Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bilateral Credit Limit / Giới Hạn Tín Dụng Song Phương

Bản thoản thuận của các ngân hàng thành viên trong hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng (CHIPS) tại New York, nhằm giới hạn khoản thanh toán mà họ sẵn lòng chấp nhận lẫn nhau ở mức thỏa thuận. Điều này giới hạn rủi ro tín dụng trong ngày khi họ ủy quyền thanh toán cho các thành viên CHIPS khác, nhưng vẫn chưa thu được tiền từ các ngân hàng khác nhằm bảo lãnh những vụ chuyển tiền đó.  Trong hệ thống CHIPS, các khoản thanh toán trong ngày trả hoặc nhận tiền từ mỗi ngân hàng, được thanh toán trên cơ sở con số ròng vào lúc 4:30 chiều hàng ngày, và cho đến khi thanh toán số lượng ròng, các ngân hàng chịu rủi ro nếu ngân hàng khác, vì lý do nào đó không có khả năng đáp ứng nợ với các ngân hàng khác trong mạng lưới.  Xem SENDER NET DEBIT CAP; SYSTEMIC RISK; DAYLIGHT OVERDRAFT.

Giới hạn tín dụng trong ngày được thiết lập bởi hai tổ chức để sử dụng cho nhau, thường là trong một hệ thống thanh toán bù trừ lớn hoạt động bằng cách tạo ra số tiền do và do các tổ chức của các thành viên khác trên cơ sở hàng ngày. Trong cộng đồng ngân hàng, hệ thống thanh toán bù trừ nổi tiếng nhất sử dụng lưới làm cơ chế thanh toán là Hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng (CHIPS) tại Hoa Kỳ. Mục đích của giới hạn tín dụng song phương là giảm rủi ro tín dụng của từng tổ chức thành viên khác và để đảm bảo sự ổn định của hệ thống thanh toán nói chung trong trường hợp một tổ chức không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngoài các giới hạn tín dụng song phương, các hệ thống thanh toán thường có các giới hạn tín dụng tổng hợp, giới hạn nghĩa vụ trong ngày của một tổ chức đối với tất cả các thành viên của hệ thống. Một hệ thống thanh toán lớn khác, Fedwire, cũng sử dụng các giới hạn tín dụng, mặc dù thanh toán của nó được gọi là quyết toán tổng tức thời, thay vì thanh toán ròng.

Big Bang / Bùng Nổ Cải Cách

Sự bãi bỏ đột ngột các quy định thị trường tài chính. Ví dụ tốt nhất là "bùng nổ cải cách" Luân đôn năm 1986, được coi như là bước nhảy vọt hướng đến thị trường tài chính thế giới đơn nhất. Nó loại bỏ các hoa hồng môi giới có lãi suất cố định và giới hạn quyền sở hữu trên các công ty ngoài nước Anh.

Bid Wanted (BW) / Giá Đấu Thầu

Cho thấy chủ sở hữu chứng khoán hay công cụ tài chính đang kiếm tìm giá đấu thầu bởi những người mua quan tâm, thường khi giá đang lên. Giá thanh toán sẽ được lương sau này. Các người bán là những người mua tiềm năng các chứng khoán, thường yêu cầu người môi giới trái phiếu chỉ thương lượng với người đặt mua, thay vì thương lượng với công chúng, nhằm tìm kiếm giá đấu thầu từ người đặt mua. Niêm yết giá đấu thầu được ký bởi công chứng viên BW trong các bảng giá thị trường phát hành.

Bid And Asked / Giá Chào Mua Và Giá Chào Bán

Phạm vi giá được niêm yết trong thị trường OTC, giá chào mua là giá cao nhất mà người mua sẵn lòng trả; giá chào bán là giá bán của người sở hữu. Khi kết hợp, cả hai giá là yết giá (quotation) của một người môi giới.

Bid / Đấu Giá

Giá mà các thành viên thị trường sẵn lòng mua chứng kóoán, các hợp đồng giao sau, hay ngoại tệ. Nói cách khác giá đấu là giá cao nhất, mà người mua sau này sẵn lòng trả tại một thời điểm nhất định. Sự khác biệt giữa giá đấu và giá chào bán (giá thấp nhât mà người bán sẽ chấp nhận) là chênh lệch (spread), là hoa hồng của người bán trong việc mua và bán chứng khoán. Xem COMPETITIVE BID; NONCOMPETITIVE BID; QUOTATION.  Chào bán để mua lại một ngân hàng thua lỗ tại cuộc đấu thầu của người thanh lý.

Bias / Thiên Lệch

Quan điểm của Dự trữ Liên bang có liên quan lãi suất. Thiên lệch lãi suất cao hơn nghĩa là ủy ban thị trường mở liên bang, ủy ban điều chỉnh lãi suất của Fed, có thể nâng lãi suất mục tiêu quỹ liên bang trong cuộc họp tới.

Best Effort / Nỗ Lực Hết Sức

Đội ngũ bảo lãnh phát hành chứng khoán theo kiểu một đại diện thường có liên quan đến việc chào bán chứng khoán mới. Người phân phối chứng khoán chào bán có thế chấp nhằm bán càng nhiều càng tốt, nhưng không bảo đảm cho việc mua toàn bộ chứng khoán từ công ty phát hành. Thực tế, có thể đồng ý bán chỉ một phần chứng khoán chào bán, miễn là doanh số đáp ứng quy định đăng ký tối thiểu của công ty phát hành.  Ví dụ, nếu chỉ 3/5 chứng khoán chào bán được bán ra thực sự, thì người bảo lãnh phát hành nhận được phân chia theo tỷ lệ tổng hoa hồng và không nợ gì công ty phát hành. Bảo lãnh phát hành nỗ lực tốt nhất thường thấy trong thị trường OTC đối với các chứng khoán chào bán công chúng lần đầu (IPO) bởi các công ty và định chế tài chính mới có giấy phép, trái với các công ty đã hoạt động. Trong việc bảo lãnh phát hành cam kết chắc chắn, người bảo lãnh phát hành lập cam kết mua toàn bộ chứng khoán chào bán như người chủ đại lý khi chào bán chứng khoán ra công chúng, và người bảo lãnh phát hành hay nhóm hỗ trợ đầu tư chịu hoàn toàn mọi rủi ro phát sinh.

Bequest / Di Sản

Quà tặng là tài sản cá nhân theo di chúc, đồng nghĩa với tài sản kế thừa. Quà tặng là bất động sản được gọi là bất động sản di sản (devise).

Quà tặng là tài sản cá nhân theo di chúc, đồng nghĩa với tài sản kế thừa. Quà tặng là bất động sản được gọi là bất động sản di sản (devise).

Belt And Suspenders / Quá Đa Nghi

Thành ngữ tiếng lóng chỉ người cho vay quá cẩn trọng, là người chịu trách nhiệm bảo lãnh thế chấp cộng với cá nhân từ người vay. Nó cũng đề cập đến người cho vay theo dõi các hợp đồng về tiền vay trong thư, nêu rằng "một khi đã nghi ngờ, hãy báo cáo" nghĩa là quyền giữ thế chấp mới được lập hồ sơ vào lúc có cơ hội gần nhất.

Belly Up / Phá Sản

Thành ngữ lóng đối với một người vay, công ty, hay dự án phát triển sụp đổ, và không thể trả nợ cho chủ nợ. Một ngân hàng hay định chế tiết kiệm không có khả năng thanh toán, đặc biệt là định chế tài chính bị đóng cửa bởi cơ quan điều phối tài chính, được gọi là "phá sản".

Một từ lóng được sử dụng để mô tả sự thất bại hoàn toàn và ê chề của một cá nhân, công ty, ngân hàng, dự án phát triển, v.v ... Thuật ngữ phá sản được dùng để mô tả việc một tổ chức tài chính gặp thất bại và bị ép buộc phải đóng cửa bởi các nhà quản lý. Từ điển tiếng Anh Oxford có ghi lại rằng thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên là vào năm 1920 trong một tác phẩm của tiểu thuyết gia John Dos Passos. Trong một cuộc khủng hoảng tài chính trên khắp thành phố New York vào năm 1975, một nhà bình luận của tờ Washington Post đã tuyên bố rằng: "Nếu New York có thể phá sản thì không có lí do gì không đến lượt bất kì thành phố nào khác trên cả nước."

Bearer Book / Báo Cáo Khảo Sát Ý Kiến

Khảo sát của Cục dự trữ Liên bang về các điều kiện kinh doanh địa phương. Báo cáo khảo sát ý kiến được xuất bản tám lần một năm, và được phát hành cho công chúng khoảng hai tuần trước cuộc họp ủy ban thị trường mở liên bang, thiết lập chính sách tiền tệ cho hệ thống Dự trữ Liên bang.

Bearer Squeeze / Sự Can Thiệp Vào Đầu Cơ Giá Xuống

Sự can thiệp chính thức của các ngân hàng trung ương trong thị trường ngoại hối, nhằm buộc kẻ đầu cơ nhanh chóng bán tiền tệ để giữ vị thế của họ, ngăn chặn những kẻ đầu cơ kiếm lợi nhuân nhanh chóng. Nói chung điều này được thực hiện bằng việc đấu giá để mua một đồng tiền địa phương, nhiều hơn số có sẵn trong các thị trường, thường gây ra thiệt hại lớn cho các kẻ đầu cơ tiền tệ.

Sự can thiệp chính thức của các ngân hàng trung ương trong thị trường ngoại hối, nhằm buộc kẻ đầu cơ nhanh chóng bán tiền tệ để giữ vị thế của họ, ngăn chặn những kẻ đầu cơ kiếm lợi nhuân nhanh chóng.. Nói chung điều này được thực hiện bằng việc đấu giá để mua một đồng tiền địa phương, nhiều hơn số có sẵn trong các thị trường, thường gây ra thiệt hại lớn cho các kẻ đầu cơ tiền tệ.

Bear Spread / Chênh Lệch Theo Giá Xuống

Khuynh hướng mua bán trong đó thương nhân bán các hợp đồng (nhanh chóng) ngắn hạn và mua các hợp đồng (lâu) dài hạn, họ tin rằng các lãi suất ngắn hạn đang tăng nhanh hơn các lãi suất dài hạn, và giá thị trường của tiền tệ, công cụ tài chính..., đang giảm. Được gọi là bán hưởng chênh lệch trong trao đổi kỳ hạn. Trong kết hợp mua và bán quyền chọn, đây là sự kết hợp mua và bán quyền chọn để hưởng lợi theo giá xuống. Đối nghĩa là chênh lệc theo giá lên (bull spread).

Bearer Bond / Trái Phiếu Vô Danh

Trái phiếu trả cho người đang nắm giữ, không phải người sở hữu ghi trên sổ sách của ngân hàng hay đại lý phát hành. Những trái phiếu này là các công cụ có thể chuyển nhượng không có ghi tên người sở hữu. Quyền sở hữu được nắm bởi bất cứ ai có trái phiếu và giữ nó. Lãi suất trái phiếu được trả mỗi nửa năm, với trái phiếu lãi có thể tách rời và đưa đến một ngân hàng để nhận tiền giống như chi phiếu . Ngược lại với trái phiếu có ghi danh (registered bond).

Một công cụ có mức thu nhập cố định được sở hữu bởi bất kỳ ai đang nắm giữ nó thay vì người sở hữu có đăng ký trong sổ sách. Trái tức mà đại diện cho lãi phải thanh toán có khả năng được gắn liền với loại chứng khoán này và trách nhiệm của các trái chủ là phải nộp những cuống phiếu để được thanh toán. Cũng tương tự với các trái phiếu ghi danh, các trái phiếu vô danh là công cụ có thể thương lượng theo ngày đáo hạn và lãi suất coupon đã nêu rõ. Các trái phiếu vô danh đang ngày một hiếm trên thị trường hiện nay đặc biệt là tại các nền kinh tế đã phát triển. Trong khi chúng lại khá phổ biến ở rất nhiều nơi trên thế giới (thường là những nơi mà tình trạng nặc danh là một vấn nạn). Thực tế thì có rất ít các biện pháp bảo vệ hay quyền truy đòi cho những người nắm giữ trái phiếu để chống lại các vấn nạn như là trộm cắp mà đã lấy đi khả năng sử dụng của họ trong các thập kỷ gần đây. Hơn thế nữa, hầu hết các công cụ trái khoán thậm chí là còn không được phát hành thêm và chỉ tồn tại dưới ghi nhận bằng hệ thống máy tính của những nhà môi giới hay người quản lý.

Bear Bond / Trái Phiếu Trong Thị Trường Giá Xuống

Trái phiếu được coi có khả năng tăng giá trong thị trường đầu cơ giá hạ, khi lãi suất đang tăng. Trái phiếu thường trả cho nhà đầu tư một dòng tiền mặt cố định bằng đồng dollar và ngày trả, và sẽ tụt giá khi lãi suất tăng. Một số trái phiếu nhất định như trái phiếu chỉ trả lãi (interest - only- IO), hay chứng khoán có thế chấp chỉ trả tiền lãi, có khả năng sẽ tăng giá trị trong thị trường đầu cơ giá hạ, bởi vì khoản trả trước cho các thế chấp cơ sở giảm xuống. Việc giảm khoản trả trước tiền vay, sẽ làm tăng tổng số tiền mặt mà nhà đầu tư kỳ vọng nhận được suốt thời kỳ đầu tư.

Batch Header Record / Sổ Sách Danh Mục Lớn

Bảng định dạng 94 ký tự, địa chỉ ngân hàng để gửi các thanh toán của cơ quan thanh toán bù trừ tự động (ACH). Điều này không giống như mã số chuyển ABA, nếu các thanh toán thông thường được xử lý thông qua một ngân hàng trung gian.  Hồ sơ nhận dạng bất kỳ nhóm tài khoản nào được xử lý như một đơn vị.

Basis Swap / Hoán Đổi Căn Bản

Hợp đồng hoán đổi có liên quan đến hai công cụ tài chính lãi suất thả nổi được ghi cùng các loại tiền tệ, một công cụ neo theo lãi suất tham khảo, và một công cụ gắn vào lãi suất tham khảo thứ hai. Ngược lại với hoán đổi tiền tệ và hoán đổi lãi suất.

Basis Risk / Rủi Ro Cơ Sở

Trong quản lý tài sản - nợ phải trả rủi ro khi thay đổi lãi suất sẽ gây ra nợ tiền gởi chịu lãi, nhằm tái định giá theo lãi suất khác với tài sản chịu lãi, tạo ra sự không tương xứng về tài sản - nợ phải trả. Ví dụ, việc tăng 1% lãi suất trong thị trường tiền tệ 30 ngày có thể làm tăng 0.5% lợi tức trên tiền vay ngân hàng, và tăng trọn 1% lãi suất trả trên các tài khoản tiền gửi tương ứng. Rủi ro cơ sở cũng có nghĩa là rủi ro mà giá của các công cụ tài chính trong thị trường tiền mặt, sẽ phản ứng một cách khác biệt đối với thay đổi lãi suất, so với thay đổi giá cả trên hợp đồng thị trường kỳ hạn.

Là rủi ro mà các khoản đầu tư đang được bù trừ khi thực hiện chiến lược phòng hộ sẽ không trải qua sự biến động giá theo các hướng hoàn toàn trái ngược nhau. Mối tương quan không hoàn hảo này giữa hai khoản đầu tư dẫn đến tiềm năng tạo ra thêm các khoản lãi hoặc lỗ trong chiến lược phòng hộ rủi ro, do đó tăng thêm rủi ro cho vị thế này. Các phương tiện bù trừ nhìn chung có cấu trúc tương tự như cấu trúc khoản đầu tư được phòng hộ, nhưng vẫn đủ khác biệt để có thể cân nhắc đến. Ví dụ, khi cố gắng phòng hộ đồng thời trái phiếu kỳ hạn 2 năm cùng với tín phiếu kho bạc tương lai, có rủi ro là tín phiếu kho bạc và trái phiếu sẽ không biến động như nhau.

Buy In / Mua Lại Các Hợp Đồng Để Bảo Vệ

1. Các hợp đồng kỳ hạn. Trang trải vị thế ngắn trong thị trường hợp đồng kỳ hạn bằng cách mua vị thế dài bù trừ, hoặc đảm nhận phân phối chứng khoán hay hàng hóa. 2. Chứng khoán. Quá trình theo đó ngân hàng giao dịch hay môi giới chứng khoán, sau khi mua chứng khoán mà nhà môi giới không thể phân phối, hoàn tất giao dịch với nguồn khác theo giá thị trường hiện tại, và tính phí chênh lệch cho nhà môi giới bán ban đầu.

Borrower / Người Vay

Người hay tổ chức nhận tiền từ người khác, được gọi là người cho vay, thông thường phải hoàn trả cộng với tiền lãi vào một ngày trong tương lai. Việc mở rộng tín dụng bởi một định chế tài chính, ví dụ như tiền vay ngân hàng, được bảo chứng bởi phiếu nợ, một bản thỏa thuận bắt buộc về mặt pháp lý để thanh toán. Người nộp đơn tín dụng với khả năng không chắc chắn trả được nợ, có thể yêu cầu bên thứ hai ký giấy nợ như người đồng vay hay người đồng trách nhiệm. Xem MORTGAGOR.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55