Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Belief To Save / Niềm Tin Tiết Kiệm

Khái niệm "niềm tin tiết kiệm" là mức độ tin tưởng của công chúng vào một hệ thống tài chính hiện có, đây là một nhân tố cực kỳ quan trọng khi huy động tiền nhàn rỗi của công chúng. Từ niềm tin tiết kiệm sẵn có công chúng hoặc sẽ lựa chọn loại hình tiết kiệm chính thức hoặc phi chính thức. Khi dân chúng chưa tin tưởng nhiều vào hệ thống ngân hàng thương mại thì họ sẽ chủ yếu giữ tiền nhàn rỗi dưới dạng phi chính thức. Ở Việt Nam, sự tin tưởng vào hệ thống tài chính chính thức đang khôi phục dần kể từ lúc có sự sụp đổ hàng loạt các tổ chức tín dụng tư nhân vào những năm 1980, hệ thống ngân hàng cổ phần dưới sự bảo đảm của ngân hàng nhà nước cũng đã từng bước gây niềm tin với dân chúng. Tuy vậy, xu hướng chung là dân chúng vẫn có niềm tin vào hệ thống ngân hàng quốc doanh nhiều hơn là ngân hàng cổ phần tư nhân, mặc dù trong số những ngân hàng cổ phần tư nhân có nhiều ngân hàng có phong cách phục vụ đa dạng và linh hoạt. Niềm tin tiết kiệm là một nhân tố cực kỳ quan trọng khi huy động tiết kiệm. Sự sụp đổ niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính chính thức sẽ có thể tạo ra sự sụp đổ của cả hệ thống tài chính. Để xây dựng niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính chính thức thì cần phải có sự can thiệp của ngân hàng nhà nước thông qua những văn bản, nguyên tắc, luật lệ rõ ràng, có nghĩa là ngân hàng nhà nước có khả năng giám sát các ngân hàng thương mại và hình thành một nguyên tắc ổn định trong bảo hiểm tiền gởi tiết kiệm của công chúng vào các tổ chức tài chính chính thức. Đơn cử sự can thiệp của ngân hàng nhà nước Việt Nam vào ngân hàng ACB khi có “sốc” rút tiền gởi đã nhanh chóng tạo một niềm tin tốt cho công chúng, và điều này sẽ nên duy trì tiếp tục và bình đẳng cho tất cả các ngân hàng thương mại.

Beige Book / Báo Cáo Beige Book

Beige Book là tên gọi bản báo cáo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - FED về tình hình kinh tế Mỹ hiện tại cũng như bức tranh toàn cảnh về đà tăng trưởng kinh tế Mỹ, dựa trên hoạt động kinh tế của 12 ngân hàng dự trữ bang của FED. Nếu như báo cáo tích cực thì đồng USD sẽ được mua vào nhiều và ngược lại thì đồng USD sẽ chịu bán khống mạnh. Mỗi năm Beige Book được xuất bản 8 lần. Báo cáo này sẽ được FED sử dụng trong cuộc họp với Ủy ban Thị trường Mở - FOMC để thiết lập chính sách lãi suất. Các cuộc họp này thường diễn ra mỗi 6 tuần một lần và được coi là sự kiện có tầm ảnh hưởng nhất định tới các thị trường. Các nhà đầu tư thường tranh cãi nhiều tuần về khả năng thay đổi lãi suất có thể được thông báo sau thời điểm kết thúc mối cuộc họp. Nếu như kết quả công bố khác với kỳ vọng thì sẽ gây ra tác động tiêu cực khó lường cho các thị trường. Nếu như báo cáo vẽ ra nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và áp lực lạm phát cao thì FED có khuynh hướng sẽ tăng lãi suất để ổn định nền kinh tế. Ngược lại nếu như báo cáo cho thấy bối cảnh nền kinh tế khó khăn và có khả năng rơi vào suy thoái thì FED sẽ xem xét hạ thấp mức lãi suất để kích thích sức tăng trưởng kinh tế. Báo cáo thường được công bố 2 tuần trước khi phiên họp của FOMC diễn ra, do đó giới đầu tư có thể xem xét ít nhất một trong số nhiều chỉ báo kinh tế mà các quan chức của FED sẽ sử dụng để quyết định chính sách lãi suất và từ đó nhà đầu tư có thể định hướng cho danh mục đầu tư của mình.

Behavioural Theories Of The Firm / Các Lý Thuyết Dựa Trên Hành Vi Về Hãng; Lý Thuyết Về Hãng Dựa Trên Hành Vi

Một nhóm các lý thuyết coi hãng như một liên minh của các phân nhóm mà mục đích của chúng vốn dĩ mâu thuẫn nhau. Xem EFFICIENCY.

Behavioural Expectations / Kỳ Vọng Dựa Trên Hành Vi

Một quan điểm về sự hình thành các kỳ vọng dựa trên các yếu tố tâm lý và xã hội.

Behavioural Equation / Phương Trình Về Hành Vi

Một mối quan hệ toán học trong một mô hình kinh tế hay kinh tế lượng, phản ánh sự phản ứng của một cá nhân hay một tập hợp các cá nhân đối với các khuyến khích kinh tế (ví dụ HÀM TIÊU DÙNG).

Behavioral Finance / Tài Chính Hành Vi

Đây là một lĩnh vực tài chính đưa ra các lý thuyết đựa trên các phân tích tâm lý để giải thích những diễn biến bất thường trên thị trường chứng khoán. Tài chính hành vi thường dựa trên giả định rằng cấu trúc thông tin và đặc tính của những người tham gia vào thị trường chứng khoán đều bị ảnh hưởng một cách hệ thống bởi các quyết định đầu tư cá nhân cũng như các tác động của thị trường. Đã có rất nhiều nghiên cứu viện dẫn các hiện tượng đã xảy ra trong thị trường chứng khoán đối lập với thuyết thị trường hiệu quả, không thể giải thích được một cách thoả đáng theo mô hình này nhưng lại có thể lý giải dựa trên các lý thuyết tài chính hành vi. Hãy cùng xét môt ví dụ: Giả sử cho một người lựa chọn giữa việc chắc chắn nhận được 50$ và tung đồng xu, nếu được thì anh ta sẽ có 100$, nếu không được thì anh ta sẽ chẳng có gì. Một khả năng là người này lựa chọn bỏ túi 50$. Tuy nhiên anh ta cũng có thể thử vận may với trò chơi sấp ngửa, xác suất là 50:50. Thông thường thì mọi người có xu hướng tung đồng xu để kiếm thêm được 50$ mặc dù việc này có thể khiến anh ta mất luôn cả 50$ mà lẽ ra anh ta lẽ ra đã có được một cách chắc chắn. Hành vi trên cũng đúng với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Ví dụ các nhà đầu tư vào chứng khoán của tập đoàn Nortel Networks, năm 2000 giá cổ phiếu của tập đoàn này giảm từ 100$ xuống còn chưa đầy 2$. Và cho dù giá có giảm thế nào thì các nhà đầu tư vẫn tin rằng giá sẽ sớm hồi phục, do đó họ vẫn tiếp tục nắm giữ cổ phiếu này. Tài chính hành vi cũng khám phá ra rằng các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư với giá trị  lớn mà chỉ dựa trên lượng thông tin ít ỏi từ một nguồn duy  nhất. Thêm vào đó, niềm tin của họ thật khó mà lay chuyển nổi. Vào cuối những năm 90, một niềm tin đeo đuổi các nhà đầu tư đó là bất cứ sự sụt giá đột ngột nào trên thị trường cũng là một thời điểm tốt để mua vào. Các nhà đầu tư thường quá tự tin vào phán quyết của mình và tin vào những lời đồn thổi hơn là sự thật hiển hiện trước mắt mình. Trên thực tế có rất ít các nhà đầu tư giá trị sử dụng các nguyên lý hành vi để tìm ra cổ phiếu nào rẻ nhưng lại mang lại thu nhập thực sự cho họ. Lý thuyết tài chính hành vi hiện vẫn nặng về học thuật hơn là khả năng ứng dụng để quản lý tiền tệ và đầu tư. Robert Shiller, tác giả của cuốn sách"Irrational Exuberance", đã chỉ ra rằng thị trường trong cuối thập kỉ 90 là một quả bóng khổng lồ, nhưng ông lại không thể tiên liệu được là khi nào thì quả bóng đó sẽ nổ. Tương tự, các chuyên gia nghiên cứu hành vi ngày nay cũng không thể dự báo khi nào thì thị trường sẽ xuống tới mức thấp nhất mà họ chỉ có thể mô tả trạng thái hiện tại của thị trường là thế nào. Lý thuyết tài chính hành vi không thể cung cấp một phương thức đầu tư kì diệu, nhưng lại có thể giúp các nhà đầu tư cẩn trọng hơn đối với các hành vi đầu tư của mình, từ đó có thể tránh được các sai lầm khiến họ trở nên nghèo hơn.

Một lĩnh vực tài chính dựa trên lý thuyết tâm lý học để giải thích các hiện tượng bất thường của thị trường chứng khoán. Trong tài chính hành vi, người ta cho rằng các cấu trúc thông tin và các đặc điểm của người tham gia thị trường sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cá nhân cũng như kết quả của thị trường một cách có hệ thống. Đã có nhiều nghiên cứu ghi nhận hiện tượng lịch sử lâu dài trong thị trường chứng khoán đi ngược lại với giả thuyết thị trường hiệu quả và không thể áp dụng các mô hình một cách hợp lý dựa trên tính hợp lý của nhà đầu tư hoàn hảo. Tài chính hành vi luôn cố gắng để lấp đầy khoảng trống đó.

Behavioral Economics / Kinh Tế Học Hành Vi

Trong phân tích kinh tế thì Kinh tế học hành vi là một nhánh riêng của nó, được áp dụng trong các nghiên cứu đối với các nhân tố thuộc con người và xã hội, kinh nghiệm và cảm xúc nhằm mục đích hiểu rõ hơn các quyết định cũng như hành vi của người tiêu dùng, nhà đầu tư; đánh giá mức độ ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường, doanh thu và việc phân bổ các nguồn lực. Ngay từ khi được hình thành, khái niệm kinh tế học hành vi được phát triển dựa trên kết quả của việc quan sát và khảo sát thực nghiệm, nhưng đến nay, khái niệm này chủ yếu được dựa những dữ liệu kinh tế thực tế. Kinh tế học hành vi tập trung nghiên cứu 3 mảng đề tài chính: Khám phá (Heuristics): con người thường đưa ra các quyết định dựa trên quy tắc ngón cái, không bám sát các phân tích hợp lý; Bối cảnh (Framing): bối cảnh sẽ ảnh hưởng tới hành động của người đưa ra quyết định; Thị trường không hiệu quả (Market inefficiencies): tồn tại một số giải thích tại sao những kết quả thị trường quan sát được lại trái với các kỳ vọng hợp lý và hiệu quả thị trường. Đó là: định giá không chính xác, quyết định bất hợp lý, và thu nhập bất thường.

Beggar My Neighbour Policies / Chính Sách Làm Nghèo Nước Láng Giềng

Những biện pháp kinh tế mà một nước thực hiện nhằm cải thiện tình hình trong nước, thường là giảm thất nghiệp và có những tác động bất lợi với các nền kinh tế khác.

Bed And Breakfast / Bán Trễ Mua Sớm

Bed and breakfast là thuật ngữ chỉ việc Bán trễ mua sớm. Vậy ta hiểu bán trễ mua sớm là gì? Chứng khoán được bán vào cuối ngày trên thị trường chứng khoán sau đó được mua lại vào buổi sáng kế tiếp. Nhà mua bán có ý định tạo ra một vụ thua lỗ để bù trừ vào số tư bản kiếm được bị đánh thuế. Nếu giá mua lại ngay kế tiếp rớt giá mạnh so với giá bán thì nhà mua bán không bị lỗ. Do đó không được bù trừ vào thuế.

Bears / Người Đầu Cơ Giá Xuống

Những cá nhân tin rằng giá chứng khoán hoặc trái khoán sẽ giảm và do đó bán những chứng khoán hy vọng rằng có thể mua lại ở mức giá thấp hơn.

Bearer/ Registered Security / Chứng Khoán Vô Danh / Đích Danh

Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) có thể được thể hiện dưới dạng một chứng từ cụ thể hoặc bằng một bản ghi điện tử. Dưới dạng chứng từ, chứng khoán được chia thành hai loại: chứng khoán vô danh và chứng khoán đích danh. Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) có thể được thể hiện dưới dạng một chứng từ cụ thể hoặc bằng một bản ghi điện tử. Dưới dạng chứng từ, chứng khoán được chia thành hai loại: chứng khoán vô danh và chứng khoán đích danh. Chứng khoán vô danh (bearer security) là loại chứng khoán không được đăng ký trên sổ sách của người phát hành, thay vào đó mọi quyền lợi của chứng khoán vô danh sẽ được thanh toán cho người cầm giữ, sở hữu nó. Bất cứ ai nắm giữ chứng khoán cũng có thể trở thành chủ sở hữu của nó, chính vì vậy loại chứng khoán này được coi là chứng khoán vô danh. Chứng khoán vô danh có thể được giao dịch dưới hình thức mua bán trao tay mà không cần ký hậu, đăng ký quyền sở hữu với người phát hành, do đó việc sở hữu về mặt vật lý có thể coi là chứng cứ duy nhất của quyền sở hữu chứng khoán. Kiểu chứng khoán này có ưu điểm là mua bán dễ dàng, nhanh gọn. Tuy nhiên cũng do đặc trưng về sở hữu vật lý nên người cầm giữ chứng khoán loại này sẽ luôn phải chịu rủi ro đánh mất, đánh rơi tờ chứng khoán. Một ví dụ của chứng khoán vô danh là trái phiếu thanh toán trái tức bằng cuống phiếu.Mỗi khi đến hạn thanh toán trái tức người cầm chứng khoán lại xé tờ cuống phiếu để đổi lấy trái tức, người phát hành không có nghĩa vụ nhắc nhở người nắm giữ trái phiếu  loại này về việc thanh toán trái tức. Ngược lại với chứng khoán vô danh là chứng khoán đích danh (registered security), đây là loại chứng khoán mà tên người chủ sở hữu của nó được đăng ký trong sổ sách của người phát hành. Do đặc trưng này nên chứng khoán đích danh an toàn hơn đối với người cầm giữ, dù có mất tờ chứng khoán cũng không sợ mất quyền sở hữu. Ngày nay, hầu hết các loại chứng khoán phát hành trên thị trường là chứng khoán đích danh. Với sự hỗ trợ của công nghệ  thông tin, việc quản lý, trao đổi chuyển nhượng cũng được thực hiện khá dễ dàng.

Bearer Form / Thể Thức Trái Phiếu Thuộc Người Mang

Bearer Form có nghĩa là Thể thức trái phiếu thuộc người mang. Thuật ngữ này dùng để chỉ loại trái phiếu không đăng ký trong sổ sách của công ty phát hành và vì thế có thể chi trả cho người nào có trái phiếu. Trái phiếu thuộc người mang có phiếu lãi đinh kèm (coupon) trái chủ sẽ gửi hay trình phiếu lãi này vào ngày đáo hạn lãi để nhận lãi, vì thế có tên khác là Coupon Bond. Chứng chỉ chứng khoán thuộc người mang có thể chi trả không cần ký gửi mà chỉ cần chuyển giao.  Cổ tức được chi trả bằng cách trình phiếu lãi, nó đã được định ngày chi trả và số chi trả. Hầu hết các chứng khoán phát hành ngày nay, ngoại trừ chứng khoán nước ngoài, đều dưới hình thức đăng ký, kể cả trái phiếu đô thị phát hành từ năm 1983.

Bearer Deposit Note - BDR/ Chứng Chỉ Ký Thác Thuộc Người Mang

Chứng chỉ thuộc người mang được phát hành cho số ký thác ngân hàng. Trong khi chứng chỉ ký thác (CD - Certificate of deposits) là loại ký thác có lãi thì BDR là loại công cụ có chiết khấu (khấu trừ).

Bearer Bonds / Trái Khoán Không Ghi Tên

Một loại trái khoán không yêu cầu có chứng thư chuyển nhượng vì người giữ có quyền sở hữu hợp pháp.

Bearer Bond / Trái Phiếu Thuộc Người Giữ

Bearer Bond có nghĩa là Trái phiếu thuộc người giữ. Trái phiếu chi trả cho người giữ (mang) hơn là trả cho người sở hữu có đăng ký trong sổ của ngân hàng phát hành hay đơn vị đại lý phát hành. Trái phiếu này là công cụ chi trả không căn cứ vào bản ghi quyền sở hữu. Người được chi trả là người có trái phiếu và giữ nó một cách trung thực (hợp pháp). Tiền lãi trái phiếu được trả nửa năm một lần khi phiếu lãi (coupon) được cắt ra và trình cho ngân hàng để lãnh tiền lãi, giống như chi phiếu. ngược lại với trái phiếu đăng ký (Registered Bond).

Bear Trap / Bẫy Giảm Giá

Bẫy giảm giá (bear trap / bear-trap) trong xu hướng thị trường đi lên (uptrend) là một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu giảm giá (bear) sau một đợt tăng liên tiếp. Nhưng thực tế, chứng khoán lại quay trở lại xu thế tăng sau tín hiệu đi xuống đó. Nó như một cái bẫy (trap) đánh lừa nhà đầu tư bán ra vì họ nghĩ rằng chứng khoán đã quay đầu vào một thời kỳ đi xuống (downtrend). Beartrap ngược lại với bulltrap.

Một tín hiệu giả cho thấy khuynh hướng lên giá của một cổ phiếu hay một chỉ số đã có dấu hiệu đảo chiều. Bẫy giảm giá xúi giục các nhà giao dịch đầu tư vào những chứng khoán ngắn hạn trên thị trường hoặc trong chỉ mục bởi lẽ họ kỳ vọng vào cơ sở giảm giá trị này. Thay vì giảm hơn nữa, khoản đầu tư vẫn đứng im hay có dấu hiệu phục hồi nhẹ. Các nhà đầu tư lúc nào cũng nên cân nhắc về lệnh cắt lỗ khi thực hiện các giao dịch để tránh việc bị thua lỗ nặng đến từ một bẫy giảm giá. Hầu hết các nhà đầu tư rơi vào bẫy giảm giá đều làm như vậy sớm trong phiên giao dịch và việc phân tích các xu hướng giờ mở cửa nên chỉ ra được mức độ thường xuyên mà một khoản đầu tư sẽ giảm giá trị vào đầu ngày so với sau này.

Bear Squeeze / Nhà Đầu Cơ Giá Hạ Bị Nghiền Nát

Thuật ngữ này dùng để chỉ sự can thiệp chính thức của Ngân hàng Trung ương và thị trường ngoại hối để buộc nhà đầu cơ tiền tệ bán không tiền tệ (bán tiền tệ vay mượn) phải bảo kê vị thế của họ, nhằm ngăn chặn nhà đầu cơ tìm cách kiếm lời thật nhanh. Thông thường việc này được thực hiện bằng cách cấm mua tiền tệ địa phương nhiều hơn số có sẵn trong thị trường ngoại hối và thường làm cho nhà đầu cơ tiền tệ thua lỗ nặng.

Bear Spread / Mua Bán Theo Chênh Lệch Trong Thị Trường Giá Hạ - Chênh Lệch Do Đầu Cơ Giá Hạ

Thuật ngữ này dùng để chỉ sách lược trong thị trường Option nhằm kiếm lời khi giá chứng khoán hay hàng hoá bị rớt giá. Người theo sách lược này có thể mua phối hợp hợp đồng Call Options và Put Options cùng một loại chứng khoán theo giá điểm (giá thực thi) khác nhau - để kiếm lợi khi giá rớt. Hoặc là nhà đầu tư có thể mua hợp đồng Put Options ngắn hạn và hợp đồng Put Options dài hạn để kiếm lời từ số chênh lệch giữ hai hợp đồng khi giá hạ.

Bear Raid / Đột Kích Của Người Đầu Cơ Giá Hạ

Nhà đầu tư nỗ lực đầu cơ giá chứng khoán bằng cách bán khống một số lượng lớn cổ phần. Những người đầu cơ khống bỏ túi số chênh lệch giữa giá ban đầu với giá mới thấp hơn giá ban đầu sau khi thực hiện đầu cơ giá. Việc này trái với luật lệ của SEC, theo luật SEC chỉ được bán khống theo giá tăng một gạch - Uptick (giá sau cùng cao hơn giá trước đó) hay theo giá cộng gạch o - Zero Plus Tick (giá sau cùng không thay đổi nhưng cao hơn giá sau cùng trước giá khác).

Bear Market / Thị Trường Giá Xuống

Ngược lại với thị trường giá lên (bull market) là thị trường theo chiều giá xuống: bear market, trong đó giá các loại chứng khoán giảm một cách đột ngột, liên tục và kéo dài. Một ví dụ điển hình của thị trường giá xuống là cuộc Đại suy thoái của thập kỉ 1930. Giá cổ phiếu biến động từng phút trên thị trường chứng khoán, không phải sự giảm giá nào cũng làm cho thị trường trở thành bear market. Theo một định nghĩa được nhiều người thừa nhận, thị trường chỉ được coi là bear market khi có sự giảm giá ít nhất 20% của các chỉ số chứng khoán chính từ mốc giá cao nhất, trong thời gian ít nhất là 2 tháng. Thị trường giá xuống nhìn chung không hấp dẫn các nhà đầu tư lắm song đây lại là một cơ hội tốt để các tay đầu cơ giá xuống (bearer) thu lợi lớn. Khi thị trường có dấu hiệu của một bear market, các tay đầu cơ nhạy bén lập tức vay một số lượng cổ phiếu lớn rồi bán ngay theo thị giá. Sau một thời gian, giá cổ phiếu sụt giảm mạnh, họ lại mua ngược trở lại và trả hết số cổ phiếu đã vay và bỏ túi phần chênh lệch. Thị trường giá xuống được gắn với loài gấu (bear) vì người ta ví von sự sụt giá giống như cách mà loài gấu tấn công, luôn giáng những cú chết người từ trên xuống dưới. Có một cách lý giải khác cho hai thuật ngữ bull market, bear market như sau: khi giá lên, cả thị trường đổ xô vào cổ phiếu, thị trường đã nóng sẽ trở nên ngày càng nóng hơn nữa, và càng làm cầu cổ phiếu đó tăng mạnh. Hiệu ứng đó khá giống với tâm lý bầy đàn, nên được gán cho loài bò, một loài thường sống thành bầy đông đúc. Ngược lại, khi giá xuống, cả thị trường chỉ muốn bán ra mà không mấy ai muốn mua vào. Tuy nhiên nếu một nhà đầu cơ nào đó biết cách chớp đúng thời điểm khi giá xuống kịch sàn để mua vào - đi ngược với thị trường thì anh ta sẽ thắng lớn. Đây cũng chính là lối sống của loài gấu, luôn đi một mình, xuất hiện âm thầm, lặng lẽ, nhưng khi đã ra đòn thì con mồi khó mà thoát được.

Đây là một thị trường nơi mà diễn ra tình trạng giá của các chứng khoán đang sụt giảm và bầu không khí bi quan bao trùm lên toàn thị trường gây ra những cảm xúc tiêu cực về khả năng tự sống sót trong thị trường vào thời kỳ này. Bởi các nhà đầu tư luôn thấy trước được các khoản lỗ khi tham gia vào thị trường xuống giá cho nên là tình trạng bán tháo vẫn tiếp tục diễn ra và chỉ có sự bi quan là tăng lên. Mặc dù số liệu có thể khác nhau, nhưng đối với nhiều người thì mức giảm giá từ 20% trở lên ở nhiều chỉ số tại các thị trường rộng chẳng hạn như Chỉ số công nghiệp Dow Jones (DJIA) hoặc Chỉ số Standard & Poor's 500 (S & P 500), được duy trì trong một giai đoạn ít nhất là hai tháng là đã bị coi như rơi vào thị trường giá xuống. Không nên nhầm lẫn một thị trường giá xuống như là một sự hiệu chỉnh có xu hướng ngắn hạn trong khoảng thời gian dưới hai tháng. Trong khi những sự hiệu chỉnh thường là một nơi tuyệt vời để một nhà đầu tư tìm thấy lối thâm nhập vào thị trường, thị trường giá xuống hiếm khi tạo ra các lối thâm nhập  tuyệt vời vì việc xác định thời điểm đấy là rất khó thực hiện. Kháng cự với những diễn biến thị trường giá xuống lại là một hành động cực kỳ nguy hiểm bởi vì việc một nhà đầu tư có thể kiếm được lợi nhuận một cách xuất sắc tại thị trường này là tương đối khó khăn trừ khi họ là những người thực hiện bán khống ra thị trường.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55