Bond Futures / Giao Sau Trái Phiếu
Giao sau trái phiếu là một nghĩa vụ theo hợp đồng đối với người nắm giữ hợp đồng hoặc là bán một trái phiếu vào một ngày xác định tại một mức giá đã được quyết định trước. Giao sau trái phiếu có thể được mua trên thị trường giao sau và giá cả cũng như ngày giao dịch được quyết định tại thời điểm hợp đồng giao sau được mua.Các hợp đồng giao sau trái phiếu đã được tiêu chuẩn hóa, và được theo dõi bởi các đại diện điều chỉnh thị trường nhằm đảm bảo sự công bằng và nhất quán. Tuy nhiên, dạng phái sinh này có thể rất rủi ro bởi vì nó liên quan đến giao dịch tại một thời điểm trong tương lai chỉ với thông tin hiện tại. Rủi ro tiềm ẩn là rất lớn, cho cả người bán lẫn người mua trái phiếu giao sau bởi vì giá của tài sản cơ sở (trái phiếu) có thể thay đổi một cách nhanh chóng giữa ngày thực hiện và hợp đồng ban đầu.
Giao sau trái phiếu là một nghĩa vụ theo hợp đồng đối với người nắm giữ hợp đồng hoặc là bán một trái phiếu vào một ngày xác định tại một mức giá đã được quyết định trước. Giao sau trái phiếu có thể được mua trên thị trường giao sau và giá cả cũng như ngày giao dịch được quyết định tại thời điểm hợp đồng giao sau được mua. Các hợp đồng giao sau trái phiếu đã được tiêu chuẩn hóa, và được theo dõi bởi các đại diện điều chỉnh thị trường nhằm đảm bảo sự công bằng và nhất quán. Tuy nhiên, dạng phái sinh này có thể rất rủi ro bởi vì nó liên quan đến giao dịch tại một thời điểm trong tương lai chỉ với thông tin hiện tại. Rủi ro tiềm ẩn là rất lớn, cho cả người bán lẫn người mua trái phiếu giao sau bởi vì giá của tài sản cơ sở (trái phiếu) có thể thay đổi một cách nhanh chóng giữa ngày thực hiện và hợp đồng ban đầu.
Bond Equivalent Yield / Lợi Suất Trái Phiếu Tương Đương
Lợi suất đầu tư trái phiếu mua theo giá chiết khấu so mệnh giá, như tín phiếu Kho bạc Hoa Kỳ hay trái phiếu đô thị, được diễn tả theo phần trăm. Các chứng khoán này không trả lãi hàng tháng, hàng quý hay nửa năm như các chứng khoán trả lãi. Với tín phiếu kho bạc có các đáo hạn ba hay sáu tháng, công thức chuyển lợi suất cơ sở khấu trừ thành lợi suất tương đương trái phiếu như sau: Lợi suất bằng giá trị danh nghĩa từ giá mua, chia cho giá mua, nhân cho số ngày trong năm kể từ ngày tháng phát hành/ số ngày đến kỳ đáo hạn. Cũng được gọi lợi suất tương đương lợi suất trái phiếu.
Bond Crowd / Nhóm Mua Bán Trái Phiếu
Trên sàn giao dịch chứng khoán New York - NYSE, trái phiếu được mua bán theo phương thức order driven, ngược hoàn toàn với việc mua bán cổ phiếu chủ yếu được tiến hành theo phương thức quote driven, nơi các nhà tạo lập thị trường đóng vai trò trung tâm. Cho đến cuối thập niên 1920, trái phiếu và cổ phiếu được mua bán trong cùng 1 phòng giao dịch. Thoạt đầu việc mua bán trái phiếu được tổ chức quanh 3 phòng điện thoại ở góc Đông Bắc của sàn NYSE. Khi lượng giao dịch trái phiếu tăng lên, nó được bố trí thêm nhiều không gian giao dịch hơn, và năm 1928 "phòng giao dịch trái phiếu" được chính thức chuyển đến 20 Broad Street, và kết nối trực tiếp với sàn NYSE. Phòng giao dịch trái phiếu được chia làm 4 bộ phận riêng biệt được gọi là các nhóm mua bán trái phiếu (bond crowd): Thứ nhất là nhóm mua bán trái phiếu tích cực (active bond crowd), dùng để chỉ thành viên của phòng giao dịch trái phiếu của NYSE đảm trách khối lượng giao dịch trái phiếu lớn nhất. Các trái phiếu giao dịch trong nhóm này gọi là các trái phiếu năng động (active bond), active bond được giao dịch trên sàn theo kiểu đấu giá bằng lời (open outcry auction). Active bond thường là các công cụ ghi nợ hoặc trái phiếu chuyển đổi do các công ty có uy tín phát hành trên NYSE, do vậy mà nó có tính thanh khoản rất cao. Nhóm mua bán trái phiếu tích cực do vậy có khả năng gây ảnh hưởng đến giá trái phiếu mua bán trên thị trường. Nhìn chung các nhà đầu tư mua bán trái phiếu trong nhóm tích cực sẽ có được giá tốt hơn là trong nhóm dự phòng, nơi mà chênh lệch giá đặt mua - bán cao hơn nhiều. Ngược lại với nhóm thứ nhất là nhóm dự phòng (cabinet crowd, inactive crowd, book crowd), nhóm mua bán các loại trái phiếu ít có giao dịch. Tuy nhiên đại đa số các loại trái phiếu nội địa lại được niêm yết lại giao dịch qua nhóm này. Trong nhóm dự phòng, các lệnh mua bán trái phiếu được ghi lại trong một cuốn sổ cái, đó là một cuốn sổ tập hợp tất cả các lệnh cố định, thời gian hiệu lực và ưu tiên về giá của chúng cùng nhiều thông tin khác. Căn cứ vào các thông tin này, giao dịch sẽ được tiến hành sau khi lệnh được khớp. Khác với kĩ thuật mua bán thủ công ở nhóm thứ nhất, hoạt động của nhóm dự phòng này khá giống với phương thức đặt lệnh điện tử ở thế kỉ 21. Ngoài hai nhóm chính ở trên còn có 2 nhóm mua bán trái phiếu nữa là nhóm mua bán trái phiếu nước ngoài (foreign crowd) và nhóm mua bán trái phiếu Chính phủ (Government securities crowd), có chức năng như tên gọi của nó. Hệ thống giao dịch trái phiếu theo các nhóm mua bán trái phiếu như trên đây hiện vẫn còn tồn tại, song hoạt động của chúng chỉ giới hạn trong một số ít các loại trái phiếu nhỏ lẻ. Hầu hết hoạt động giao dịch trái phiếu ngày nay được tiến hành theo phương thức OTC, sau sự ra đời của hệ thống giao dịch chứng khoán tự động - ABS vào năm 1976.
Một thuật ngữ tiếng lóng được sử dụng để mô tả các thành viên của sàn giao dịch chứng khoán giao dịch các lệnh trái phiếu từ sàn giao dịch. Tên gọi "nhóm mua bán trái phiếu" để phân biệt họ với các thành viên của sàn giao dịch, là những người giao dịch cổ phiếu. Theo truyền thống,nhóm mua bán trái phiếu đứng trong gian hàng trái phiếu của Sở giao dịch chứng khoán New York để mua và bán trái phiếu. Thuật ngữ "nhóm mua bán trái phiếu" dùng để chỉ sự tách biệt vật lý giữa các nhà môi giới và đại lý trái phiếu khỏi các nhà giao dịch chứng khoán lần đầu tiên xảy ra vào năm 1902. Cho đến lúc đó, các nhà giao dịch chứng khoán và trái phiếu ở cùng một sàn. "Nhóm mua bán trái phiếu tích cực" là một tập hợp con của nhóm mua bán trái phiếu và đề cập đến các thành viên tích cực nhất về khối lượng giao dịch.
Bond Anticipation Note- BAN / Chứng Chỉ Ghi Nợ Dự Kiến Trái Phiếu
Công cụ nợ ngắn hạn có kỳ đáo hạn dưới một năm, được chính quyền địa phương hoặc đô thị phát hành, thường là cho các dự án nâng cấp công trình xây dựng cơ bản, được trả hết khi các trái phiếu dài hạn được phát hành.
Bond / Trái Phiếu
Một chứng nhận chịu lãi do chính phủ hay một doanh nghiệp phát hành cam kết trả cho người sử hữu trái phiếu một số tiền nhất định vào một thời gian nhất định. Trái phiếu là phương tiện huy động vốn phổ biến, và có bản chất là khoản vay. Các đặc tính kỹ thuật của trái phiếu cần lưu ý khi giao dịch là: 1. Thời hạn của trái phiếu (ngày phát hành, ngày đáo hạn)2. Mức lãi được trả (coupon)3. Kỳ trả lãi (nửa năm hay một năm, hay một lần duy nhất)4. Địa điểm và loại mệnh giá phát hành5. Có được niêm yết và chuyển nhượng dễ dàng hay không (tính thanh khoản)
Trái phiếu là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu. Trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ. Trái phiếu có thể có bảo đảm hoặc không có bảo đảm.Trái phiếu có bảo đảm có thể được bảo đảm bằng phương thức sau: Bộ Tài chính hoặc tổ chức tài chính bảo lãnh thanh toán; Bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc một tổ chức thứ ba.Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có kèm theo quyền chuyển đổi quy định rằng đến một thời điểm nào đó (1,2,5 năm sau khi phát hành) thì người sở hữu trái phiếu có quyền chuyển đổi trái phiếu để lấy cổ phiếu của công ty phát hành trái phiếu. Trái phiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành. Trái phiếu Chính phủ của các nước thường do Ngân hàng Trung ương tổ chức đấu thầu bán buôn, các tổ chức tài chính đứng ra thầu mua và là người tạo dựng thị trường trái phiếu.Trái phiếu công trình là một loại trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu chính quyền địa phương được Chính phủ cho phép, được phát hành để phục vụ cho việc xây dựng một công trình, theo quy định của Chính phủ hoặc địa phương.
Mặc dù nó có một số nghĩa hẹp hơn và chính xác hơn về mặt pháp lý, cụm thuật ngữ này được dùng chung hơn và lỏng lẻo hơn để chỉ bất cứ chứng khoán lãi suất cố định (nợ) nào, ví dụ: chứng khoán VIỀN VÀNG hay TRÁI KHOÁN CÔNG TY.
Chứng chỉ nợ có lãi hay được chiết khấu, trả lãi suất cố định suốt thời hạn nợ, do đó được gọi là chứng khoán thu nhập cố định. Công ty phát hành bị buộc bởi bản thoả thuận viết tay (bản giao kèo trái phiếu) trả cho chủ sở hữu số tiền nhất định, thường là sáu tháng nhưng đôi khi là đến ngày đáo hạn, như trường hợp trái phiếu không có lãi (zero - coupon bonds), và theo mệnh giá của chứng chỉ đến ngày đáo hạn. Các trái phiếu là các khoản nợ dài hạn, nghĩa là chúng có kỳ đáo hạn năm năm, và thường là mười năm hoặc lâu hơn. Những người sở hữu trái phiếu có các quyền khác với chủ sở hữu cổ phiếu, chủ sở hữu trái phiếu có quyền đòi bồi thường đối với công ty phát hành như được ghi trong bản giao kèo, nhưng không có quyền sở hữu như chủ sở hữu cổ phiếu. Tuy nhiên, trái phiếu có thể chuyển đổi (convertible) có thể được đổi lấy cổ phiếu thông thường. Các trái phiếu có thể chuyển đổi gọi là trái phiếu nợ (debentures), hay các giấy hẹn chi trả không bảo đảm. Các trái phiếu, mặc dầu chỉ được trả lãi suất cố đinh, và do vậy dễ bị giảm giá lãi suất tăng, thường phổ biến ở các công ty tài chính vì một số nguyên nhân. Chúng cho phép người phát hành nâng vốn bổ sung mà không cần bán cổ phiếu, thông qua kỹ thuật tài chính được gọi là đòn bẩy tài chính (leverage); các công ty phát hành, bằng cách bán trái phiếu được bảo đảm bằng tiền vay, có thể điều chỉnh bảng cân đối kế toán, bằng cách chuyển các tài sản của bảng cân đối kế toán thành các chứng khoán khả mại. Các ngân hàng, các nhà đầu tư cá nhân, và các công ty bảo hiểm là những nhà mua trái phiếu chính. Các trái phiếu thường được xếp loại theo nhiều loại khác nhau: Bảo đảm thế chấp - cam kết trả trái phiếu nợ hay trái phiếu được bảo đảm bởi tài sản thế chấp hay trái quyền đối với tài sản nhất định, ví dụ, chứng khoán được bảo đảm bởi tài sản. Đáo hạn - trái phiếu có kỳ đáo hạn duy nhất hay chuỗi trái phiếu có nhiều kỳ đáo hạn. Phương pháp chuyển tiền - ghi sổ sách kế toán được đăng ký trên hồ sơ định chế ký thác trung tâm; trái phiếu vô danh trả cho người cầm trái phiếu hay trái phiếu ký danh. Giá - trái phiếu chiết khấu, được bán theo giá khấu trừ so mệnh giá hay trái phiếu có phần bù, được bán trên mệnh giá. Xem ACCRUAL BOND; BOND EQUIVALENT YIELD; BOND RATING; BOOK- ENTRY SECURITY; CONTROLLED AMORTIZATION BOND; EURO BOND; INDUSTRIAL DEVELOPMEN BOND; I- BOND; INFLATION - INDEXED SECURITIES; JUNK BOND; MORGAGE BACKED BOND; PRIVATE PURPOSE BOND; SAVINGS BOND; STATE AND LOCAL BOND; SURETY BOND; TREASURY BOND; YANKEE BOND; YEN BOND.
Một sự đầu tư nợ trong đó một nhà đầu tư cho một thực thể (công ty hoặc chính phủ) vay tiền trong một thời gian xác định với lãi suất cố định. Trái phiếu được sử dụng bởi các công ty, các thành phố, tiểu bang, chính phủ Mỹ và chính phủ nước ngoài để tài trợ cho một loạt các dự án và các hoạt động.Trái phiếu thường được gọi là chứng khoán có thu nhập cố định và là một trong ba loại tài sản chính, cùng với cổ phiếu và các khoản tương đương tiền .. Các thực thể vay nợ (người phát hành) phát hành ra trái phiếu thông báo lãi suất (coupon) sẽ được thanh toán và thời gian khoản tiền vay (gốc) được hoàn trả (ngày đáo hạn). Lãi suất trái phiếu thường được trả mỗi sáu tháng (nửa năm). Các loại trái phiếu chính gồm trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu đô thị và trái phiếu kho bạc Mỹ, hối phiếu và các hóa đơn, được gọi chung là đơn giản là "Chứng khoán kho bạc". Hai đặc trưng của một trái phiếu - chất lượng tín dụng và thời gian - là những yếu tố chính quyết định lãi suất của trái phiếu. Thời gian đáo hạn trái phiếu từ một trái phiếu kho bạc 90 ngày đến trái phiếu chính phủ 30 năm. Trái phiếu doanh nghiệp và thành phố thường trong khoảng từ ba đến 10 năm.
Trái Phiếu (Bond) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ: Bond Quote (báo giá trái phiếu) cho biết giá chào mua/bán; Bond Swap (hoán đổi trái phiếu) là bán một trái phiếu và mua trái phiếu khác để cải thiện lợi suất/kỳ hạn. Ứng dụng: so sánh lợi suất, đánh giá rủi ro tín dụng, tối ưu chi phí vốn và cơ cấu kỳ hạn. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Bollinger Bands / Dải Biên Bollinger
Được phát triển bởi John Bollinger, đây là một trong những công cụ hữu dụng trong phân tích kỹ thuật. Hai đường sóng song song phía trên và phía dưới đường bình quân trượt (MA) tạo ra một dải - kênh các mức thị giá chính. Nó tương tự như đường bao của bình quân trượt, tuy nhiên nó còn chỉ ra mức độ sôi động của thị trường. Khi thị trường nóng, hai đường sóng có xu hướng đi xa đường MA, khi thị trường hạ nhiệt nó có xu hướng đi gần vào đường MA.Bollinger Band (BB) cung cấp một số tín hiệu hữu dụng khi phân tích các xu thế: Khi giá vượt ra ngoài BB, xu thế hiện tại sẽ tiếp diễn. Một xu thế mạnh của thị trường sẽ luôn đi sát và thỉnh thoảng sẽ vượt ra khỏi đường biên BB. Xem xét các điểm giá xuyên thủng BB, nó có thể báo hiệu cho một xu thế mới. Khi BB lệch khác thường về một bên, có thể xu thê hiện tại sẽ kết thúc. Khi khoảng rộng của BB trở nên hẹp đi, có thể một xu thế mới sẽ xuất hiện. Sự thay đổi giá bất ngờ có thể xuất hiện khi BB thu hẹp lại, độ sôi động của thị trường sẽ giảm đi.
Bohm-Bawerk, Eugen Von (1851-1914) / Bohm-Bawerk, Eugen Von (1851-1914)
Một nhà kinh tế học và chính khách người Áo. Ông là người được hoan nghênh nhất trong trường phái Áo. Ông bổ sung một phần nhỏ học thuyết của Menger và Wieser về giá trị và giá cả, nhưng ông phát triển toàn diện diễn biến kinh tế trong công trình của mình về vốn và tiền lãi, từ tác phẩm này ông được người ta gọi là "nhà tư sản C.Mác". Trong công trình này ông đồng thời xác định lượng hàng hoá, giai đoạn sản xuất, tiền lương và tiền lãi. Sự quan tâm được tập trung chủ yếu vào vốn và lãi. Ông giải thích rằng, lãi suất là sự tương tác giữa SỰ ƯA THÍCH THEO THỜI GIAN và HIÊU SUẤT ĐẦU TƯ VẬT CHẤT. Ông đưa ra 2 lý do: mọi người mong muốn được khá giả hơn trong tương lai và họ cũng đánh giá quá thấp những nhu cầu trong tương lai. Cả hai điều trên làm giảm độ thoả dụng biên của hàng hoá tương lai.Bohm-Bawerk giải thích hiệu suất đầu tư vật chất dưới dạng tính ưu việt của phương pháp sản xuất vòng tròn, ví dụ để bát cá thì dùng cần câu hữu hiệu hơn là bát trực tiếp bằng tay. Ông cho rằng, SỰ VÒNG VO là hiệu qủa nhưng phải chịu mức lợi tức giảm dần. Sự vòng vo được mở rộng đến khi năng suất biên từ sự kéo dài cho phép cuối cùng của quá trình sản xuất bằng lãi phải trả để đạt được các khoản cho hàng hoá lương của người lao động kéo dài quá trình sản xuất. Khái niện sự vònh vo là đặc tính của học thuyết trường phái Áo về vốn, đã chịu rất nhiều tranh cãi, vì không có thước đo nào rõ ràng về nơ
Bogey, Bogy / Chuẩn Đánh Giá Hoạt Động Quỹ
Một từ thông dụng chỉ một chuẩn so sánh được sử dụng để đánh giá hoạt động của một quỹ. Chuẩn so sánh là một chỉ số phản ánh phạm vi đầu tư của quỹ. So sánh hoạt động của quỹ với chỉ số được đưa ra làm chuẩn so sánh giúp các nhà đầu tư hiểu rõ tình hình hoạt động của quỹ so với thị trường. Còn được gọi là "bogy". Ví dụ, hoạt động của một quỹ vốn nhỏ (small-cap fund) có thể được so sánh với chỉ số Russell 2000, một chuẩn so sánh cho các quỹ vốn nhỏ. Một trong những chuẩn so sánh phổ biến nhất là chỉ số S&P 500.
Board Of Directors - BOD / Hội Đồng Quản Trị
Board Of Arbitration / Hội Đồng Trọng Tài
Board Of Arbitration có nghĩa là Hội đồng trọng tài. Thuật ngữ dùng để chỉ nhóm 3 người hay vài người được chỉ định để phán quyết các vụ kiện giữa các công ty chứng khoán và các khách hàng đòi quyền bồi thường do khách hàng đệ trình. Phân xử hai bên (trọng tài phân xử - Arbitration) là phương thức được thừa nhận bởi NASD (National Association of Securities Dealers), Municipal Securities Rule Making Board (Hội đồng làm luật về Trái phiếu đô thị) và các thị trường để giải quyết các vụ tranh chấp, nó được áp dụng cho cả công ty thành viên lẫn công ty không là thành viên.
Board Broker / Người Môi Giới Ở Thị Trường Chicago
Thuật ngữ này dùng để chỉ nhân viên của Chicago Board Options Exchange (thị trường mua bán hợp đồng options ở Chicago), người này điều hành các lệnh mua bán chưa phù hợp với thị trường. Khi các lệnh này chưa thể thực hiện ngay lúc đó họ sẽ thông báo cho các thành viên thị trường để những người này thi hành các lệnh đó.
Board / Hội Đồng
1. Bộ phận lãnh đạo chính thức của một tổ chức: Hội Đồng Quản trị (Board of Directors) của ngân hàng hay công ty, Hội Đồng Thụ uỷ (Board of Trustees) của ngân hàng tiết kiệm hỗ tương hay Hiệp Hội Tiết Kiệm và Cho Vay. 2. Chữ tắt của Hội Đồng Thống Đốc (Board or Governors) của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang. 3. Tên thông dụng của thị trường chứng khoán, đặc biệt dùng cho NYSE (New York Stock Exchange) hay còn gọi là Big Board.
BLUS Residuals / Số Dư BLUS
Các số dư không chệch, tuyến tính, tốt nhất và với một ma trận hiệp phương sai vô hướng.
Blue-Collar Workers / Công Nhân Cổ Xanh
Người lao động tham gia vào công việc nào đó mà về bản chất là lao động chân tay, và cũng khác với công nhân cổ trắng.(Xem MANUAL WORKERS)
Bluechip / Cổ Phiếu Bluechip
Cổ phiếu bluechip là cổ phiếu của các công ty danh tiếng với các khoản thu nhập ổn định và không bị nợ đọng vượt quá khả năng chi trả. Hầu hết các cổ phiếu bluechip đều cho cổ tức đều đặn ngay cả khi công việc kinh doanh không thuận lợi ở thời điểm nào đó. Cổ phiếu bluechip được định giá bởi các nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn và tính ổn định mặc dù giá một cổ phiếu loại này thường là cao. Thông thường, những cổ phiếu như vậy được tin tưởng là sẽ tạo ra các khoản lãi đáng tin cậy mặc dù không lớn, và rủi ro thấp. Rất nhiều cổ phiếu bluechip là bộ phận cấu thành nên các chỉ số chứng khoán phổ biến như Dow Jones Industrial Average và S&P 500. Nói cách khác, cổ phiếu bluechip có thể được xác định bởi các công ty có giá trị cổ phiếu trên thị trường rất lớn, ví dụ trên 1 tỷ đôla.
Blue Sky Laws / Luật Bảo Vệ Nhà Đầu Tư
Tên phổ biến dành cho luật chứng khoán tiểu bang, được thiết kế nhằm bảo vệ các nhà đầu tư khỏi việc mua các chứng khoán không giá trị. Luật bảo vệ cấc nhà đầu tư khác nhau tùy nơi, mặc dù hầu hết chúng đều có những quy định giống nhau chống lại sự gian lận, và đòi hỏi sự đăng ký của hầu hết các chứng khoán được chào bán, ngoại trừ trái phiếu đô thị. Nhiều bang đã mô phỏng luật chứng khoán của họ theo luật liên bang.
Các quy định của tiểu bang được thiết kế để bảo vệ các nhà đầu tư chống lại gian lận chứng khoán, bằng cách yêu cầu người bán các cổ phiếu mới phải đăng ký cho cổ phiếu và cung cấp chi tiết về tài chính. Điều này cho phép các nhà đầu tư đưa ra đánh giá dựa trên những dữ liệu đáng tin cậy. Thuật ngữ này được cho là bắt nguồn từ đầu những năm 1900 khi một thẩm phán của Tòa án Tối cao (Hoa Kỳ) tuyên bố rằng ông mong muốn bảo vệ các nhà đầu tư khỏi các dự án kinh doanh đầu cơ có "nhiều giá trị như một mảng của bầu trời xanh".
Blue List / Danh Sách Xanh
Thông báo thương mại "DAnh sách Xanh Chào bán Chứng khoán Đô thị hiện hành" niêm yết mệnh giá, lãi suất trái phiếu và lợi tức khi đáo hạn của các trái phiếu đô thị và giấy nợ, được xuất bản hàng ngày bởi Standard&Poor's từ năm 1935. Danh sách Xanh bao gồm khoảng 40% các trái phiếu đô thị được chào bán trong thị trường mua bán chứng khoán. Những người mua bán trả phí cho mỗi danh sách hàng ngày.
Blue Chip / Cổ Phần Xanh
Một cụm thuật ngữ chỉ CỔ PHẦN hạng nhất có ít rủi ro về mất vốn.
Blue Book / Sách Xanh
Một cái tên quen thuộc cho ấn phẩm của Cục thống kê trung ương bao gồm đăng tải những tài khoản chi tiêu và thu nhập quốc dân hàng năm của Anh.
Một cuốn sách hướng dẫn biên soạn và báo giá các loại ô tô mới hoặc đã qua sử dụng, cũng như các loại phương tiện khác với mọi kiểu dáng, mẫu mã và chủng loại. Tên chính thức của cuốn sách là sách xanh Kelley, ban đầu nó chỉ dành cho ngành công nghiệp ô tô, nhưng sau đó cả phiên bản dành cho người tiêu dùng và phiên bản trực tuyến đều đã được cung cấp tới công chúng vào những năm 1990. Sách xanh đã trở thành hướng dẫn thẩm định hàng đầu cho việc định giá xe ở Bắc Mỹ. Các công ty bảo hiểm ô tô thường sử dụng sách xanh làm tiêu chuẩn so sánh để đánh giá giá trị thị trường của một chiếc xe vừa trải qua một vụ va chạm nhằm xác định xem có đáng để sửa chiếc xe này không, hay nên loại bỏ nó và ghi lại một khoản lỗ.
Blowout / Chứng Khoán Bán Chạy
Việc buôn bán hàng hóa: Hàng bán lẻ được bán nhanh chóng với giá rẻ. Chứng khoán: Việc bán hết nhanh chóng một chứng khoán trong một đợt chào bán mới. Các doanh nghiệp đều muốn bán được chứng khoán trong môi trường như thế này, bởi vì họ sẽ bán được với giá cao. Các nhà đầu tư thường sẽ có một thời gian khó khăn để có đủ số lượng cổ phiếu họ muốn trong suốt thời kỳ chứng khoán bán chạy này.





