là "các điểm định vị cơ sở".
Basic Principles Of Insurance / Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Bảo Hiểm
Có thể chia các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thành 5 nguyên tắc sau: 1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty) 2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith) 3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest) 4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity) 5. Nguyên tắc thế quyền (subrobgation)
Basic Need Philosophy / Triết Lý Nhu Cầu Cơ Bản
Là chiến lược phát triển được thảo luận nhiều trong những năm gần đây. Khác với các lý thuyết tích luỹ cổ điển, nó nhấn mạnh rằng có một số mục cần phải ưu tiên. Đó là (1) Cung cấp các hàng tiêu dùng cơ bản như thức ăn, quần áo và chỗ ở, (2) Các dịch vụ cần thiết như nước, giáo dục, y tế, (3) Quyền có việc làm với thu nhập đủ đảm bảo các nhu cầu cơ bản, (4) Cơ sở hạ tầng đáp ứng cho nhu cầu cơ bản về hàng hoá và dịch vụ và (5) Tham gia vào quá trình ra quyết định. Chiến lược này hướng vào sản xuất. Triết lý này được cả các triết gia bảo thủ và các triết gia cấp tiến ủng hộ. Nó cũng vấp phải các chỉ trích là không đầy đủ và không có gì thực sự là mới mẻ.
Basic Exports / Hàng Xuất Khẩu Cơ Bản
Tên gọi của các hàng xuất khẩu sơ chế của các nước kém phát triển.
Basic Concepts About Securities Market / Khái Niệm Cơ Bản Thị Trường Chứng Khoán
1. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. 2. Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. 3. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. 4. Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng. 5. Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định. 6. Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định. 7. Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước. 8. Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một số lượng và mức giá nhất định vào ngày xác định trước trong tương lai. 9. Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ năm phần trăm trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành. 10. Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. 11. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán. 12. Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:a) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet;b) Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;c) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định. 13. Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng. 14. Tổ chức bảo lãnh phát hành là công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và ngân hàng thương mại được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận bảo lãnh phát hành trái phiếu theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định. 15. Tổ chức kiểm toán được chấp thuận là công ty kiểm toán độc lập thuộc danh mục các công ty kiểm toán được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán theo điều kiện do Bộ Tài chính quy định. 16. Bản cáo bạch là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết chứng khoán của tổ chức phát hành. 17. Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. 18. Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. 19. Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. 20. Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. 21. Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình. 22. Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng. 23. Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán. 24. Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán. 25. Đăng ký chứng khoán là việc ghi nhận quyền sở hữu và các quyền khác của người sở hữu chứng khoán. 26. Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo uỷ thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán. 27. Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. 28. Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng. 29. Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá ba mươi thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân. 30. Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. 31. Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư. 32. Thông tin nội bộ là thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng đó. 33. Người biết thông tin nội bộ là:a) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc của công ty đại chúng; thành viên Ban đại diện quỹ đại chúng;b) Cổ đông lớn của công ty đại chúng, quỹ đại chúng;c) Người kiểm toán báo cáo tài chính của công ty đại chúng, quỹ đại chúng;d) Người khác tiếp cận được thông tin nội bộ trong công ty đại chúng, quỹ đại chúng;đ) Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và người hành nghề chứng khoán của công ty;e) Tổ chức, cá nhân có quan hệ hợp tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ với công ty đại chúng, quỹ đại chúng và cá nhân làm việc trong tổ chức đó;g) Tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp có được thông tin nội bộ từ những đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này. 34. Người có liên quan là cá nhân hoặc tổ chức có quan hệ với nhau trong các trường hợp sau đây:a) Cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, vợ, chồng, con, con nuôi, anh, chị em ruột của cá nhân;b) Tổ chức mà trong đó có cá nhân là nhân viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, chủ sở hữu trên mười phần trăm số cổ phiếu lưu hành có quyền biểu quyết;c) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác của tổ chức đó;d) Người mà trong mối quan hệ với người khác trực tiếp, gián tiếp kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi người đó hoặc cùng với người đó chịu chung một sự kiểm soát; đ) Công ty mẹ, công ty con;e) Quan hệ hợp đồng trong đó một người là đại diện cho người kia.
Basel Accord / Thoả Ước Basel
Thoả ước Basel (hay Basle) là thoả ước về quản lý ngân hàng, bao gồm các đề xuất về luật là qui định quản chế ngân hàng. Basel I và Basel II do uỷ ban Quản chế ngân hàng Basel (BCBS) - Thuỵ Sĩ ban hành. Thoả ước này có tên là thoả ước Basel vì BCBS là tổ chức giữ vai trò thư ký ngân hàng thanh toán quốc tế Basel và uỷ ban này thường xuyên nhóm họp tại đó. Thoả ước này phần lớn được áp dụng tại Châu Âu, nhưng nó còn được nhiều nước khác trên thế giới sử dụng với vai trò như một chuẩn mực quốc tế cho ngành tài chính - ngân hàng. Gần đây, ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng bắt đầu có những bước đi cụ thể để áp dụng chuẩn mực này vào hệ thống ngân hàng Việt Nam, ví dụ như việc yêu cầu các ngân hàng thương mại phải đảm bảo được tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%. Uỷ ban Basel bao gồm thành viên đến từ ngân hàng trung ương và các cơ quan quản chế ngân hàng của các nước G10, thêm một số nước khác (thường có Luxembourg và Tây Ban Nha). Uỷ ban này không có thẩm quyền thực thi các đề xuất của mình, dù cho các quốc gia thành viên (và rất nhiều nước khác) có xu hướng thi hành chính sách của Ủy ban. Điều này có nghĩa là các đề xuất của Uỷ ban này được thực thi một cách gián tiếp thông qua luật pháp và các qui định quản lý của từng quốc gia, vì vậy đôi khi, giữa thời điểm đưa ra đề xuất cho đến khi nó được thực hiện thường có độ chênh về thời gian. Vấn đề trọng tâm trong Thoả ước Basel liên quan đến mức độ an toàn vốn - nhằm đảm bảo rằng các định chế tài chính luôn duy trì một số vốn cần thiết (vốn cấp I và vốn cấp II) để tự bảo vệ mình trước những rủi ro không lường trước được. Basel I được ban hành năm 1988, đưa ra những nguyên tắc cơ bản, ví dụ như về rủi ro tín dụng. Thoả ước này sau đó được cập nhật lại năm 1996, bao quát thêm cả rủi ro thị trường và được làm rõ cũng như mở rộng thêm ở một số khía cạnh khác. Basel I đã được hoàn thiện vào 2004 sau một quá trình bàn bạc, tham vấn kéo dài. Mục tiêu của nó là làm cho những thước đo tài chính trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro, phân mục cũng như định lượng một vài nhóm rủi ro. Thoả ước Basel được đặt tên theo thành phố Basel của Thuỵ Sĩ. Trong những ấn bản đầu tiên, đôi khi người ta dùng từ tiếng Anh "Basle", hoặc từ tiếng Pháp "Bâle", những tên này vẫn còn được sử dụng trong nhiều ấn bản hiện nay. Gần đây, uỷ ban này đã lấy lại tên ban đầu khá phổ biến trong tiếng Đức là Basel. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể bắt gặp nhiều tên gọi khác nhau của thoả ước này.a
Một bộ các thỏa ước do uỷ ban Quản chế ngân hàng Basel (BCBS) ban hành, đưa ra các đề xuất về các quy định ngân hàng liên quan đến rủi ro vốn, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Mục đích của các hiệp định là đảm bảo rằng các tổ chức tài chính có đủ vốn trong tài khoản để đáp ứng các nghĩa vụ và hấp thụ các khoản lỗ bất ngờ. Hiệp định Basel đầu tiên, được gọi là Basel I, được ban hành năm 1988 và tập trung vào sự an toàn vốn của các tổ chức tài chính. Rủi ro an toàn vốn, (rủi ro mà một tổ chức tài chính sẽ bị tổn thất nếu thua lỗ bất ngờ), phân loại tài sản của tổ chức tài chính thành năm loại rủi ro (0%, 10%, 20%, 50%, 100%). Các ngân hàng hoạt động quốc tế được yêu cầu có hệ số rủi ro từ 8% trở xuống. Hiệp định Basel thứ hai, được gọi là Basel II, được hoàn thiện vào năm 2015. Nó tập trung vào ba lĩnh vực chính, bao gồm yêu cầu vốn tối thiểu, đánh giá giám sát và kỷ luật thị trường, được gọi là ba trụ cột. Trọng tâm của thỏa thuận này là tăng cường các yêu cầu ngân hàng quốc tế cũng như giám sát và thực thi các yêu cầu này.
Base Rate / Lãi Suất Gốc
Sau khi bãi bỏ những hiệp định về tiền gửi và tiền vay năm 1971, CÁC NGÂN HÀNG THANH TOÁN BÙ TRỪ CỦA ANH đã áp dụng tập quán xác định và thông báo "lãi suất gốc". Xem COMPETITION AND CREDIT CONTROL.
Base Period / Giai Đoạn Gốc
Một thời điểm được dùng để tham khảo khi so sánh với giai đoạn sau.
Barter Economy / Nền Kinh Tế Hàng Đổi Hàng
Nền kinh tế mà hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua việc ĐỔI HÀNG, điều đó dẫn tới rất ít chuyên môn hoá hoặc phân công lực lượng lao động do yêu cầu của sự trùng lặp ý muốn.
Barter Agreements / Hiệp Định Trao Đổi Hàng
Hiệp định giữa các quốc gia, thường gặp khó khăn về CÁN CÂN THANH TOÁN, đối với việc trao đổi trực tiếp các lượng hàng hoá.
Barter / Hàng Đổi Hàng
Phương pháp trao đổi hàng hoá và dịch vụ trực tiếp lấy các hàng hoá và dịch vụ khác, không sử dụng một đơn vị kế toán hay phương tiện trao đổi nào cả.
Là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa 2 hoặc nhiều bên khác nhau mà không cần sử dụng tiền mặt. Nghiệp vụ hàng đổi hàng làm lợi cho những công ty và quốc gia nhận thấy được lợi ích tương hỗ từ việc trao đổi hàng hóa hơn là việc nhận tiền mặt, và nó cũng giúp giải quyết tình trạng thiếu thốn ngoại tệ để có được hàng hóa và dịch vụ. Ví dụ, hàng đổi hàng sẽ xảy ra nếu một ai đó xây dựng một hàng rào một bảo vệ trang trại gia súc để đổi lấy thức ăn. Thay vì người nông dân trả tiền cho người dựng rào, $1000 chẳng hạn, anh ta trả cho người này một lượng thịt bò với giá trị tương xứng với công sức người đó đã bỏ ra để xây rào.
Barter / Phương Thức Hàng Đổi Hàng
Trao đổi hàng hay các dịch vụ mà không có trao đổi tiền mặt, chi phiếu hay các hình thức thanh toán tiền tệ khác. Hệ thống hàng đổi hàng như hệ thống tiền tệ địa phương (local currency) trao đổi các sản phẩm theo giá trị so sánh. Việc trao đổi hàng đổi hàng giúp thương mại xuất nhập khẩu thuận tiện cho các quốc gia kém phát triển thiếu dự trữ ngoại tệ mạnh thông qua hình thức hàng đổi hàng được gọi là thương mại đối lưu. (counter- trade)





