Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bull Bond / Trái Phiếu Có Giá Lên

Trái phiếu được coi có khả năng tăng giá trị trong thị trường đang lên, khi lãi suất đang giảm. Trong khi hầu hết trái phiếu sẽ tăng giá trị trong thị trường lãi suất đang giảm, thì trái phiếu hiệu quả tốt trong thị trường đang lên là các chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp chỉ tính vốn gốc (PO). PO, bao gồm toàn bộ các thanh toán tiền gốc thế chấp, có hiệu quả trong thị trường lãi suất đang giảm, vì người thế chấp tái tài trợ khoản vay của họ ở mức lãi suất thấp hơn. Các nhà đầu tư được hoàn trả tiền đầu tư gốc của họ nhanh hơn, làm tăng lợi suất dòng tiền mặt của chứng khoán.

Bulk Filing / Xử Lý Nhanh Hồ Sơ Chi Phiếu

Thuật ngữ này dùng để chỉ hoạt động xử lý chi phiếu liên quan đến phân loại nhanh chi phiếu và số tồn của các chi phiếu được huỷ theo chu trình soạn sẵn của bản kê khai (statement preparation cycle) hơn là theo số tài khoản. Việc xử lý hàng loạt sẽ tiết kiệm thời gian và sức lao động bởi vì chi phiếu được xếp thành nhóm chỉ một lần theo số tài khoản của khách hàng khi in và phát cho khách hàng các báo cáo tài khoản chi phiếu.

Hoạt động xử lý hồ sơ chi phiếu này liên quan tới việc sắp xếp và lưu trữ các hồ sơ chi phiếu tốc độ cao theo chu kì chuẩn bị báo cáo tài chính, hơn là bằng các số liệu kế toán. Nói một cách khác, tất cả các hồ sơ chi phiếu mà được sử dụng trong quá trình chuẩn bị báo cáo tài chính vào một thời gian cụ thể được sắp xếp cùng nhau. Xử lí nhanh hồ sơ chi phiếu tiết kiệm thời gian và công sức bởi các hồ sơ chi phiếu được trả lại theo yêu cầu và không được trả lại với một bản sao kê ngân hàng.

Building Society / Hiệp Hội Nhà Ở

Là một định chế tài chính, được sở hữu bởi các thành viên của mình, cung cấp dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, đặc biệt là cho vay thế chấp.Thuật ngữ "building society" được sử dụng lần đầu tiên tại Vương quốc Anh thế kỷ 19, bởi các tổ chức tiết kiệm của người lao động: bằng cách đóng góp khoản tiết kiệm, các thành viên có thể mua hoặc xây dựng ngôi nhà của chính mình. Ở Anh ngày nay, các hiệp hội nhà ở cạnh tranh khá gay gắt với ngân hàng trên hầu hết các "dịch vụ ngân hàng", đặc biệt là cho vay thế chấp và các tài khoản tiền gửi. Trong năm 2007, ở Anh có 60 hiệp hội nhà ở với tổng số tài khoản vượt quá 305 tỷ bảng Anh. Ở Úc, các hiệp hội nhà ở cũng phát triển cùng với ở Anh. Do những luật lệ khắt khe với ngân hàng, hiệp hội nhà ở phát triển hưng thịnh cho đến khi ngành tài chính Úc bãi bỏ quy định những năm 1980. Rất nhiều những hiệp hội nhà ở nhỏ hơn đã biến mất, trong khi một số hiệp hội lớn nhất vẫn tồn tại và chính thức đạt được địa vị của các ngân hàng. Ở Mỹ, các hiệp hội tiết kiệm và vay nợ cũng có tổ chức và mục đích tương tự.

Một định chế tài chính cung cấp dịch vụ ngân hàng và thuộc về tài chính khác cho các thành viên của tổ chức. Hiệp hội nhà ở giống như các hội liên hiệp tín dụng ở Hoa Kỳ mà ở đó chúng được sở hữu hoàn toàn bởi các thành viên. Những hiệp hội này cung cấp tài sản thế chấp và tài khoản tiền gửi không kì hạn và thường được hậu thuẫn bởi các công ty bảo hiểm. "Hiệp hội nhà ở" được đưa ra như là một thuật ngữ lần đầu tiên ở nước Anh vào thế kỉ 19 từ các nhóm tiết kiệm của người lao động trong giao dịch xây dựng. Những tổ chức này hiện nay đang là đối thủ cạnh tranh lớn của các ngân  hàng ở Hoa Kỳ và tương tự với các tổ chức tiết kiệm và cho vay ở Hoa Kỳ. Hiệp hội nhà ở cũng có thể được thấy ở một số quốc gia khác như là Úc, Ireland và Jamaica.

Buffer Stocks / Kho Đệm, Dự Trữ Bình Ổn

Các lượng hàng hoá được dự trữ để khắc phục biến động giá cả đối với các mặt hàng cơ bản.

Budgetary Control / Kiểm Soát Ngân Sách

Một hệ thống qua đó kiểm tra được tiến hành đối với các nguồn thu và chi cho các mục tiêu được định ra trong ngân sách. Mục đích là khám phá xem kết quả đã chệch hướng mục tiêu ở mức độ nào để có những hành động vào thời gian thích hợp nhằm đưa các luồng phù hợp với mục tiêu mong muốn.

Budget Surplus / Thặng Dư Ngân Sách

Thu nhập hiện tại vượt chi tiêu hiện tại. Thường được sử dụng nhiều nhất để được miêu tả tình trạng trong đó thu nhập của chính phủ, thu từ thuế vượt để chi tiêu của chính phủ.

Một tình huống trong đó thu nhập vượt quá chi phí. Thuật ngữ "thặng dư ngân sách" thường được sử dụng để chỉ tình hình tài chính của các chính phủ, còn đối với các cá nhân thì dùng từ "lợi nhuận" hơn là một "thặng dư ngân sách". Thặng dư là một dấu hiệu cho thấy chính phủ đang hoạt động hiệu quả. Thặng dư ngân sách có thể được sử dụng để trả nợ, tiết kiệm cho tương lai, hoặc để mua một mặt hàng mong muốn mà trước đây trì hoãn. Chẳng hạn, một chính quyền thành phố có thặng dư ngân sách thì có thể sử dụng để thực hiện các cải tiến cho một bãi đậu xe đang xuống cấp. Khi chi tiêu vượt quá thu nhập, kết quả là thâm hụt ngân sách, cần phải được tài trợ bằng cách vay tiền và trả lãi suất vốn vay, giống như một người chi tiêu nhiều hơn khả năng của bản thân anh ta và cân bằng lại bằng cách sử dụng thẻ tín dụng. Một ngân sách cân bằng xảy ra khi chi tiêu bằng thu nhập. Chính phủ Mỹ chỉ có thặng dư ngân sách trong một vài năm kể từ năm 1950. Chính quyền Clinton (1993-2001) nổi tiếng là giải quyết được thâm hụt ngân sách lớn và tạo ra một thặng dư trong những năm cuối thập niên 90.

Budget Line / Đường Ngân Sách

Một đường trong Không gian hàng hoá chỉ ra những tổ hợp mà người tiêu dùng có thể mua đựơc ở mức thu nhập nhất định.

Budget Deficit / Thâm Hụt Ngân Sách

Chi tiêu hiện tại vượt thu nhập hiện tại. Thường được sử dụng nhiều nhất để được miêu tả tình trạng trong đó thu nhập của chính phủ, thu từ thuế không đủ trang trải để chi tiêu của chính phủ.

Một tình hình tài chính xảy ra khi một thực thể có dòng tiền ra lớn hơn dòng tiền vào. Thuật ngữ "thâm hụt ngân sách" thường được dùng để chỉ chi tiêu chính phủ chứ không phải là kinh doanh, chi tiêu cá nhân. Khi nó đề cập đến chi tiêu của chính phủ liên bang, thâm hụt ngân sách cũng được gọi là "nợ quốc gia." Trái ngược với thâm hụt ngân sách là thặng dư ngân sách, và khi dòng tiền vào bằng dòng tiền ra, người ta gọi là cân bằng ngân sách. Thâm hụt ngân sách của chính phủ có thể được giải quyết bằng cách cắt giảm chi tiêu, tăng thuế hoặc kết hợp cả hai. Thâm hụt ngân sách phải được tài trợ bằng vay tiền. Vay vốn thì phải trả lãi, điều này càng làm thâm hụt thêm.

Budget / Ngân Sách

1.Đầu tư: Ước lượng tổng thu nhập và chi phí trong một khoảng thời gian trong tương lai. Ngân sách có thể được lập cho một cá nhân, một gia định hoặc một nhóm người, một tổ chức kinh doanh, chính phủ, quốc gia hoặc các tổ chức đa quốc gia hay cho bất cứ cái gì làm ra tiền và tiêu tiền. Ngân sách là một định nghĩa kinh tế vi mô cho biết thỏa hiệp được thực hiện khi một hàng hóa được trao đổi.Ngân sách dư thừa nghĩa là lợi nhuận thu về nhiều hơn, ngân sách cân bằng nghĩa là lợi nhuận tương đương với chi phí, và ngân sách thâm hụt nghĩa là chi phí vượt quá lợi nhuận. Ngân sách thường được biên soạn và đánh giá lại theo từng thời kỳ. Sự điều chỉnh ngân sách dựa trên mục đích của tổ chức dự thảo ngân sách. Trong một vài trường hợp, người lập ngân sách sẽ vui mừng khi ngân sách bị thâm hụt, trong một vài trường hợp khác, điều hành một ngân sách thâm hụt thể hiện sự không có trách nhiệm tài chính.2. Kế toán: Kế hoạch định lượng về các hoạt động và các chương trình được phát biểu vớitài sản, tiêu sản, tổng thu nhập và chi phí. Thành viên của ngân sách sẽ phải tham gia vào việc thực hiện kế hoạch, hay trong những đơn vị sản phẩm hoặc dịch vụ. Ngân sách thể hiện mục đích của tổ chức dưới dạng các mục tiêu tài chính và vận hành. Thuận lợi của việc chuẩn bị ngân sách chính là việc lập kế hoạch, truyền đạt mục tiêu của toàn công ty đến từng cá nhân, thúc đẩy sự hợp tác giữa các phòng ban, duy trì kiểm soát bằng cách tính toán những con số thực trên những con số ngân sách, và phát hiện những mối tương quan giữa chức năng này với chức năng khác.

Ước tính doanh thu và chi phí cho một khoảng thời điểm nhất định trong tương lai. Ngân sách có thể được thực hiện cho một người, một gia đình, một nhóm người, 1 doanh nghiệp, 1 chính phủ, 1 quốc gia, 1 tổ chức đa quốc gia hay chỉ là bất cứ thứ gì khác mà làm ra và dùng đến tiền. Ngân sách là một khái niệm kinh tế vi mô cho thấy sự đánh đổi 1 vật này lấy 1 vật khác Một ngân sách thặng dư có nghĩa là doanh thu lớn hơn chi phí, trong khi một ngân sách cân bằng có nghĩa rằng doanh thu được dự kiến ​​sẽ bằng chi phí. Thâm hụt ngân sách có nghĩa là chi phí sẽ vượt quá doanh thu. Ngân sách thường được tuân theo và đánh giá lại theo một chu kỳ. Điều chỉnh ngân sách được làm dựa trên các mục tiêu của tổ chức lập ngân sách. Trong một số trường hợp, các nhà hoạch định ngân sách vẫn sẵn lòng hoạt động ở một mức thâm hụt, trong khi trong các trường hợp khác, hoạt động ở mức thâm hụt bị xem là tắc trách về tài chính

Buchanan, James M. / (1919-)

Nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel về kinh tế học năm 1986 vì những đóng góp của ông đối với lý thuyết ra quyết định chính trị và SỰ LỰA CHỌN CÔNG CỘNG. Trong khi lý thuyêt kinh tế truyền thống có thể lý giaỉ cách thức NHỮNG NGƯỜI TIÊU DÙNG và các nhà sản xuất ra quyết định về mua hàng hoá và CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT,lý thuyết này lại không đề cập tới việc đưa ra quyết định kinh tế trong KHU VỰC CÔNG CỘNG. Bị ảnh hưởng bởi MÔ HÌNH TRAO ĐỔI TỰ NGUYỆN CỦA WICKSELL, Buchanan coi diễn biến chính trị như một phương tiện hợp tác để đạt được những lợi thế có đi có lại. Động thái và kết quả của quá trình này sẽ phụ thuộc vào "luật chơi", do đó Buchanan đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự lựa chọn những quy tắc tổ chức này: Kết quả cụ thể của các chính sách đều có thể đoán được và được định trước bởi chính các quy tắc trên. Buchanan đã có hơn 20 cuốn sách và 300 bài báo được xuất bản.

Brussels Tariff Nomenclature / Biểu Thuế Quan Theo Hiệp Định Brussels

Sự phân loại tiêu chuẩn hàng hoá, được chấp nhận bởi đa số các nước trên thế giới, vì những mục đích về thuế quan.

Brookings Model / Mô Hình Brookings

Mô hình này đã được sử dụng để phân tích cấu trúc của CHU KỲ KINH DOANH và cho đánh giá CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, TÀI CHÍNH và TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. Mô hình đánh dấu một bước quan trọng trong việc thống nhất nhiều thành phần khác nhau của nền kinh tế thành một quy mô lớn nhưng quản lý được, đây là một cột mốc trong việc phát triển các mô hình kinh tế lượng.

Brokerage / Hoa Hồng Môi Giới

Một khoản tiền được yêu cầu bởi một người môi giới vì đã thực hiện việc mua bán thay mặt một khách hàng.

Broker / Người Môi Giới

Là một trung gian trên thị trường tài chính, có vai trò là chiếc cầu nối cho một bên hoặc cho cả hai bên trong vụ giao dịch. Người môi giới khác với người mua hoặc bán chính thức vì anh ta không bỏ vốn ra để thực hiện giao dịch. Người môi giới nhận nhiệm vụ cung cấp dịch vụ môi giới của mình và nhận hoa hồng, còn người mua/bán thì tìm kiếm bên kia để giao dịch và hy vọng kiếm được lợi nhuận chênh lệch khi tiếp tục mua/bán với bên thứ ba. Ở một nghĩa hẹp là người trung gian chắp nối người bán và người mua với nhau, hoặc người đó hoạt động như một đại điện cho người này hay cho người kia, tiến hành một giao dịch mua bán và nhận tiền thù lao hoa hồng hay môi giới. Tuy nhiên, ở mộy số trường phái khái niệm này chỉ người mua hoặc người bán gốc, dù cách dùng này xuất phát từ giai đoạn ban đầu của người môi giới thực sự.

Chứng khoán. Người hành động như là đại diện, hay trung gian giữa người mua và người bán, thường tính phí, hay hoa hồng khi thực hiện dịch vụ. Các ngân hàng hoạt động như người môi giới nhân danh khách hàng của họ, phải đăng ký với Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC), và theo hối đoái thực tế khi giao dịch diễn ra. Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 miễn cho một số các hoạt động ngân hàng nhất định khỏi đăng ký với SEC, khi hoạt động như người thụ hưởng, hay người thụ ủy, hoặc mua bán chứng khoán đô thị. Xem DEALER. Thế chấp. Người do tiểu bang cấp phép, hưởng phsi hay hoa hồng, đại diện cho chủ sở hữu tài sản trong các giao dịch bất động sản. Một vài người môi giới thay mặt người vay trong việc dàn xếp tài trợ thế chấp và thương lượng các điều khoản kinh doanh.

Bridge Loan / Interim Financing / Gap Financing / Swing Loan / Nợ Tạm Thời

Một dạng nợ ngắn hạn được sử dụng cho tới khi một người hoặc một công ty đạt được đủ điều kiện vay dài hạn hoặc khi đã trả hết được những khoản nợ đang mắc. Hình thức cung cấp tài chính này cho phép người vay dùng tiền mặt vay được để trả các khoản nợ trước mắt. Nợ tạm thời cũng giống nợ ngắn hạn (dưới 1 năm) với mức lãi suất tương đối cao và được bảo đảm bằng một số dạng thế chấp như bất động sản hoặc hàng hóa. Thuật ngữ này còn được gọi là interim financing, gap financing, hoặc swing loan. Giống như thuật ngữ mô tả, những khoản vay dạng này là chiếc cầu nối, lấp đầy khoảng trống trong lúc doanh nghiệp đang cần nguồn tài chính mà chưa đạt đủ tiêu chuẩn để được vay. Dạng nợ này được sử dụng bởi cả doanh nghiệp và cá nhân và có thể được linh hoạt sao cho phù hợp với nhiều tình huống khác nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp đang có kế hoạch vay vốn và hy vọng sẽ hoàn thành kế hoạch trong 6 tháng. Nợ tạm thời có thể được sử dụng để bảo toàn vốn lưu động cho đến khi doanh nghiệp bắt đầu được cho vay vốn. Trong trường hợp của một cá nhân, nợ tạm thời rất thường thấy trên thị trường bất động sản. Do thường có độ trễ giữa việc bán một ngôi nhà và việc mua, nợ tạm thời sẽ giúp người chủ sở hữu có thể linh hoạt hơn trong việc mua bán.

BRICs / BRICs

BRICs là thuật ngữ được Trưởng kinh tế Jim O'Neil của Goldman Sachs đưa ra vào năm 2001, nhằm gọi chung cho các nền kinh tế đang nổi đó là Brazil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), và Trung Quốc (China). Thuật ngữ này còn được mở rộng như BRIMC với M dành cho Mexico; BRICK với K dành cho Hàn Quốc (Korea); BRICA với A là các nước Ả rập như Ả rập saudi, Quatar, Kuwait, Bahrain và Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất); và BRICET bao gồm Đông Âu (Eastern Europe) và Thổ Nhĩ Kỳ).

Bretton Woods / Chế Độ Tiền Tệ Bretton Woods

Khu du lịch New Hampshire ở Mỹ, tại đây Hôi nghị tài chính của Liên hợp quốc đã được tổ chức vào năm 1944 để thảo luận vấn đề thanh toán quốc tế sau chiến tranh.Hội nghị Bretton Woods diễn ra ở Bretton Woods-New Hamshire-Mỹ năm 1944, thống nhất mức tỷ giá cố định cho các đồng tiền chính và cho phép ngân hàng trung ương được can thiệp vào thị trường tiền tệ. Chế độ Bretton Woods quy định một ounce vàng có giá 35 đôla. Chế độ này tồn tại trong vòng gần 30 năm sau đó sụp đổ (1945-1971).

Break-Even Analysis / Phân Tích Điểm Hoà Vốn

Chi phí để sản xuất một hàng hoá có thể chia thành hai phần chính: CHI PHÍ CỐ ĐỊNH và CHI PHÍ KHẢ BIẾN. từ quan điểm của người kế toán về chi phí, số lượng doanh thu tại điểm hoà vốn là số lượng đảm bảo rằng tất cả chi phí cố định và khả biến đều được trang trải ở mức giá bán cụ thể.

Đây là một phân tích để xác định điểm mà doanh thu nhận được bằng với chi phí liên quan đến việc ghi nhận doanh thu. Phân tích điểm hòa vốn tính toán những gì được gọi là biên an toàn, khoản mà doanh thu vượt quá điểm hòa vốn. Đây là khoản mà doanh thu có thể giảm trong khi vẫn ở trên điểm hòa vốn. Phân tích điểm hòa vốn là phân tích phía cung; nghĩa là, chỉ phân tích chi phí bán hàng. Nó không phân tích cách mà cầu có thể bị ảnh hưởng tại các mức giá khác nhau. Ví dụ, nếu chi phí 50 đô la để sản xuất một phụ tùng và có chi phí cố định là 1.000 đô la, điểm hòa vốn cho việc bán các phụ tùng này sẽ là: Nếu bán với giá 100 đô la cho 20 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (100-50) = 20) Nếu bán với giá $ 200 cho 7 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (200-50) = 6,7) Trong ví dụ này, nếu ai đó bán sản phẩm với một giá cao hơn, điểm hòa vốn sẽ đến nhanh hơn. Những gì phân tích không cho thấy là có thể dễ dàng bán 20 phụ tùng tại giá 100 đô la mỗi phụ tùng, hơn 7 phụ tùng tại giá 200 đô la mỗi phụ tùng. Một phân tích về phía cầu sẽ cung cấp cho người bán thông tin đó.

Đây là một phân tích để xác định điểm mà doanh thu nhận được bằng với chi phí liên quan đến việc ghi nhận doanh thu. Phân tích điểm hòa vốn tính toán những gì được gọi là biên an toàn, khoản mà doanh thu vượt quá điểm hòa vốn. Đây là khoản mà doanh thu có thể giảm trong khi vẫn ở trên điểm hòa vốn. Phân tích điểm hòa vốn là phân tích phía cung; nghĩa là, chỉ phân tích chi phí bán hàng. Nó không phân tích cách mà cầu có thể bị ảnh hưởng tại các mức giá khác nhau. Ví dụ, nếu chi phí 50 đô la để sản xuất một phụ tùng và có chi phí cố định là 1.000 đô la, điểm hòa vốn cho việc bán các phụ tùng này sẽ là: Nếu bán với giá 100 đô la cho 20 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (100-50) = 20) Nếu bán với giá $ 200 cho 7 phụ tùng (Được tính bằng 1000 / (200-50) = 6,7) Trong ví dụ này, nếu ai đó bán sản phẩm với một giá cao hơn, điểm hòa vốn sẽ đến nhanh hơn. Những gì phân tích không cho thấy là có thể dễ dàng bán 20 phụ tùng tại giá 100 đô la mỗi phụ tùng, hơn 7 phụ tùng tại giá 200 đô la mỗi phụ tùng. Một phân tích về phía cầu sẽ cung cấp cho người bán thông tin đó.

Break Even Point / Điểm Hòa Vốn

Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó Tổng doanh thu bằng Tổng chi phí. Hay nói cách khác thì tại điểm hòa vốn, doanh nghiệp bắt đầu thu được lợi nhuận. Xác định điểm hòa vốn nhằm: Thiết lập một mức giá hợp lý Đạt mục tiêu hiệu quả nhất trong khi kết hợp giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi. Để xác định thu hút và phân bổ tài chính trong các chiến lược khác nhau trong doanh nghiệp. Được sử dụng trong phân tích tính hiệu quả của dự án kinh doanh. Công thức tính: Q = FC / (Po - Vc) Trong đó: Q: Là sản lượng hòa vốn Fc: Chi phí cố định Vc: Chi phí biến đổi trên mỗi đơn vị sản phẩm. Po: Giá sản phẩm. Sơ đồ:     Ví dụ: Doanh nghiệp A sản xuất bóng đèn, chi phí cố định là 10 000$. Chi phí biến đổi trên mỗi sản phẩm là 10$. Giá bán mỗi sản phẩm trên thị trường là 30$. Vậy doanh nghiệp đạt điểm hòa vốn tại mức sản lượng là:Q = 10 000 / ( 30 - 10) = 5 000 ( bóng đèn)

Branding / Xây Dựng Thương Hiệu

Xây dựng thương hiệu là quá trình lựa chọn và kết hợp các thuộc tính hữu hình cũng như vô hình với mục đích để khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ hoặc tập đoàn một cách thức thú vị, có ý nghĩa và hấp dẫn. Để có thể xây dựng thương hiệu phát triển bền vững trong dài hạn, các doanh nghiệp có thể tham khảo năm bước sau: (1) Xác định cấu trúc nền móng thương hiệu; (2) Định vị thương hiệu; (3) Xây dựng chiến lược thương hiệu; (4) Xây dựng chiến lược truyền thông; (5) Đo lường và hiệu chỉnh.   Bước 1: Xác định cấu trúc nền móng của thương hiệu.Đây là bước quan trọng nhất của việc xây dựng thương hiệu vì nếu xây dựng sai lầm nền móng thì khó có thể điều chỉnh sau này. Các chất liệu cơ bản để xây dựng nền móng bao gồm:  Các nhận biết cơ bản của thương hiệu: là logo, màu sắc, đặc điểm nhận dạng giúp thương hiệu đó khác biệt với thương hiệu khác.  Các lợi ích thương hiệu: là lợi ích thực tính lợi ích cảm tính và lợi ích cảm xúc của thương hiệu đó mang lại cho người tiêu dùng.  Niềm tin thương hiệu-niềm tin nào chứng tỏ rằng thương hiệu sẽ mang lại lợi ích cho người dùng. Tính cách thương hiệu: Nếu thương hiệu đó biến thành người thì người đó sẽ như thế nào, tính cách người đó ra sao? Tinh chất thương hiệu là tóm tắt yếu tố tạo sự khác biệt và đặc trưng, thường được sử như câu slogan của thương hiệu  Bước 2: Định vị thương hiệu Xác định vị trí của thương hiệu trong “não” của người tiêu dùng (người tiêu dùng sẽ nhớ gì về thương hiệu đó). Tại sao phải định vị? Hàng ngày hàng giờ, người tiêu dùng tiếp nhận hàng núi thông tin, quá tải với trí nhớ của họ nên không thể nhớ được hết các thông tin thu nhận. Họ chỉ có thể nhớ những gì rõ ràng, đơn giản và khác biệt. Nếu thương hiệu không được xác định rõ nằm ở đâu trong não người dùng thì họ không bao giờ nhớ được thương hiệu đó. Định vị thương hiệu nhằm truyền thông tinh chất của thương hiệu một cách đồng nhất trên mọi phương tiện truyền thông từ đó xây dựng tài sản của thương hiệu Bước 3: Xây dựng chiến lược thương hiệu Sau khi đã định vị được thương hiệu, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược thương hiệu trong dài hạn (3 năm trở lên)bao gồm: Mục tiêu của thương hiệu trong từng năm Mức chi tiêu cho khuếch trương thương hiệu trong từng năm. Kế hoạch tung sản phẩm mới theo từng năm.   …vv      Bước 4: Xây dựng chiến dịch truyền thông  Sau khi đồng ý chiến lược về thương hiệu, người quản lý thương hiệu dựa trên ngân sách của năm thứ nhất để lên kế hoạch truyền thông cho cả năm.  Kế hoạch bao gồm tháng nào tiêu bao nhiêu tiền, quảng cáo thông điệp nào, trên các kênh nào…vv. Bước 5: Đo lường và hiệu chỉnh kế hoạch truyền thông Sau mỗi giai đoạn truyền thông, cần có sự đo lường hiệu quả của chiến dịch truyền thông để có sự hiệu chỉnh kịp thời.  Các thông tin thường phải được thu thập bao gồm: Có bao nhiêu % người biết thương hiệu?  Họ nhớ được những yếu tố nào của thương hiệu đó? Họ có mối liên hệ/nhận xét về thương hiệu đó thế nào? Có bao nhiêu % người dùng thử thương hiệu đó? Có bao nhiêu % người tiếp tục dùng sau lần dùng thử? Có bao nhiêu % người giới thiệu cho người khác về thương hiệu?

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55