Blocked Currency, Nonconvertible Currency / Tiền Không Chuyển Đổi Được
Đồng tiền được sử dụng chủ yếu cho các giao dịch nội địa, không được tự do giao dịch trên thị trường ngoại hối (thường do những giới hạn chính phủ đặt ra). Còn được gọi là "convertable currency". Việc chuyển từ một đồng tiền không chuyển đổi được sang tiền được giao dịch tự do như đồng đô la Mỹ là rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể.
Block Grant / Trợ Cấp Cả Gói
Nói chung là một khoản trợ cấp không đặt cọc của chính phủ cấp cho chính quyền địa phương.
Bllet / Chi Trả Một Lần Một - Ấn Định Một Lần Một
Bllet tức: Chi trả một lần một - ấn định một lần một. Thuật ngữ này có nghĩa:1. Trong thị trường tài chính: Chi trả lại số cân đối tiền vay trong một kỳ (trong một lần). 2. Trong thị trường chứng khoán: Trái phiếu hay giấy nợ được cung cấp theo một lãi suất đã ấn định trước với thời điểm đáo hạn cố định.
Bliss Point / Điểm Cực Mãn; Điểm Hoàn Toàn Thoả Mãn
Thường để chỉ CÂN BẰNG TIÊU DÙNG trong đó người tiêu dùng hoàn toàn thoả mãn đối với hàng hoá được tiêu dùng và điểm này nằm trong GIỚI HẠN NGÂN SÁCH của anh ta.
Blind Trust / Ủy Thác Ẩn Danh
Ủy thác được tạo ra nhằm tránh xuất hiện mâu thuẫn về quyền lợi cho người có liên quan đến một vụ tranh chấp trong đầu tư. Tiền ủy thác được trả cho người nhận ủy thác, người không tiết lộ danh mục đầu tư cho người ủy thác, vì việc biết được quyền sở hữu sẽ xâm phạm tính độc lập và công minh của nghề nghiệp. Bên được gọi là bên nhận ủy thác có thể là một phòng ủy thác của ngân hàng hay bất cứ bên thứ ba nào, khác với nhân viên có liên hệ hay đối tác kinh doanh, là người độc lập với bên ủy thác về danh nghĩa và trong thực tế.
Ủy thác được tạo ra nhằm tránh xuất hiện mâu thuẫn về quyền lợi cho người có liên quan đến một vụ tranh chấp trong đầu tư. Tiền ủy thác được trả cho người nhận ủy thác, người không tiết lộ danh mục đầu tư cho người ủy thác, vì việc biết được quyền sở hữu sẽ xâm phạm tính độc lập và công minh của nghề nghiệp. Bên được gọi là bên nhận ủy thác có thể là một phòng ủy thác của ngân hàng hay bất cứ bên thứ ba nào, khác với nhân viên có liên hệ hay đối tác kinh doanh, là người độc lập với bên ủy thác về danh nghĩa trong thực tế.
Là một ủy thác trong đó người thực thi có toàn quyền quyết định đối với tài sản và người thụ hưởng ủy thác không có kiến thức về việc nắm giữ ủy thác. Ủy thác ẩn danh thường được sử dụng khi người ủy thác muốn giữ cho người thụ hưởng không biết về các tài sản cụ thể trong ủy thác, như để tránh xung đột lợi ích giữa người thụ hưởng và các khoản đầu tư.
Blind Pool / Quan Hệ Không Định Rõ
1. Một công ty khởi nghiệp phát hành cổ phiếu ra công chúng mà không định rõ các nhà đầu tư sẽ bỏ ra bao nhiêu tiền. 2. Quan hệ đối tác hữu hạn trong đó không xác định rõ tài sản mà thành viên chủ chốt sẽ đạt được. Ví dụ, nếu một công ty bất động sản được đề nghị dưới dạng một quan hệ không định rõ, các nhà đầu tư chỉ có thể đánh giá giá trị dự án bằng cách nhìn vào bảng thành tích củathành viên chủ chốt. Trong một quan hệ định rõ (specifyied pool) thì ngược lại, các nhà đầu tư có thể nhìn vào giá được trả cho tài sản và khoản thu nhập từ cho thuê các tòa nhà, sau đó đánh giá tiềm năng của việc hợp tác. Nói chung, quan hệ không định rõ không hoạt động tốt hơn hay kém quan hệ xác định rõ.
Blanket Recommendation / Giới Thiệu Chung
Một trường hợp trong đó một chuyên gia tài chính hay định chế tài chính gửi một thư giới thiệu đến tất cả các khách hàng một loại chứng khoán hoặc sản phẩm để bán hay mua mà không quan tâm đến tài sản đó có phù hợp mục đích đầu tư và mức chịu rủi ro của khách hàng. Liên lạc với khách hàng thông qua thư giới thiệu chung không được coi là tốt vì khách hàng có tiền sử đầu tư khác nhau. Giả sử có một khách hàng đã nghỉ hưu và không thể để mất nhiều tiền là người nhận được thư giới thiệu chung và giao dịch được giới thiệu có mức độ rủi ro cao hơn rất nhiều những giao dịch người này đã làm. Nếu khách hàng có làm theo lời khuyên của công ty, bà sẽ mất hết khoản tiền mà bà dành mất nhiều năm để tiết kiệm, và rất khó để có thể bù lại được.
Là một trường hợp trong đó một chuyên gia tài chính hay định chế tài chính gửi một thư giới thiệu đến tất cả các khách hàng một loại chứng khoán hoặc sản phẩm để bán hay mua mà không quan tâm đến tài sản đó có phù hợp mục đích đầu tư và mức chịu rủi ro của khách hàng. Liên lạc với khách hàng thông qua thư giới thiệu chung không được coi là tốt vì khách hàng có tiền sử đầu tư khác nhau. Giả sử có một khách hàng đã nghỉ hưu và không thể để mất nhiều tiền là người nhận được thư giới thiệu chung và giao dịch được giới thiệu có mức độ rủi ro cao hơn rất nhiều những giao dịch người này đã làm. Nếu khách hàng có làm theo lời khuyên của công ty, bà sẽ mất hết khoản tiền mà bà dành mất nhiều năm để tiết kiệm, và rất khó để có thể bù lại được.
Blank Check / Chi Phiếu Trắng
Chi phiếu được rút từ một tài khoản ngân hàng và được ký bởi người tạo nó, nhưng khoản tiền ghi trên chi phiếu là do người rút tự ghi. Thuật ngữ được sử dụng như một phép ẩn dụ cho trường hợp một người tin tưởng tuyệt đối một người khác.
Black Tuesday / Ngày Thứ 3 Đen Tối
Không chỉ có ngày thứ 2 và ngày thứ 6 đen tối, thị trường chứng khoán còn có cả ngày thứ 3đen tối. Ngày thứ 3 đen tối là ngày 29 tháng 10 năm 1929 chính là ngày thứ hai sau ngày thứ 5 đen tối báo hiệu sự bắt đầu cuộc đại sụp đổ trên thị trường chứng khoán New York.
Ngày 29 tháng 10 năm 1929, khi DJIA giảm 12% - một trong những lần giảm giá lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán. Hơn 16 triệu cổ phiếu đã được giao dịch trong một đợt bán tháo hoảng loạn. Nhiều người cho rằng, Thứ ba đen được coi là sự kết thúc của những năm 20 loạn lạc và bắt đầu cuộc Đại suy thoái.
Black Thursday / Ngày Thứ 5 Đen Tối
Không chỉ có ngày thứ 2 và ngày thứ 6 đen tối, thị trường chứng khoán còn có cả ngày thứ 5 đen tối. Ngày thứ 5 đen tối là ngày 24 tháng 10 năm 1929 chính là ngày đầu tiên bắt đầu cuộc đại sụp đổ trên thị trường chứng khoán New York. Chi tiết về ngày thứ 5 đen tối tại đây.
Black Swan Theory / Thuyết Thiên Nga Đen
Một sự kiện xảy ra theo diễn biến rất khó dự đoán và không thường thấy. Khái niệm này được Nassim Nicholas Tableb, một giáo sư tài chính và nhà giao dịch trên phố Wall, phổ biến. Ví dụ về thuyết Thiên Nga Đen. Công ty quản lý vốn Long Term Capital Management (LTCM) đã bị phá sản do ảnh hưởng từ sự vỡ nợ của chính phủ Nga. Như vậy, trường hợp vỡ nợ của Chính phủ Nga là một sự kiện "thiên nga đen" do LTCM chưa bao giờ gặp và chưa bao giờ từng nghĩ một việc như vậy sẽ xảy ra và những hiệu ứng khủng khiếp của nó.
Black Monday / Ngày Thứ Hai Đen Tối
Thứ Hai, ngày 19 tháng 10 năm 1987 đã đi vào lịch sử nước Mỹ - ngày hoang mang cực độ của ngành tài chính Mỹ. Chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 508,32 điểm, tương ứng 22,6% - mức giảm kỉ lục trong lịch sử thị trường chứng khoán. Hậu quả của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi nước Mỹ, mà còn mở rộng ra phạm vi toàn cầu. Vào cuối tháng 10, các thị trường đều ghi nhận sự sụt giảm ghê gớm: Úc - 41,8%; Canada - 22,5%; Hồng Kông - 45,8%; Anh - 26,4%. Nguyên nhân của thảm hoạ này bắt nguồn từ mối quan ngại của các nhà đầu tư về tình trạng thâm hụt trong cán cân thương mại của mỹ nói riêng và thâm hụt thương mại quốc tế nói chung, sự chỉ trích của Mỹ với chính sách kinh tế Tây Đức, những tác động tiêu cực của việc áp dụng công nghệ máy tính tự động hoá trong giao dịch mua bán chứng khoán, và khả năng suy giảm các chỉ số chứng khoán tương lai do bởi chương trình giao dịch được vi tính hoá. Vào năm 1986, nước Mỹ không còn giữ được tốc độ hồi phục kinh tế nhanh như trước nữa, nền kinh tế phát triển chững lại. Sang năm 1987 thị trường chứng khoán Mỹ đạt những bước tiến nhảy vọt, đạt đến đỉnh điểm vào tháng 8, nhưng tiếp sau đó là một chuỗi ngày thị trường tụt dốc ghê thảm. Cuối tháng 8, nhiều quan sát viên cảnh báo rằng nền kinh tế có những dấu hiệu đáng ngại, và thị trường giờ rơi vào tình trạng tụt dốc thảm hại (thị trường giá xuống_bear market). Tuy nhiên, quan điểm này không được tán đồng rộng rãi ngay cả khi biên độ giao động giá của thị trường ngày càng mở rộng. Một số ý kiến cho rằng, các nguyên nhân tiềm tàng dẫn tới thảm hoạ này bao gồm kinh doanh chênh lệch chỉ số, định giá quá cao, thiếu tính thanh khoản, và tâm lý thị trường. Các lý thuyết trên đều nhằm giải thích tại sao sự đổ vỡ lại xảy ra vào đúng ngày 19 tháng 10 chứ không phải ngày nào khác, và tại sao nó lại diễn ra quá nhanh, quá mạnh, và gây ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi nước MỹNhiều người cho răng biến cố 1987 chủ yếu là do giao dịch bán ra của các nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch. Lượng giao dịch này cùng với sự trợ giúp của máy tính tham đã gia ngày càng tích cực vào thị trường chứng khoán. Trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 80, máy tính đã trở nên quan trọng trên thị trường tài chính Phố Wall. Chúng cho phép thực hiện khớp lệnh mua bán chứng khoán và các công cụ giao sau ngay lập tức với khối lượng lớn. Sau cuộc khủng hoảng, rất nhiều người đã đổ lỗi cho các nhà đầu tư kinh doanh chênh lệch vì họ đã bán tháo chứng khoán một cách mù quáng khi thị trường giảm giá, khiến cho mức giá sụt giảm nhanh hơn, đồng thời gây ra tâm lý hoang mang trong giới đầu tư. Tuy nhiên một số người khác lại cho rằng cuộc khủng hoảng này xảy ra là điều tất yếu. Nhà kinh tế học Richard Roll tin rằng sự suy giảm của thị trường chứng khoán toàn cầu là điều đương nhiên sẽ xảy ra và phủ nhận lập luận cho rằng kinh doanh chênh lệch là lý do dẫn tới khủng hoảng. Ông Roll cho rằng chiến lược kinh doanh này được sử dụng đầu tiên tại Mỹ. Nếu kinh doanh chênh lệch gây ra sự suy giảm của thị trường thì tại sao các thị trường như Úc và Hồng Kông nơi mà kinh doanh chênh lệch không phổ biến, vẫn suy giảm? Cuộc khủng hoảng bắt đầu và ngày 19 tháng 10 tại Hồng Kông, lan sang phía Tây đến Châu Âu, và tấn công vào thị trường Mỹ chỉ sau khi Hồng Kông và các thị trường khác đã suy giảm ở mức đáng kể. Một lý thuyết phổ biến khác cho rằng cuộc khủng hoảng là kết quả của sự tranh chấp về chính sách tiền tệ giữa các nước công nghiệp G7, theo đó Mỹ muốn nâng giá đồng đôla và kiềm chế lạm phát nhằm thắt chặt chính sách tiền tệ sớm hơn các nước Châu Âu. Theo quan điểm này, cuộc khủng hoảng nổ ra là do thị trường chứng khoán Hồng Kông- trợ lực của đồng đôla- sụp đổ. Vì thế gây ra ảnh hưởng lan rộng. Ảnh hưởng của cuộc suy thoái đã phá vỡ thị trường tài chính, thậm chí gây ra khủng hoảng đối với ngành bảo hiểm và tiết kiệm- cho vay ở Mỹ. Sự suy thoái đã để lại những hậu quả sâu sắc cho bang New England và Texas bởi vì hai bang này có mối liên hệ mật thiết nhất đối với ngành bảo hiểm và tiết kiệm-cho vay.
Black Market / Chợ Đen
Chợ đen, nghĩa gốc, là chỉ thị trường hàng lậu và dịch vụ bất hợp pháp. Chợ đen nổi lên khi thị trường tiêu thụ phát triển mạnh mẽ vượt quá sản xuất, và những sản phẩm buôn bán là hàng cấm hoặc hàng hiếm. Người mua trên thị trường chợ đen phải chấp nhận một mức giá rất cao ,do đó lợi nhuận mà người bán thu được là rất lớn. Còn xét về khía cạnh chứng khoán thì "chợ đen" thực ra là một cụm từ dùng chỉ thị trường chứng khoán chưa niêm yết, ngoài sàn giao dịch, mà chúng ta hay sử dụng thuật ngữ thị trường OTC hay "Phi tập trung" để gọi thay thế. Khi cổ phiếu chưa được niêm yết chính thức lên sàn thì việc chuyển nhượng cổ phiếu là hết sức khó khăn, vì không phải dễ dàng mà một cổ đông muốn bán cổ phiếu gặp ngay được đối tác muốn mua cổ phiếu. Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu phát triển thị trường chứng khoán, thị trường chợ đen nổi lên như là một cầu nối cung - cầu, là nơi chuyển nhượng cổ phiếu thuận tiện và nhanh chóng nhất. Trên thị trường chợ đen xuất hiện một nhân tố quan trọng, đó là người môi giới, họ có chức năng tìm kiếm tạo điều kiện cho người mua và người bán gặp nhau, thỏa thuận giá cả và cách thức chuyển giao chứng khoán. Khi đầu tư cổ phiếu trên thị trường chợ đen, cần lưu ý: cổ phiếu đó có thực sự được chuyển nhượng không, mức giá mua đã phù hợp chưa, và đặc biệt thủ tục chuyển nhượng. Việc chuyển nhượng cổ phần sẽ được tiến hành theo cách các cổ đông cũ làm giấy chuyển nhượng cho người môi giới nhưng phần "người mua" để trống. Sau khi ký được hợp đồng với người bán, nhiệm vụ của người môi giới là làm việc với Công ty phát hành để Công ty xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu, chấp nhận người mua là cổ đông mới của Công ty (mặc dù chưa biết đích danh). Cổ phần tự do được chào bán theo giá tự đặt, nếu có người mua tương ứng, họ chỉ cần sang chuyển số cổ phiếu đó cho người mua kèm hợp đồng chuyển nhượng ghi tên nhà đầu tư vào chỗ để trống. Như vậy về mặt pháp lý, nhà đầu tư có thể yên tâm khi sở hữu lượng cổ phiếu mua "ngoài luồng" này. Hiện nay có hai hình thức chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường chợ đen: một là, chuyển tiền cho người môi giới trước và chấp nhận một giấy viết tay cam đoan nội dung thực hiện; hai là, chuyển quyền sở hữu sang tên người mua rồi mới chuyển tiền. Tất nhiên cách thứ nhất thì rủi ro thuộc về người mua, còn cách thứ hai không an toàn cho người bán, nhưng điều quan trọng là giấy tờ sở hữu cổ phiếu phải được người có trách nhiệm trong công ty phát hành chứng nhận hợp pháp việc chuyển nhượng thì người mua mới trở thành cổ đông mới hợp pháp của công ty.
Là nơi các hoạt động kinh tế diễn ra bên ngoài các kênh do chính phủ phê chuẩn. Các giao dịch trên thị trường chợ đen thường " ngầm" diễn ra với mục đích giúp những người tham gia tránh bị kiểm soát giá cả hoặc thuế của chính phủ. Thị trường chợ đen cũng là nơi mà các chất hoặc sản phẩm bất hợp pháp - như thuốc bất hợp pháp, súng hoặc hàng ăn cắp - được mua và bán. Mặc dù thị trường chợ đen thường liên quan đến các hoạt động tội phạm, liên quan đến ma túy hoặc vũ khí, nhưng nó cũng có một thành phần tài chính: thị trường trao đổi tiền đen hầu như luôn xuất hiện khi chính phủ kiểm soát tỷ giá hối đoái ngăn chặn việc sử dụng tỷ giá hối đoái tự nhiên trên thị trường toàn cầu.
Black Knight / Hiệp Sĩ Đen
Dường như ngược lại với Hiệp sĩ trắng (White knight), Hiệp sĩ đen để chỉ người có ý định tiếm quyền* là một nhà đầu tư sắp tới sẽ tham gia vào một vụ thâu tóm, tiếp quản (takeover) một công ty, tổ chức nào đó bằng thủ đoạn* Tiếm quyền có hữu ý xấu hay đặt giá mua không ai mong để cố mua các cổ phần có quyền kiểm soát trong công ty.
Một công ty thực hiện mua lại một công ty với một thái độ thù địch.Trong sáp nhập và mua lại , một hiệp sĩ đen cố gắng thâu tóm các công ty bị mua lại dù các công ty đó không mong muốn. Khi một công ty đang đối mặt với sự tiếp quản thù địch của một hiệp sĩ đen, một hiệp sĩ trắng có thể xuất hiện để đưa ra một cách nhằm tránh sự tiếp quản thù địch bằng một sự tiếp quản thân thiện. Hiệp sĩ đen cố gắng tiếp quản thù địch các công ty bị mua lại. Một hiệp sĩ trắng có thể giúp công ty đó bằng cách đưa ra các điều khoản cho việc tiếp quản thân thiện. Một hiệp sĩ màu xám là một công ty cung cấp với giá thầu không mong muốn, trong khi một công ty khác đang đàm phán tiếp quản với công ty bị mua lại . Một hiệp sĩ màu vàng là một công ty khởi xướng một sự tiếp quản thù địch, nhưng thay đổi chiến thuật trong quá trình để đàm phán về các điều khoản dễ chịu hơn.
Black Friday / Ngày Thứ 6 Đen Tối
Đây là thuật ngữ dùng để chỉ ngày xảy ra biến cố trên thị trường chứng khoán. Ngày 24 tháng 9 năm 1969 đã đi vào lịch sử như là một trong những ngày đen tối nhất. Cơn khủng hoảng bắt nguồn từ những nhà đầu tư vàng, trong đó có Jay Gould và James Fist, hai nhà đầu tư đã cố gắng làm lũng đoạn thị trường vàng. Tuy nhiên những cố gắng của họ đã thất bại và thị trường vàng bị sụp đổ, kéo theo sư sụp đổ của thị trường chứng khoán. "Black friday" còn được đề cập tới là ngày sau ngày lễ tạ ơn ở Mỹ. Các nhà bán lẻ thường nhận thấy doanh số tăng nhanh vào ngày này và coi đây là khởi đầu cho một mùa mua sắm mới. Vì thế các cửa hàng bán lẻ thường trang hoàng cửa hiệu cho kì lễ giáng sinh và đưa ra những chương trình khuyến mại đặc biệt nhằm sớm lôi kéo khách hàng. Thuật ngữ "black" đã được sử dụng để mô tả những ngày kinh hoàng trong lịch sử thị trường tài chính, ngày mà thị trường tài chính biến động mạnh dẫn tới bị "sập". Ví dụ: vào ngày thứ 3 đen tối, ngày 29 tháng 10 năm 1929, thị trường chứng khoán đột nhiên sụt giảm, báo hiệu cho cuộc đại suy thoái 29-33. Thêm vào đó, ngày mà thị trường chứng khoán trượt dốc khủng khiếp nhất là ngày thứ 6, ngày 19 tháng 10 năm 1987, khi mà chỉ số Dow Jones xuống dưới mức 22 điểm.
1. Là một ngày thảm họa thị trường chứng khoán. Ban đầu, ngày 24 tháng 9 năm 1869, được coi là ngày thứ Sáu đen tối. Sự sụp đổ bởi các nhà đầu cơ vàng, bao gồm Jay Gould và James Fist, những người đã cố gắng lũng đoạn thị trường vàng. Nỗ lực thất bại và thị trường vàng sụp đổ, khiến thị trường chứng khoán lao dốc. 2. Một ngày sau Lễ Tạ ơn ở Hoa Kỳ. Các nhà bán lẻ thường thấy một sự gia tăng trong doanh số bán hàng và coi đây là sự khởi đầu của mùa mua sắm. Việc các nhà bán lẻ đưa ra các chương trình khuyến mãi đặc biệt và mở cửa sớm để thu hút khách hàng là điều phổ biến. 1. Thuật ngữ "đen" đã được sử dụng để mô tả những ngày thảm họa khác trên thị trường tài chính. Ví dụ, vào Thứ Ba Đen, ngày 29 tháng 10 năm 1929, thị trường suy giảm nhanh chóng, báo hiệu sự bắt đầu của cuộc Đại suy thoái. Sự sụt giảm lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán xảy ra vào Thứ Hai Đen, ngày 19 tháng 10 năm 1987, khi Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones giảm mạnh hơn 22%. 2. Ý tưởng đằng sau thuật ngữ "Thứ Sáu Đen" đó là ngày mà các cửa hàng bán lẻ có đủ doanh số để đưa họ "vào màu đen" - một ám hiệu kế toán ám chỉ việc thực hiện ghi lại các khoản lỗ màu đỏ và lợi nhuận bằng màu đen .
Blach-Scholes Opitions Pricing Model / Công Thức Toán Học Được Dùng Rộng Rãi Để Định Giá Các Hợp Đồng Option
Đây là mô hình do Fisher Black và Myron Scholes triển khai để phán đoán hợp đồng options có được định giá công bằng hợp lý không. Mô hình liên kết các yếu tố như bất ổn định (tăng giảm bất thường) của lợi nhuận công ty, mức lãi suất thị trường, mối tương quan của giá chứng khoán cơ sở với giá điểm (strike price - giá thực thi) của hợp đồng option đáo hạn. Các định giá hiện nay sử dụng mô hình này được Options Monitor Service.
Biweekly Mortgage / Khoản Vay Cầm Cố Trả Mỗi Hai Tuần
Khoản vay càm cố có lãi suất cố định với việc thanh toán tiền vay hai tuần một lần, khác với tiền vay trả theo tháng có cầm cố dân cư. Thanh toán một nửa của tiền vay cầm cố 30 năm, nhưng việc thanh toán tăng tốc cho phép người vay trả hết tiền vay cầm cố nhanh hơn tiền vay cầm cố khấu trừ hàng tháng. Người vay chi trả 26 lần nửa khoản chi trả trên một năm hay trả thêm một tháng. Kết quả việc tăng tốc hình thành vốn sở hữu và giảm chi phí lãi trên kỳ hạn khoản vay. Tiền vay cầm cố 30 năm trả hai tuần một, nếu giữ đến ngày đáo hạn, nó sẽ rút lại còn xấp xỉ 20 năm, tiết kiệm hơn 142,000$ tiền lãi cho mỗi 100,000$ vay. Xem ALTERNATIVE MORTGAGE INSTRUMENTS.
Birth Rate / Tỷ Suất Sinh
Được định nghĩa là số người sinh sống sót trung bình trên 1000 dân mỗi năm.
Biological Interest Rate / Lãi Suất Sinh Học
Một giá trị cho lãi suất trong thuyết tăng trưởng, trong đó giữa tất cả đường TĂNG TRƯỞNG CÂN ĐỐI, thì TIÊU DÙNG theo đầu người cáo nhất đạt được và duy trì được bằng một đường trên đó năng suất vốn biên (bằng TỶ LỆ LỢI NHUẬN trong CẠNH TRANH HOÀN HẢO) bằng tỷ lệ tăng trưởng không đổi của lực lượng lao động được xác định bằng cách ngoại sinh. Xem GOLDEN RULE OF ACCUMULATION.
Binary Variable / Biến Nhị Phân
Một biến số chỉ có thể có 2 giá trị (ví dụ 0 và 1), thường sử dụng để xác định những ảnh hưởng mang tính định tính hay định lượng trong phân tích HỒI QUY. Xem DUMMY VARIABLE.





