Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Buyer Concentration / Sự Tập Trung Người Mua

Để chỉ mức độ mà tổng giao dịch trên một thị trường bị thống trị bởi một vài người mua lớn nhất.

Buydown / Tiền Tạm Ứng

Tiền thường được ứng trước bởi nhà xây dựng, nhằm giảm khoản chi trả hàng tháng của người vay trong những năm đầu của khoản vay thế chấp, dưới mức yêu cầu khấu trừ thông thường. Việc ứng trước tiền hầu như phổ biến trong các thời kỳ lãi suát cao, khi những người mua nhà tiềm năng có thể không đủ tiêu chuẩn cho khoản vay thế chấp. Ngược với mua trọn gói nhằm giảm tiền trả trước cho khoản vay nhưng đổi lấy tiền lãi cao hơn và chi trả hàng tháng cao hơn.

Buyback / Mua Lại

1. Trong việc tái cấu trúc nợ nước ngoài, bản thỏa thuận bởi quốc gia nợ mua khoản vay hiện hành từ các ngân hàng chủ nợ theo giá thị trường hợp lý. Vốn để mua khoản vay chưa trả, thường có chiết khấu cao so mệnh giá hay sổ sách, đến từ các nguồn khác nhau: lợi nhuận xuất khẩu, du lịch và tiền vay trực tiếp hay viện trợ từ quỹ tiền tệ quốc tế và các cơ quan tín dụng quốc tế khác.  2. Đề nghị của một công ty cổ phần mua lại cổ phiếu của chính nó từ các cổ đông, được thực hiện nhằm nâng giá cổ phiếu hay loại bỏ sự thôn tính của đối thủ. 3. Hợp đồng mua lại.

Trong việc tái cấu trúc nợ nước ngoài, bản thỏa thuận bởi quốc gia nợ mua khoản vay hiện hành từ các ngân hàng chủ nợ theo giá thị trường hợp lý. Vốn để mua khoản vay chưa trả, thường có chiết khấu cao so mệnh giá hay giá sổ sách, đến từ các nguồn khác nhau: lợi nhuận xuất khẩu, du lịch, và tiền vay trực tiếp hay viện trợ từ quỹ tiền tệ quốc tế và các cơ quan tín dụng quốc tế khác. Đề nghị của một công ty cổ phần mua lại cổ phiếu của chính nó từ các cổ đông, được thực hiện nhằm nâng giá cổ phiếu hay loại bỏ sự thôn tính của đối thủ. Hợp đồng mua lại.

Buy In / Mua Vào

1. Các hợp đồng kỳ hạn. Trang trải vị thế ngắn trong thị trường hợp đòng kỳ hạn bằng cách mua vị thế dài bù trừ, hoặc đảm nhận phân phối chứng khoán hay hàng hóa. 2. Chứng khoán. Quá trình theo đó ngân hàng giao dịch hay môi giới chứng khoán sau khi mua chứng khoán mà nhà môi giới bán không thể phân phối, hoàn tất giao dịch với nguồn khác theo giá thị trường hiện tại, và tính phí chênh lệch cho nhà môi giới ban đầu.

Buy And Hold / Chiến Lược Mua Và Nắm Giữ

Đây là một chiến lược đầu tư trong đó các nhà đầu tư tiến hành mua chứng khoán và nắm giữ các chứng khoán đó trong thời gian dài, bất chấp những biến động trên thị trường. Một nhà đầu tư sử dụng chiến lược mua và nắm giữ thường chủ động lựa chọn các chứng khoán để đầu tư, nhưng khi đã đầu tư thì họ không quan tâm nhiều đến các biến động giá cả ngắn hạn hay các chỉ số kĩ thuật. Chiến lược đầu tư dài hạn này chủ yếu dựa trên lý thuyết các thị trường tài chính có bề dày hoạt động sẽ mang lại mức sinh lợi tốt cho dù vẫn có những biến động và sụt giảm theo chu kì. Tuy nhiên nhiều người theo lý thuyết này cho rằng việc xác định thời điểm của thị trường tức là việc chọn thời điểm mức giá thấp để mua vào và lựa lúc giá cao để bán ra sẽ không đúng với các nhà đầu tư nhỏ lẻ.   Theo các quan điểm đầu tư truyền thống thì xét trong dài hạn các cổ phiếu có khả năng sinh lợi tốt hơn các lớp tài sản tài chính khác, ví dụ như trái phiếu. Nhưng vẫn có nhiều tranh cãi quanh vấn đề là liệu chiến lược mua và nắm giữ có thật sự ưu việt hơn chiến lược đầu tư năng động hay không. Chiến lược mua và nắm giữ sẽ tận dụng được các thuận lợi liên quan đến thuế vì các đầu tư dài hạn có xu hướng bị áp mức thuế thấp hơn đầu tư ngắn hạn. Đối lập với chiến lược mua và nắm giữ là chiến lược giao dịch nội ngày (day trading) trong đó các nhà đầu tư có thể kiếm được khoản lời ngay trong ngày bằng cáchbán khống, vay chứng khoán để bán khi giá cao sau đó chờ giá giảm, mua chứng khoán để trả lại, sự chênh lệch mức giá trong ngày càng lớn thì lượng tiền có thể kiếm được càng nhiều. Một trong những lập luận phản đối lại chiến lược mua và nắm giữ đó là dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH): nếu tất cả các chứng khoán đều được định giá đúng đắn tại mọi thời điểm, tức là giá cả phản ánh đúng giá trị thật của chứng khoán đó thì các nhà đầu tư sẽ hiếm có cơ hội để sử dụng chiến lược này. Thông thường, có hai trường hợp mà bạn có thể áp dụng chiến lược mua và nắm giữ, đó là: Qua thời gian, giá trị của các tài sản mà bạn nắm giữ hay các tài sản thuê mướn sẽ tăng lên do tác động trực tiếp của lạm phát. Qua thời gian các khoản cầm cố, đặt cọc và khoản phải trả sẽ giảm đi do tác động của giảm phát. Nhiều người ủng hộ chiến lược mua và nắm giữ đơn giản chỉ dựa trên cơ sở về chi phí, hoàn toàn không cần xét đến sự tồn tại của thuyết thị trường hiệu quả, và họ cũng cho rằng thị trường hiệu quả chỉ tồn tại trên lý thuyết. Thực tế là rất nhiều nhà đầu tư tuân theo chiến lược này và cũng đã thành công, điển hình như Warren Buffett. Chỉ cần quan tâm tới các khoản chi phí như chi phí môi giới, hay mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán trong các giao dịch, tiến hành mua và bán với số giao dịch thấp nhất để giảm thiểu chi phí.

Business Strategy / Chiến Lược Kinh Doanh

Theo tập đoàn tư vấn Boston:Chiến lược kinh doanh là những xác định sự phân bổ nguồn lực sẵn có với mục đích làm thay đổi thế cân bằng cạnh tranh & chuyển lợi thế về phía mình. còn theo Michael Porter-giáo sư chiến lược hàng đầu của Havard thì: Chiến lược kinh doanh để đương đầu với cạnh tranh là sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và những phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để đạt tới mục tiêu. Có thể chia chiến lược theo các cấp độ: Tầm nhìn chiến lược (Vision) Sứ mệnh chiến lược (Mission) Mục tiêu chiến lược (Objective/Goal) Chia chiến lược theo thời gian: Chiến lược ngắn hạn (2-3 năm thường là những chiến lược chức năng) Chiến lược trung hạn (5-10 năm, là các chiến lược khá quan trọng bao gồm nhiều hoạt động, dự án) Chiến lược dài hạn (Từ 10 năm trở đi, chiến lược trở thành một định hướng, dự báo cho doanh nghiệp trong tương lai) Chiến lược chia theo chức năng Chiến lược bộ phận (Chiến lược Marketing, nhân sự, bán hàng...) Chiến lược bộ phận kinh doanh (Ngành 1, ngành 2, ngành 3) Chiến lược tổng thể (Chiến lược cho toàn thể doanh nghiệp, tập đoàn)

Business Intelligence / Thông Minh Kinh Doanh

Thông minh kinh doanh bao gồm thông tin, kiến thức và công nghệ - những yếu tố cực kì cần thiết đối với hoạt động của một tổ chức hay cá nhân. Theo cách hiểu này, thông minh kinh doanh là một tập hợp rộng lớn các ứng dụng và công nghệ dùng để thu thập thông tin, tìm ra hướng đi và phân tích dữ liệu giúp cho doanh nghiệp ra các quyết định kinh doanh khôn ngoan. Thuật ngữ nói lên tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Yêu cầu doanh nghiệp phải bao quát được tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của mình, bao gồm khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đối tác, môi trường bên trong và bên ngoài, nhà cung cấp v.v. Mục đích cuối cùng của thông minh kinh doanh là đạt được hiệu quả vể mặt thông tin: thông tin kịp thời, chính xác và hiệu quả. Thông tin tốt như một quả cầu pha lê đưa ra cho bạn các chỉ dẫn để xác định được đâu là việc tốt nhất nên làm. Thông minh kinh doanh cho bạn biết các yếu tố sau: Vị trí của doanh nghiệp và so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Sự thay đổi trong hành vi người tiêu dùng và thói quen tiêu dùng Thị hiếu của người tiêu dùng Năng lực của doanh nghiệp Điều kiện thị trường hiện tại, xu hướng trong tương lai, nhân khẩu học và thông tin khác Môi trường chính trị, xã hội, luật pháp Hoạt động của đối thủ trên thị trường Sau đó doanh nghiệp sẽ chọn lọc thông tin và đưa ra các điều chỉnh. Trong môi trường kinh doanh đầy biến động và cạnh tranh, thông minh thị trường sẽ đem đến cho doanh nghiệp các thông tin kịp thời từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh giúp doanh nghiệp bắt kịp với thị trường. Các yếu tố ảnh hưởng thông minh thị trường: Khách hàng Đối thủ cạnh tranh Đối tác của doanh nghiệp Môi trường bên ngoài Môi trường bên trong

Business Cycle In Economic Terms / Chu Kỳ Kinh Doanh Trong Kinh Tế Học

Khi nghiên cứu các mô hình kinh tế, các nhà kinh tế luôn hướng tới việc tìm hiểu cơ chế dẫn đến các trạng thái cân bằng, đặc biệt trong dài hạn. Trên thực tế, nền kinh tế luôn bị các biến động làm đi chệch khỏi cân bằng dài hạn, gọi là các sốc (shock). Các sốc này có thể tác động rất lâu dài, hoặc rất chóng vánh, có thể dự kiến được hay hoàn toàn bất ngờ. Tùy vào loại sốc, mà dưới tác động của nó nền kinh tế có thể vẫn ở nguyên vị trí cân bằng hay bị dịch chuyển sang trạng thái khác. Quá trình điều chỉnh của nền kinh tế để trở về trạng thái cân bằng có thể nhanh hoặc chậm. Hành trình nền kinh tế khi chịu tác động của sốc, dịch chuyển trở lại vị trí cân bằng được gọi là "chu kỳ kinh doanh", mặc dù trên thực tế, hành trình này có vẻ không giống như các loại chu kỳ chúng ta thường gặp. Ý nghĩa của nó như sau. Cho dù nền kinh tế không ở trạng thái cân bằng khi hành trình điều chỉnh đang diễn ra, nhưng các nhà kinh tế cho rằng nền kinh tế sẽ "ứng xử" một cách tối ưu trong chu kỳ kinh doanh đó, để hướng tới trạng thái cân bằng dài hạn. Trên thực tế, chu kỳ kinh doanh là một dãy các trạng thái nền kinh tế đi qua, được gọi là dãy các điểm cân bằng tạm thời, và người ta xem mỗi điểm cân bằng tạm thời đó là trạng thái tối ưu tại thời điểm xác định. Dãy các trạng thái này được gọi là một mô hình về cân bằng liên thời. Khái niệm này đặc biệt quan trọng đối với các chính sách kinh tế vĩ mô hiện đại, được xử lý theo phương pháp nghiên cứu DGE, và là một phần thiết yếu của nền tảng cho các chính sách ổn định kinh tế của các chính phủ.

Business Cycle / Chu Kỳ Kinh Doanh

Chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế) là sự biến động của GDP thực tế. Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v... không xảy ra nữa. Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước khi suy thoái. Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vự tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế. Vì thế, chống chu kỳ kinh tế là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp đề ra cũng khác nhau. Theo Keynes, các khoản chi tiêu cho đầu tư (cả đầu tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho) là yếu tố dễ thay đổi. Hiện tượng này được gọi là chu kỳ đầu tư. Tại đỉnh của chu kỳ, thu nhập không tăng thêm nữa và mức đầu tư vào năng lực sản xuất mới đã đủ để thỏa mãn nhu cầu. Điều này làm cho phần đầu tư phái sinh (tức đầu tư do sự thay đổi của thu nhập quốc dân gây ra) giảm. Tại đáy của chu kỳ, đầu tư có thể tăng lên nhờ yếu tố ngoại sinh hoặc do ảnh hưởng của nhu cầu đầu tư thay thế. Trong trường hợp đó, sự gia tăng nhu cầu đầu tư làm tăng sản lượng và nhờ tác động tích cực của nhân tử, mức đầu tư phái sinh cũng tăng lên. Do vậy, khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt.

Chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế) là sự biến động của GDP thực tế. Trước đây sự biến động này diễn ra theo trình tự bốn pha lần lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi, và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp lan tràn, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v... không xảy ra nữa. Vì thế toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước khi suy thoái. Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh doanh của khu vự tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường biến động theo chu kỳ kinh tế. Vì thế, chống chu kỳ kinh tế là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp đề ra cũng khác nhau. Theo Keynes, các khoản chi tiêu cho đầu tư (cả đầu tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho) là yếu tố dễ thay đổi. Hiện tượng này được gọi là chu kỳ đầu tư. Tại đỉnh của chu kỳ, thu nhập không tăng thêm nữa và mức đầu tư vào năng lực sản xuất mới đã đủ để thỏa mãn nhu cầu. Điều này làm cho phần đầu tư phái sinh (tức đầu tư do sự thay đổi của thu nhập quốc dân gây ra) giảm. Tại đáy của chu kỳ, đầu tư có thể tăng lên nhờ yếu tố ngoại sinh hoặc do ảnh hưởng của nhu cầu đầu tư thay thế. Trong trường hợp đó, sự gia tăng nhu cầu đầu tư làm tăng sản lượng và nhờ tác động tích cực của nhân tử, mức đầu tư phái sinh cũng tăng lên. Do vậy, khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt.

Sự tái hiện lại và sự biến động của các hoạt động kinh tế mà một nền kinh tế trải qua một thời gian dài. Năm giai đoạn của chu kỳ kinh doanh là tăng trưởng (mở rộng), cao điểm, suy thoái kinh tế (thu hẹp), đáy và phục hồi. Tại một thời điểm, chu kỳ kinh doanh được cho là rất bình thường, với thời gian dự đoán được, nhưng ngày nay chúng được nhiều người cho là bất thường, thay đổi về tần số, cường độ và thời gian. Kể từ chiến tranh thế giới II, hầu hết chu kỳ kinh doanh đã kéo dài từ 3 đến 5 năm kể từ đỉnh cao của một chu kỳ đến đỉnh điểm của chu kỳ tiếp theo. Thời gian trung bình của giai đoạn mở rộng là 44,8 tháng và thời gian trung bình của một cuộc suy thoái là 11 tháng. So với điều này, cuộc Đại khủng hoảng – tại đó diễn ra một sự suy giảm trong hoạt động kinh tế 1929-1933 - kéo dài 43 tháng.

Business Communication / Truyền Thông Kinh Doanh

Truyền thông kinh doanh là toàn bộ những biện pháp thông tin sử dụng để phát triển một sản phẩm, dịch vụ hoặc tổ chức - với mục tiêu cuối cùng là bán hàng. Truyền thông kinh doanh bao gồm một loạt những kiến thức trong nhiều lĩnh vực: marketing, phát triển thương hiệu, quan hệ khách hàng, hành vi người tiêu dùng, quảng cáo, quan hệ công chúng, quan hệ truyền thông, truyền thông doanh nghiệp, gắn kết cộng đồng, nghiên cứu và đo đạc, quản trị danh tiếng, truyền thông cá nhân, gắn kết người lao động, truyền thông trực tuyến và quản trị sự kiện. Dù ở lĩnh vực nào đi nữa, mục tiêu vẫn là bán hàng. Thông điệp truyền thông kinh doanh được truyền bá trên một loạt các phương tiện truyền thông: Internet, ấn phẩm (xuất bản), radio, TV, cộng đồng, nơi công cộng và lời nói. Truyền thông nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp: Truyền thông nội bộ bao gồm việc truyền bá thông tin liên quan tới tầm nhìn, chiến lược, kế hoạch, văn hóa, những giá trị chung và những qui định, hướng dẫn, khuyến khích nhân viên, trao đổi ý tưởng, v.v... trong nội bộ doanh nghiệp, Những lợi ích của truyền thông kinh doanh hiệu quả: Lường trước các vấn đề. Hỗ trợ ra quyết định. Điều phối luồng công việc. Giám sát nhân viên. Phát triển các quan hệ. Quản trị tri thức, ý tưởng và độ sáng tạo. Tạo ra tầm nhìn rõ ràng và tiếp năng lượng cho nhân viên. Quảng bá sản phẩm dịch vụ. Một trong những tổ chức hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực này là Hiệp hội Truyền thông Kinh doanh (Association for Business Communication - ABC). Đây là một tổ chức học thuật thuần túy, cấp học bổng, nghiên cứu và thực hành truyền thông kinh doanh.

Bureaux / Văn Phòng

Trong HỌC THUYẾT KINH TẾ VỀ SỰ QUAN LIÊU, những tổ chức phi lợi nhuận được tài trợ, ít nhất một phần từ trợ cấp định kỳ và cung ứng một tổng sản lượng để đổi lấy một ngân sách chứ không phải những đơn vị sản phẩm theo giá.

Bureaucracy, Economic Theory Of / Lý Thuyết Kinh Tế Về Hệ Thống Công Chức

Mô hình này giả định rằng các cơ quan nhà nước sẽ cư xử như những tác nhân tối đa hoá ngân sách. Ngân sách lớn hơn cho phép các công chức thoả mãn ý thích của mình về lương, chức tước, bảo đảm việc làm và những lợi ích phi tiền tệ như quyền lực, danh tiếng và cơ hội phân bổ các hợp đồng.

Bundesbank / Ngân Hàng Trung Ương Liên Bang Đức

Deutsche Bundesbank là ngân hàng Trung ương Liên bang Đức, là một thành viên của Hệ thống Ngân hàng Châu Âu.

Bulls / Người Đầu Cơ Giá Lên

Các cá nhân tin rằng chứng khoán hoặc trái khoán sẽ tăng giá và do đó mua chúng và hy vọng có thể bán với giá cao hơn sau đó. Người đầu cơ giá xuống gọi là NGƯỜI BÁN KHỐNG.

Bullion / Thỏi Vàng

Vàng hay các kim loại quý dạng thanh hay tiền đồng. Các trung tâm mua bán vàng lớn là Luân Đôn và Zurich, cùng với trung tâm mua bán các hợp đồng vàng kỳ hạn đặt tại New York. Dự trữ tiền của các Ngân hàng trung ương hầu hết lưu trữ các thỏi vàng. Xem EARMARKED RESERVES; GOLD FIX.

Bullet Payment/ Balloon Payment/ Bullet Repayment / Trả Một Lần

Một khoản nợ được trả đúng một lần vào lúc đáo hạn. Trong khoảng thời gian khoản nợ được vay, tiền lãi được trả theo từng đợt như thỏa thuận. Ngoài cách trả một lần, các khoản nợ còn được trả dần.

Bull Trap / Bẫy Tăng Giá

Bẫy tăng giá (bull trap) trong xu hướng thị trường đi xuống (downtrend) là một tín hiệu giả cho thấy dường như chứng khoán đang có dấu hiệu đảo chiều, bắt đầu tăng giá (bull) sau một đợt sụt giảm (decline). Nhưng thực tế, chứng khoán lại quay trở lại xu thế giảm sau tín hiệu phục hồi đó. Nó như một cái bẫy (trap) đánh lừa nhà đầu tư mua vào vì họ nghĩ rằng chứng khoán đã đi lên. Bẫy tăng giá thường được một số nhà đầu tư lớn giăng ra khi họ muốn tiếp tục mua cổ phiếu với giá hời hoặc khi họ thực hiện giao dịch bán khống. Loại bẫy này rất nguy hiểm đối với các nhà đầu tư ngắn hạn, thích nhảy sóng.Bulltrap ngược lại với beartrap.

Bull Spread / Chênh Lệch Theo Chiều Lên

Chiến lược mua bán trong đó thương nhân mua các hợp đồng với các tháng gần (vị thế dài) và bán các hợp đồng theo tháng trong tương lai (vị thế ngắn), mong nhận được lợi nhuận nếu giá tăng. Cũng được gọi mua chênh lệch (buy a spread). Đối nghĩa là chênh lệch do đầu cơ giá xuống.

Bull Note / Trái Phiếu Theo Chiều Lên

Trái phiếu có bảo hộ giá Tại Anh, trái phiếu có kèm hợp đồng option bảo hộ giá. Trị giá trái phiếu dựa trên chỉ số tài chính hay giá hàng hoá vào thời điểm thu hồi. Trị giá thu hồi của loại trái phiếu này cao hơn vốn nếu giá cơ bản (reference price - giá tham khảo) tăng nhưng thấp hơn vốn nếu giá cơ bản giảm.

Bull Market / Thị Trường Theo Chiều Giá Lên - Bull Market

Bull market: thị trường theo chiều giá lên, là dạng thị trường tài chính mà giá các loại chứng khoán (chủ yếu là cổ phiếu) tăng nhanh hơn mức bình quân trong lịch sử của chúng, trong một thời gian dài (vài tháng) với lượng mua bán lớn . Có giả thuyết cho rằng người ta ví thị trường giá lên với hình ảnh con bò (bull) là do cách thức tấn công của loài thú này, hất cặp sừng sắc nhọn từ dưới lên trên. Thuật ngữ này thông thường được dùng để mô tả tổng thể cả thị trường và các dự đoán về xu hướng thị trường (market trend), song đôi khi nó còn được sử dụng để nói về một loại chứng khoán riêng nào đó, một mặt hàng hay cũng có thể là một ngành. Về mặt cung-cầu mà nói, khi thị trường được coi là theo chiều giá lên thì rất nhiều nhà đầu tư muốn mua cổ phiếu vào trong khi rất ít người muốn bán ra, kết quả là giá cổ phiếu càng bị đẩy lên cao. Giai đoạn thị trường giá lên nổi tiếng nhất và kéo dài nhất trong lịch sử chính là thập niên 90 của thế kỉ 20 khi mà thị trường tài chính Mỹ và một số thị trường tài chính toàn cầu khác tăng trưởng với tốc độ chưa từng có.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55