Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Brand Vision / Tầm Nhìn Thương Hiệu

Tầm nhìn thương hiệu gợi ra một định hướng cho tương lai, một khát vọng của một thương hiệu về những điều mà nó muốn đạt tới.Khi đề cập đến một ý định, một mục đích mang tính chiến lược, chúng ta thường hay hình tượng hóa nó bằng một hình ảnh của tương lai. Tầm nhìn bao hàm ý nghĩa của một tiêu chuẩn tuyệt hảo, một điều lý tưởng. Nó mang tính lựa chọn một trong những giá trị tuyệt vời nhất của một thương hiệu. Tầm nhìn còn có tính chất của một sự độc đáo, nó ám chỉ đển việc tạo ra một điều gì đó đặc biệt.Tầm nhìn thương hiệu là một thông điệp ngắn gọn và xuyên suốt định hướng hoạt động đường dài cho một thương hiệu. Vai trò của tầm nhìn giống như một thấu kính hội tụ tất cả sức mạnh của một thương hiệu vào một điểm chung. Doanh nghiệp thông qua tầm nhìn sẽ định hướng được việc cần và không cần làm của một thương hiệu.   Tầm nhìn thương hiệu là trọng tâm của một chiến lược thương hiệu. Khi đã có một tầm nhìn cho tương lai của một thương hiệu, trách nhiệm của nhà lãnh đạo là phải truyền tải tầm nhìn này đến mọi thành viên của tổ chức, biến nó thành một tầm nhìn chung được chia sẻ bởi tất cả mọi người, hội đủ các tiêu chuẩn: Thống nhất một mục tiêu xuyên suốt của công ty ở mọi cấp Tạo sự nhất quán trong việc lãnh đạo Động viên tinh thần nhân viên và quản lý Định hướng sử dụng nguồn tài nguyên Tạo tiền đề cho việc xây dựng mục tiêu và chỉ tiêu trong cùng một định hướng.

Brand Name / Nhãn Hiệu Hàng Hóa

Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong thương mại. Nhãn hiệu có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng. Nhãn hiệu có thể được bảo hộ trong nước hoặc trên quốc tế. Theo Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”. Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu của doanh nghiệp (hoặc tập thể các doanh nghiệp) dùng để phân biệt với hàng hóa cùng loại của doanh nghiệp khác”. Theo Philip Kotler một chuyên gia marketing hàng đầu của thế giới thì: “Nhãn hiệu sản phẩm là tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, có công dụng dùng để xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với các hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”. Nhãn hiệu đã được sử dụng từ thời xa xưa khi các nhà sản xuất muốn phân biệt hàng hóa của mình. Thuật ngữ nhãn hiệu “brand” xuất phát từ người Aixơlen cổ đại với nghĩa là đốt cháy “to burn”. Sự tự hào về hàng hóa do chính mình sản xuất không phải là lý do chính để sử dụng nhãn hiệu. Thật ra, các nhà sản xuất muốn khách hàng nhận  biết được nhà sản xuất với hi vọng rằng khách hàng sẽ mua lại trong những lần sau hay giới thiệu với người khác. Ban đầu thì người ta đóng dấu nhãn hiệu cho các loại gia súc, về sau thì các nhà sản xuất gốm, gia thú và tơ lụa cũng sử dụng phương pháp này để phân biệt các sản phẩm của họ với nhà sản xuất khác. Một dấu hiệu có khả năng đăng ký nhãn hiệu phải đáp ứng được các tiêu chuẩn do các Cơ quan nhãn hiệu quốc gia đặt ra và các tiêu chuẩn quốc tế. Có hai tiêu chí chính để xem xét (i.) Nhãn hiệu phải độc đáo và/hoặc có khẳ năng phân biệt các sản phẩm/dịch của doanh nghiệp này với các sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp khác (ii.) Nhãn hiệu không mô tả sản phẩm/dịch có thể gây hiểu lầm hoặc vi phạm các trật tự xã hội và các đạo đức xã hội.

Brand Loyalty / Sự Trung Thành Với Nhãn Hiệu

Sự trung thành về tâm lý đối với sự kết hợp biểu tượng của một sản phẩm có nhãn hiệu.

Brand Equity / Tài Sản Thương Hiệu

Tài sản thương hiệu bao gồm tất cả những giá trị đặc thù mà thương hiệu mang đến cho những người liên quan (khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng…). Những giá trị này sẽ được cộng vào sản phẩm hay dịch vụ nhằm để gia tăng giá trị đối với những người liên quan. Những thành tố cấu thành tài sản thương hiệu này phải được kết nối với biểu tượng, logo của công ty hoặc sản phẩm. Nếu một công ty thay đổi tên hay biểu tượng bên ngoài thì những tài sản thương hiệu này thì sẽ bị ảnh hưởng và trong một số trường hợp có thể bị mất đi. Những thành tố cấu thành nên tài sản thương hiệu có thể khác nhau tùy theo mỗi trường hợp. Tuy vậy, trên nguyên tắc thì sẽ có 5 thành tố chính: 1.  Sự trung thành của thương hiệu (brand loyalty)2.  Sự nhận biết thương hiệu (brand awareness)3.  Chất lượng cảm nhận (perceived quality)4.  Thuộc tính thương hiệu (brand associations)5.  Các yếu tố sở hữu khác như: bảo hộ thương hiệu, quan hệ với kênh phân phối… Tài sản thương hiệu sẽ cộng thêm hoặc giảm bớt các giá trị mang đến cho khách hàng. Tất cả các thành tố của tài sản thương hiệu sẽ giúp cho khách hàng có thể hiểu được cũng như lưu giữ được rất nhiều thông tin khác nhau về sản phẩm và thương hiệu. Nó sẽ mang đến cho khách hàng sự tự tin khi lựa chọn sản phẩm (kết quả này có được do những trãi nghiệm mà khách hàng có được khi sử dụng sản phẩm này trước đây). Một ví dụ, khi khách hàng mua một sản phẩm của Sony thì họ hoàn toàn tin tưởng vào chất lượng vì đây là một thương hiệu nổi tiếng với chất lượng vượt trội. Có một khía cạnh quan trọng không kém đó là chất lượng cảm nhận và thuộc tính thương hiệu sẽ nâng cao hơn sự hài lòng của khách hàng mỗi khi sử dụng sản phẩm. Nếu một người sử dụng xe BMW hay Mercedes thì họ sẽ có những cảm nhận hoàn toàn khác biệt, cảm thấy mình trở nên quan trọng hơn và những cảm xúc này sẽ gia tăng sự hài lòng của người sử dụng đối với sản phẩm.

Đây là giá trị cao cấp mà một công ty nhận ra từ một sản phẩm với cái tên dễ nhận biết so với tương đương chung của nó. Các công ty có thể tạo ra tài sản thương hiệu cho các sản phẩm của họ bằng cách làm cho chúng dễ nhớ, dễ nhận biết và vượt trội về chất lượng và độ tin cậy. Các chiến dịch tiếp thị đại chúng cũng có thể giúp tạo ra tài sản thương hiệu. Nếu những người tiêu dùng sẵn sàng trả nhiều tiền cho một sản phẩm chung hơn là cho một thương hiệu, tuy nhiên, thương hiệu này được cho là có tài sản thương hiệu tiêu cực. Điều này có thể xảy ra nếu một công ty bị thu hồi sản phẩm lớn hoặc gây ra thảm họa môi trường được công bố rộng rãi.   Số tiền bổ sung mà người tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra để mua Coca Cola thay vì nhãn hiệu cửa hàng của soda là một ví dụ về tài sản thương hiệu. Một tình huống khi tài sản thương hiệu là quan trọng là khi một công ty muốn mở rộng dòng sản phẩm của mình. Nếu vốn chủ sở hữu của thương hiệu là tích cực, công ty có thể tăng khả năng khách hàng sẽ mua sản phẩm mới của mình bằng cách liên kết sản phẩm mới với một thương hiệu thành công hiện có. Ví dụ, nếu Campbell cho ra đời một món súp mới, sẽ có thể sẽ giữ nó dưới cùng một tên thương hiệu, thay vì phát minh ra một thương hiệu mới. Các hiệp hội khách hàng tích cực đã có với Campbell sẽ làm cho sản phẩm mới hấp dẫn hơn nếu súp có một tên nhãn hiệu lạ.

Box-Jenkins / Phương Pháp Box-Jenkins

Một phương pháp dự báo dựa trên mô hình CHUỖI THỜI GIAN ARIMA.

Bourgeoisie / Tầng Lớp Trưởng Giả; Tầng Lớp Tư Sản

Cụm thuật ngữ này được sử dụng để chỉ một bộ phận của xã hội công nghiệp thắng thế trong cuộc cách mạng Công nghiệp như chủ hãng và các nhà chuyên môn.

Bounded Rationality / Tính Duy Lý Bị Hạn Chế

Một khái niệm được H.A.SIMON đưa ra cho rằng mặc dầu các cá nhân cư xử theo lý trí theo đó sự sắp đặt sở thích cho dù là hoàn chỉnh, nhất quán và kín kẽ, nhưng khả năng thu nhập và xử lý thông tin của họ lại bị hạn chế, nghĩa là nó bị giới hạn bởi khả năng tính toán của trí óc con người.

Boulwarism / Chủ Nghĩa Boulware

Quá trình thương lượng tập thể về các điều khoản và điều kiện tuyển dụng thường là thoả hiệp và nhượng bộ.

Bottom-Up Investment / Đầu Tư Từ Dưới Lên

Đây là một chiến lược đầu tư trong đó doanh nghiệp đơn giản chỉ quan tâm đến thành tích của riêng mình, mà không quan tâm đến các khía cạnh của nền kinh tế. Những nhà quản lý đi theo chiến lược này sẽ xem xét rất chặt chẽ cách quản lý của công ty, lịch sử, mô hình kinh doanh, triển vọng phát triển và những đặc điểm khác của công ty mình. Nhà quản lý sẽ không xem xét ngành công nghiệp nói chung cũng như những xu hướng kinh tế và sau đó thực hiện phép ngoại suy. Những người ủng hộ chiến lược đầu tư từ dưới lên tin rằng một số công ty phát triển mạnh hơn hẳn so với đối thủ, và do đó sẽ hoạt động tốt hơn dù nền kinh tế kém hiệu quả.

Bottom Line / Kết Quả Kinh Doanh Sau Thuế

Kết luận, dòng cuối của một báo cáo tài chính của một giao dịch hoặc hoạt động kinh doanh của một công ty, tổ chức. Thuật ngữ này đề cập đến thu nhập ròng của các công ty (lợi nhuận hoặc lỗ ròng).

Boom / Sự Bùng Nổ Tăng Trưởng

GIAI ĐOẠN MỞ RỘNG của CHU KÌ KINH DOANH. Cụm thuật ngữ này chỉ áp dụng với tốc độ đổi hướng đi lên nhanh chóng nào đó so với CHIỀU HƯỚNG TRƯỜNG KỲ.

Book Value / Giá Trị Ghi Trên Sổ Sách (Giá Bút Toán)

1. Giá trị tài sản hiện hành thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể bằng giá thị trường, hoặc có thể có sự chênh lệch giữa giá mua và giá thị trường, trừ khấu hao lũy kế.  2. Giá trị ròng của một công ty, đôi khi được diễn tả bằng giá trị bằng tiền trên mỗi cổ phần của cổ phiếu thường, sau khi trừ đi số cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành.  3. Giá mua gốc của một tài sản.

1. Giá trị tài sản hiện hành thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể bằng giá trị thị trường, hoặc có thể có sự chênh lệch giữa giá mua và giá thị trường, trừ khấu hao lũy kế. 2. Giá trị ròng của một công ty, đôi khi được diễn tả bằng giá tị bằng tiền trên mỗi cổ phần của cổ phiếu thường, sau khi trừ đi số cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành. 3. Giá mua gốc của một tài sản.

Book Value / Giá Trị Trên Sổ Sách (Giá Bút Toán)

1. Giá trị tài sản hiện hành thể hiện trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể bằng giá trị thị trường, hoặc có thể có sự chênh lệch giữa giá mua và giá thị trường, trừ khấu hao lũy kế. 2. Giá trị ròng của một công ty, đôi khi được diễn tả bằng giá trị tiền trên mỗi cổ phần của cổ phiếu thị trường, sau khi trừ đi số cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành.  3. Giá mua gốc của một tài sản.

Book To Market Ratio / Hệ Số Giá Ghi Sổ Trên Giá Thị Trường

Hệ số giá ghi sổ trên giá thị truờng là chỉ tiêu để xác định giá trị thực sự của một công ty bằng cách so sánh giá trị kế toán (giá trị ghi sổ) với giá trị thị truờng của công ty đó. Giá trị kế toán được tính dựa trên những con số đã ghi nhận trên sổ kế toán, như giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hay tính toán qua nguồn vốn gồm có nguồn vốn chủ sở hữu vànợ phải trả. Đây là những tài sản đã được ghi nhận trong quá khứ, tức là từ khi công ty sở hữu tài sản này và theo nguyên tắc giá phí lịch sử thì nó được giữ nguyên đến khi tài sản đó mất đi. Do vậy có thể nói giá kế toán là tổng giá trị tài sản của công ty tính trong một thời kỳ nhất định, thường trong một niên độ kế toán, và nó chỉ thay đổi khi có sự thay đổi qui mô hay cơ cấu tài sản. Giá trị thị trường của công ty được quyết định trên thị trườngchứng khoán qua việc vốn hóa thị trường, tức là cổ phiếu do công ty đó phát hành có "giá trị" như thế nào đối với các nhà đầu tư. Công ty phát hành cổ phiếu với một mệnh giá nhất định trên thị trường sơ cấp, nhưng khi nó được mua bán trên thị trường thứ cấp thì giá cả có thể khác xa so với mệnh giá. Nếu công ty làm ăn có hiệu quả và tiềm năng thu đuợc lợi nhuận cao thì giá trị của cổ phiếu sẽ tăng, tức là giá thị truờng của công ty cũng theo đó tăng; ngược lại nếu làm ăn kém hiệu quả thì giá cổ phiếu giảm và tất nhiên giá trị công ty theo đó giảm đi. Như vậy thực chất giá thị truờng của công ty cao hay thấp không có mối quan hệ nhân quả với giá kế toán. Giá kế toán là "giá lịch sử" thì giá thị trường là "giá hiện tại" được tính theo từng thời điểm, và luôn biến động trên thị truờng chứng khoán. Công thức: Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường = Giá trị ghi sổ / Giá trị thị trường  Hệ số này xác định giá cổ phiếu của công ty đang ở tình trạng trên giá trị hay dưới giá trị bằng cách so giá trị thị trường với giá trị ghi sổ. Nếu hệ số này lớn hơn 1 tức là giá trị ghi sổ lớn hơn giá thị trường vậy các nhà đầu tư đánh giá giá trị công ty dưới "giá trị lịch sử", tức là cổ phiếu giảm giá. Ngược lại nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì giá thị trường cao hơn giá kế toán, tức là giá cổ phiếu tăng. Các nhà đầu tư sử dụng hệ số này như một trong yếu tố để quyết định có đầu tư vào loại cổ phiếu đó hay không. Đôi khi hệ số này được đảo ngược lại là "hệ số giá thị trường trên giá ghi sổ - Market to Book Ratio".

Bonus Stock / Cổ Phiếu Thưởng

Có hai trường hợp thưởng cổ phiếu cần phải xem xét: Trường hợp thứ nhất: thưởng cho người có đóng góp lớn Thông thường, khi nói đến khái niệm thưởng có nghĩa là việc ưu đãi thường là về vật chất cho một số lượng ít người. Trong các công ty cổ phần, có thể hiểu thưởng cổ phiếu là việc công ty dùng một số cổ phiếu (trước đây là của chung mọi cổ đông) để thưởng cho những người quản lý, cán bộ công nhân viên hay những người có đóng góp lớn đối với hoạt động của Công ty. Nguồn cổ phiếu dùng để thưởng thường là cổ phiếu ngân quỹ. Trong trường hợp này, tổng giá trị sổ sách của công ty không thay đổi, cái lợi của người được thưởng là rõ ràng: tỷ lệ sở hữu công ty của họ sẽ tăng lên. Còn đối với những cổ đông không được thưởng, tỉ lệ sở hữu công ty của họ sẽ giảm đi. Tuy nhiên, đây là một cách để công ty khuyến khích tinh thần làm việc và sự đóng góp của những người được thưởng, đặc biệt đối với những người quản lý, do đó vẫn được Đại hội cổ đông thông qua. Trường hợp thứ hai: thưởng cho tất cả các cổ đông Đây là trường hợp nhiều công ty cổ phần trên thế giới áp dụng và ở Việt nam trong thời gian gần đây cũng hay được nhắc đến. Đó là việc tất cả các cổ đông của công ty được nhận thêm cổ phiếu mới theo một tỷ lệ nhất định (ví dụ 5:1, cổ đông nắm giữ 5 cổ phiếu cũ được sẽ được nhận thêm 1 cổ phiếu mới). Khi đó, nhà đầu tư cần nắm được một số nguyên tắc sau: Thứ nhất, công ty không nhận được nguồn vốn góp mới từ phía cổ đông hay từ bất kỳ nguồn nào, do đó vốn chủ sở hữu của các cổ đông không thay đổi. Thực chất, đây là việc làm tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận để lại, hay nói cách khác, đây chỉ là việc chuyển đổi giữa các khoản mục trong nguồn vốn cổ đông: từ lợi nhuận để lại sang vốn điều lệ mà không làm thay đổi tổng nguồn vốn cổ đông. Thứ hai, cổ phiếu được phát thêm cho cổ đông đã làm tăng số lượng cổ phiếu của công ty (1/5 hay 20%). Khi số lượng cổ phiếu tăng lên, nguồn vốn chủ sở hữu không đổi, giá trị sổ sách (=nguồn vốn chủ sở hữu / tổng số cổ phiếu) của cổ phiếu sẽ giảm theo tỷ lệ tương ứng. Tỷ lệ sở hữu công ty của mỗi cổ đông trước và sau khi phát hành thêm cổ phiếu là không đổi. Thứ ba, đây thường là cách các công ty trên thế giới hiện nay trả cổ tức cho cổ đông bằng cổ phiếu (stock dividend) thay vì trả bằng tiền (cash dividend) bởi công ty muốn giữ lại tiền để mở rộng sản xuất kinh doanh hay đầu tư vào dự án mới. Việc có lợi hay không của chính sách này đối với cổ đông được quyết định bởi sự thành công của kế hoạch đầu tư mới. Nếu kế hoạch này đem lại lợi nhuận cao, lượng tiền đầu tư của cổ đông sẽ được sử dụng hiệu quả, tổng giá trị của công ty sẽ tăng lên. Còn trong trường hợp ngược lại, điều này sẽ có ảnh hưởng không chỉ tới phần cổ phiếu mới được nhận thêm mà cả phần cổ phiếu các cổ đông đã nắm giữ trước đây.

Bonus Issue / Cổ Phiếu Thưởng

Để chỉ cổ phiếu phát hành bởi một công ty cho các cổ đông hiện tại không phải duới dạng mua vốn mới mà là VỐN HOÁ dự trữ.

Bond Yields / Thu Lợi Từ Trái Phiếu

Các nhà đầu tư thận trọng thường sử dụng trái phiếu để có được nguồn thu nhập ổn định. Họ mua trái phiếu khi trái phiếu đó được phát hành và nắm giữ chúng, chờ đợi các khoản thu nhập đều đặn, có lãi cố định cho tới khi trái phiếu đáo hạn. Sau đó, họ nhận lại khoản đầu tư gốc để lại tái đầu tư. Các trái phiếu được phát hành khi lãi suất phổ biến của thị trường ở mức cao sẽ lên giá khi lãi suất giảm xuống. Đó là vì các nhà đầu tư sẵn sàng trả cao hơn mệnh giá để mua một trái phiếu có trái suất là 8% khi lãi suất hiện hành là 5%. Điều đó có nghĩa là sự tăng lên trong giá một trái phiếu, hay tăng giá vốn, có thể mang lại nhiều lợi nhuận cho người nào bán trái phiếu đi hơn là giữ trái phiếu lại chờ đến ngày đáo hạn. Một số nhà đầu tư năng động hơn có thể giao dịch, hay mua và bán các trái phiếu (tương tự như họ có thể làm đối với cổ phiếu)  với hy vọng kiếm được tiền từ việc bán trái phiếu ở một mức giá cao hơn mức giá mà họ đã trả để mua được trái phiếu đó. Nhưng luôn luôn tồn tại những rủi ro trong các giao dịch trái phiếu. Nếu lãi suất tăng, bạn có thể mất tiền nếu bạn muốn bán một trái phiếu mua trước đó có mức lãi suất thấp hơn. Điều này là vì những người mua tiềm tàng rõ ràng phải trả ít tiền cho một trái phiếu hơn là số tiền mà bạn đã phải trả để mua trái phiếu đó. Một rủi ro khác mà những người nắm giữ trái phiếu thường gặp phải là lạm phát xuất hiện. Do số tiền mà bạn kiếm được từ một khoản đầu tư vào trái phiếu không đổi, nên giá trị của khoản tiền đó sẽ bị giảm đi do lạm phát. Chẳng hạn nếu bạn có một trái phiếu thời hạn 30 năm với lãi hàng năm là 5.000$, thu nhập này sẽ mua được ít hàng hoá hơn vào thời điểm cuối thời hạn của trái phiếu so với thời điểm đầu thời hạn.

Bond Mutual Fund / Quỹ Tương Hỗ Trái Phiếu

Quỹ tương hỗ đầu tư vào trái phiếu. Những quỹ như thế này có thể tập trung vào một số loại trái phiếu nhất định, như trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu lợi suất cao, trái phiếu đảm bảo bằng thế chấp, trái phiếu nước ngoài hoặc trái phiếu không được nhận trái tức. Những quỹ tương hỗ trái phiếu khác có thể mua một số hay tất cả các loại trái phiếu đó. Hầu hết các quỹ tương hỗ trái phiếu được thiết lập để đem lại thu nhập hiện tại cho người sở hữu trái phiếu. Những quỹ trái phiếu cũng đem lại cho khách hàng thặng dư vốn khi lãi suất giảm và thâm hụt vốn khi lãi suất tăng. Không giống như trái phiếu trong những quỹ này, bản thân quỹ không bao giờ đáo hạn.  Có 2 loại quỹ tương hỗ trái phiếu: Quỹ mở và quỹ đóng. Quỹ mở liên tục phát hành chứng chỉ quỹ để điều chỉnh các khoản tiền mới khi được đầu tư vào quỹ và chúng luôn giao dịch tại chỉ số giá trị tài sản thuần (NAV). Quỹ đóng chỉ phát hành một lượng giới hạn chứng chỉ quỹ và được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán. Quỹ đóng có thể giao dịch cả tại giá cao (phí giao dịch) hơn hoặc thấp hơn (chiết khấu) NAV, phụ thuộc vào yêu cầu của nhà đầu tư đối với quỹ.

Bond Maturity Periods / Vòng Đời Trái Phiếu

Vòng đời, hay thời hạn của bất kỳ trái phiếu nào cũng đều được xác định cố định ngay tại thời điểm phát hành. Nó có thể là ngắn hạn (thường là ít hơn hoặc bằng 1 năm), trung hạn (2 đến 10 năm), đến dài hạn (bằng hoặc hơn 30 năm). Nói chung, thời hạn càng dài thì lãi suất đề ra càng tạo ra thêm nhiều rủi ro hơn khi đầu tư tiền của bạn trong thời gian quá dài như vậy. Mối quan hệ giữa trái suất trả cho trái phiếu ngắn hạn và dài hạn được gọi là đường cong lợi suất.

Bond Market / Thị Trường Trái Phiếu

Cụm thuật ngữ này miêu tả bất cứ nơi nào hoặc sự giao dịch nào, trong đó bất kì loại trái khoán nào được chuyển qua tay: ví dụ rõ nhất là SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55