Bullet Loan / Khoản Cho Vay Trả Một Lần
Khoản cho vay thanh toán một lần gốc lẫn lãi khi đến kỳ hạn. Khoản cho vay trả một lần giống như khoản cho vay trả dồn khi đáo hạn (baloon maturity loan), có sự khác biệt quan trong mà khoản cho vay trả một lần không như khoản cho vay trả dồn khi đáo hạn, là không có nguồn thanh toán rõ ràng. Để trả hết khoản cho vay trả một lần, người vay phải tái tài trợ với lãi suất hiện tại, thanh lý tài sản, hay bán thế chấp.
Bulk Filling / Xử Lý Nhanh Khối Chi Phiếu
Hoạt động xử lý chi phiếu liên quan đến việc phân loại chi phiếu tốc độ cao, và lưu trữ các chi phiếu bị hủy theo chu kỳ chuẩn bị báo cáo, thay vì bằng số tài khoản. Việc xử lý nhanh các chi phiếu tiết kiệm thời gian và nhân công, vì các chi phiếu được thu hồi theo yêu cầu, và không được thu hồi theo báo cáo của ngân hàng.
Broker's Call Loan / Khoản Cho Vay Có Thể Thu Hồi Của Người Môi Giới
Khoản cho vay ngắn hạn theo yêu cầu người môi giới được bảo đảm bởi các chứng khoán cầm cố. Các người môi giới dùng khoản cho vay để tài trợ việc bảo lãnh phát hành, hay bảo đảm tạm ứng cho các khách hàng duy trì các tài khoản bảo chứng. Lãi suất tiền vay của người môi giới thường cao hơn khoảng một điểm phần trăm so lãi suất ngắn hạn, như lãi suất quỹ liên bang hay trái phiếu kho bạc. Tiền vay của nhà môi giới thường có thể thu hồi theo thông báo trong 24 giờ, do đó có thuật ngữ lãi suất khoản cho vay thu hồi.
Brokered Deposit / Ký Thác Qua Trung Gian
Tiền gửi, thường là chứng chỉ tiền gởi (CD) được mua từ một người môi giới hoạt động như người đại diện cho người gởi tiền. Người môi giới, thường là người kinh doanh - môi giới chứng khoán, gộp chung CD từ nhiều nhà đầu tư nhỏ, và tiếp thị chúng cho các định chế tài chính thường với các khối lượng lớn gần 100,000$ và thương lượng mức lãi suất cao hơn cho các CD được người mua mua vào. Luật liên bang cấm các ngân hàng chưa đủ mức vốn hóa và các tổ chức tiết kiệm chấp nhận ký thác qua trung gian.
Một khoản tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn được ngân hàng bán cho một nhà môi giới, sau đó chia nó thành các phần nhỏ hơn để bán cho khách hàng của mình. Tiền ký gửi cốt yếu - chẳng hạn như tiền gửi ở tài khoản giao dịch, tài khoản tiết kiệm và chứng chỉ tiền gửi của cá nhân - là thành phần quan trọng khác trong tiền gửi của ngân hàng. Theo quy tắc FDIC, chỉ những ngân hàng có vốn hóa tốt mới có thể thu hút và nhận ký thác qua trung gian. Những người có vốn hóa đầy đủ có thể chấp nhận chúng sau khi được miễn, và các ngân hàng thiếu vốn có thể chấp nhận chúng. Bằng cách chấp nhận tiền gửi được môi giới, một ngân hàng có thể có quyền truy cập vào một nhóm lớn hơn các quỹ đầu tư tiềm năng và cải thiện tính thanh khoản của nó. Nó cũng có thể tiết kiệm tiền, so với việc xử lý một lượng tiền tương đương với nhiều khoản tiền gửi nhỏ hơn, mặc dù ký thác qua trung gian có xu hướng trả lãi suất cao hơn.
Broken Date / Thời Điểm Bị Phá Vỡ
Thuật ngữ được dùng trong giao dịch ngoại hối và thị trường châu Âu, cho hợp đồng ngoại hối hay hợp đồng thị trường tiền tệ cùng với việc phân phối tiền tệ, chứng chỉ tiền gởi (CD), v. v..., diễn ra tại kỳ hạn phi tiêu chuẩn, ví dụ 28 ngày thay vì 30 ngày. Cũng được gọi là cock date (thời điểm lệch).
Một thuật ngữ được sử dụng để mô tả các hợp đồng thị trường tiền tệ và hợp đồng kỳ hạn, với việc chuyển giao tiền tệ và Chứng chỉ tiền gửi - CDS, được thực hiện vào một ngày ít thông thường. Hợp đồng kỳ hạn thường trích dẫn các khoảng thời gian như một tháng, ba tháng, v.v. Ngày đáo hạn của hợp đồng kỳ hạn có thể là ngày giao ngay (spot date) hoặc ngày cố định (fixed date). Bất kỳ thời điểm nào ngoài ngày đáo hạn đều được xem là một thời điểm bị phá vỡ. Còn được gọi là Ngày lẻ (Odd date). Ví dụ: một hợp đồng kỳ hạn hai tháng thông thường từ ngày 15 tháng 4 sẽ đáo hạn vào ngày 15 tháng 6. Một ngày lẻ (odd date) sẽ đáo hạn vào ngày 10 tháng 6.
Bridge Loan / Khoản Cho Vay Bắc Cầu
Tiền vay ngắn hạn tài trợ chi phí người mua nhà khi bán căn nhà này và mua căn nhà khác. Tiền vay cung cấp vốn để mua nhà mới, trước khi hoàn tất các thủ tục cho việc bán căn nhà cũ. Trong tài trợ công ty, tạm thời chi trả do độ trễ thời gian giữa thu hồi mộ trái phiếu hay thương phiếu, và thay thế bằng một trái phiếu mới. Các khoản vay bắc cầu, thông thường thay thế nợ ngắn hạn bằng tài trợ dài hạn cho việc tái cấu trúc công ty, sáp nhập và mua bán nhờ đòn bẩy tài chính. Các ngân hàng và công ty bảo hiểm cung cấp vốn để thanh toán dứt nợ cũ trước khi lập các thủ tục cho nợ mới hay phát hành cổ phiếu mới. Cũng được biết đến như tài trợ khoảng trống hay khoản cho vay linh hoạt. Tín dụng đa quốc gia ngắn hạn được mở rộng cho quốc gia kém phát triển, thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, có dự kiến trước khoản tài trợ dài hạn cho các ngân hàng tư nhân.
Bridge Bank / Ngân Hàng Bắc Cầu
Ngân hàng được tổ chức nhằm đảm nhiệm tiền gửi và nợ được bảo đảm của một ngân hàng phá sản. Công ty bảo hiểm tiền gởi Liên bang được trao quyền cấp phép các ngân hàng tạm thời này theo Đạo luậ Nghiệp vụ Ngân hàng Cạnh tranh Công bằng năm 1987. FDIC có quyền sử dụng một ngân hàng bắc cầu để duy trì ngân hàng phá sản tới ba năm cho đến khi có người mua.
Đây là một ngân hàng được ủy quyền nắm giữ tài sản và nợ của một ngân hàng khác, cụ thể là một ngân hàng mất khả năng thanh toán. Một ngân hàng cầu nối bị buộc tội tiếp tục hoạt động của ngân hàng mất khả năng thanh toán cho đến khi ngân hàng trở thành dung môi thông qua việc mua lại bởi một thực thể khác hoặc thông qua thanh lý. Một ngân hàng cầu nối có thể là một ngân hàng quốc gia hoặc một hiệp hội tiết kiệm liên bang được điều lệ hoặc bổ nhiệm bởi Tập đoàn Bảo hiểm Tiền ký gửi Liên bang (FDIC). FDIC đã được trao quyền cho thuê các ngân hàng tạm thời này theo Đạo luật Ngân hàng Bình đẳng Cạnh tranh năm 1987. FDIC có thẩm quyền, sử dụng một ngân hàng cầu nối, để vận hành một ngân hàng thất bại trong tối đa ba năm cho đến khi có thể tìm thấy người mua.
Bricks And Mortar / Gạch Và Vữa (Cơ Sở Căn Bản)
Tên gọi chung chỉ tài sản cố định do một ngân hàng sở hữu, hoặc sở hữu hoặc cho thuê, bao gồm các văn phòng chi nhánh, và văn phòng hỗ trợ (Back Office). Nói chung nó chỉ các văn phòng kinh doanh lẻ hay các văn phòng chi nhánh, trong nghiệp vụ ngân hàng đa chi nhánh theo truyền thống. Nghiệp vụ ngân hàng chi nhánh có số điểm phân phối cho khách hàng lẻ cao hơn, với chi phí cố định cao. Ngược với máy rút tiền tự động; nghiệp vụ ngân hàng tại nhà.
Bretton Woods System / Hệ Thống Bretton Woods
Hệ thống Tiền tệ Quốc tế được lập năm 1944 tại Hội nghị quốc tế gồm 44 nước tại Bretton Woods, New Hampshire. Kết quả của hội nghị này là việc thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển (được biết phổ biến là Ngân hàng Thế giới - World Bank) và tỷ giá hối đoái cố định tồn tại mãi đến thập niên 1970. Thỏa thuận ban đầu, trở thành luật tại Hoa Kỳ năm 1945, được bổ sung năm 1971, khi hệ thống hối đoái theo mệnh giá được thay thế bởi hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi.
Breakpoint / Điểm Dừng
Số dư tài khoản tiền gửi mà dưới mức này không có dự trữ bó buộc. Giá trị hiện hành được công bố trong Bản thông báo Dự trữ Liên bang. Số dư tài khoản trong đó lãi suất được hưởng (hay phải trả) được nâng lên hay hạ thấp. Khoản cho vay có lãi tăng dần tại một vài tiểu bang tính lãi suất cao hơn trên khoản vay ban đầu mở rộng hay số dư hiện tại của thẻ tín dụng, chẳng hạn 500$, và lãi suất thấp hơn trên số dư lớn hơn. Trong các quỹ hỗ tương, là điểm tại đó hoa hồng theo doanh số phải trả được tính thấp hơn, do khối lượng giao dịch. Hầu hết một số quỹ có các điểm dừng.
Đối với các quỹ tương hỗ nạp, số tiền đô la để mua cổ phiếu của quỹ đủ điều kiện cho nhà đầu tư giảm phí bán hàng (nạp). Việc mua có thể được thực hiện một lần hoặc bằng cách thanh toán đáng kinh ngạc trong một khoảng thời gian quy định. Hình thức mua đầu tư thứ hai trong một quỹ phải được ghi lại bằng thư mục đích. Ví dụ: giả sử rằng một nhà đầu tư có kế hoạch đầu tư 95.000 đô la vào quỹ tương hỗ tải phía trước và phải đối mặt với khoản phí bán hàng là 6,25%, tương đương 6.125 đô la. Nếu một điểm dừng 100.000 đô la tồn tại với mức phí bán hàng thấp hơn 5,5%, nhà đầu tư nên được khuyên nên đầu tư thêm 5.000 đô la. Nếu nhà đầu tư có thể thêm 5.000 đô la khác vào khoản đầu tư, họ sẽ được hưởng lợi từ khoản phí bán hàng điểm dừng thấp hơn là 5.500 đô la, hoặc tiết kiệm 625 đô la cho giao dịch này. Các quỹ tương hỗ được yêu cầu đưa ra mô tả về các điểm dừng này và các yêu cầu đủ điều kiện trong bản cáo bạch của quỹ. Bằng cách đạt hoặc vượt qua một điểm dừng, một nhà đầu tư sẽ phải đối mặt với phí bán hàng thấp hơn và tiết kiệm tiền. Bất kỳ nhà đầu tư nào mua cổ phiếu quỹ xảy ra ngay dưới điểm dừng đều được coi là phi đạo đức và vi phạm các quy tắc của NASD.
Break-even Yield / Lợi Suất Hòa Vốn
Lợi suất được yêu cầu để bù đắp chi phí khi đưa ra thị trường một sản phẩm mới hay một dịch vụ ngân hàng mới. Trong kế toán chi phí, đó là điểm mà doanh thu trang trải chi phí một sản phẩm hay dịch vụ. Mỗi doanh thu tăng thêm đem lại lợi nhuận so mức cơ bản, khi xét đến chi phí cung ứng dịch vụ, thường là chi phí đầy đủ bao gồm chi phí cố định, như chi phí thuê mặt bằng, chi phí thiết bị, và các chi phí biến đổi khác như chi phí sử dụng vốn.
Branch Banking / Nghiệp Vụ Ngân Hàng Chi Nhánh
Nghiệp vụ ngân hàng tại nhiều trụ sở, thông thường là nhận tiền gửi hay cho vay nhằm giảm áp lực tại văn phòng chính của ngân hàng. Nghiệp vụ ngân hàng chi nhánh đã phát triển với những thay đổi quan trọng từ những năm 1980, để các ngân hàng đáp ứng thị trường dịch vụ tài chính toàn quốc một cách cạnh tranh hơn. Những năm 1980, các giới hạn luật định về lập chi nhánh ngân hàng, như Đạo luật McFadden thập kỷ 1920, hạn chế lập chi nhánh tại bang có trụ sở ngân hàng cuốc cùng đã được bãi bỏ. Đạo luật Ngân hàng liên tiểu bang Riegel-Neal & Hiệu quả Chi nhánh năm 1994, ủy quyền cho các ngân hàng đã vốn hóa tốt được mua lại các trụ sở ngân hàng, hay mở các trụ sở mới trên toàn Hoa Kỳ, bên ngoài tiểu bang có trụ sở chính của họ sau 1/6/1997. Hầu hết các tiểu bang thông qua các đạo luật cho phép lập chi nhánh liên bang trước kỳ hạn đó. Mạng lưới nghiệp vụ ngân hàng chi nhánh đang dần phát triển thành mạng lưới dịch vụ tài chính đa tiểu bang, nơi mà người gửi tiền có thể sử dụng tài khoản của họ tại bất kỳ trụ sở ngân hàng nào. Đổi mới tài chính như nghiệp vụ ngân hàng Internet cũng sẽ tác động đến tương lai của nghiệp vụ ngân hàng "tại văn phòng" bằng cách giảm đáng kể nhu cầu duy trì các mạng lưới chi nhánh mở rộng để phục vụ khách hàng. Xem AGENCY BANK; CHAIN BANKING; GROUP BANKING; INTERSTATE BANKING; REGIONAL INTERSTATE BANKING; UNIT BANKING.
Thuật ngữ chỉ sự tham gia vào các hoạt động ngân hàng như nhận tiền ký gửi hoặc cho vay tại các cơ sở cách xa văn phòng chính của một ngân hàng. Ngân hàng chi nhánh đã trải qua những thay đổi đáng kể kể từ những năm 1980 để đáp ứng thị trường dịch vụ tài chính toàn quốc cạnh tranh hơn. Sự đổi mới tài chính như ngân hàng internet sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai của nghiệp vụ ngân hàng chi nhánh bằng cách giảm khả năng duy trì mạng lưới chi nhánh rộng lớn cho người tiêu dùng dịch vụ. Đạo luật Ngân hàng liên tiểu bang Riegel-Neal & Hiệu quả Chi nhánh năm 1994 đã ủy quyền cho các ngân hàng có vốn hóa tốt được mua lại các văn phòng chi nhánh, hoặc mở các ngân hàng mới, ở bất cứ đâu trong Hoa Kỳ bên ngoài tiểu bang nhà của họ sau ngày 1 tháng 6 năm 1997. Hầu hết các bang đã thông qua luật cho phép phân nhánh giữa các tiểu bang trước ngày đó. Mạng lưới ngân hàng chi nhánh đang dần phát triển thành mạng lưới dịch vụ tài chính đa cấp, nơi người gửi tiền có thể truy cập vào tài khoản của họ từ bất kỳ văn phòng ngân hàng nào.
Brady Bond / Trái Phiếu Brady
Trái phiếu tính theo đồng dollar chuyển khoản vay ngân hàng quốc tế thành trái phiếu dài hạn, được đặt tên theo Nicholass Brady, Bộ trưởng Kho bạc Mỹ thập niên 1980. Trái phiếu Brady được thế chấp bởi tín phiếu kho bạc không có lãi 30 năm cho giá trị gốc của trái phiếu, và một nguồn vốn dự trữ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với tiền lãi phát sinh.
Bow-tie Loan / Khoản Cho Vay Có Lãi Suất Hai Vòng
Khoản cho vay với lãi suất biến đổi ngắn hạn, hoãn lại tiền lãi chưa trả trên lãi suất xác định trước. Khoản cho vay có lãi suất hai vòng cộng dồn tiền lãi đến hạn vào giá trị gốc khoản vay từ ngân hàng hoặc vay nhà đầu tư.
Boutique / Công Ty Chuyên Biệt
Tên thông dụng chỉ công ty do ngân hàng sở hữu, hay chi nhánh công ty mẹ hoạt động như công ty tư vấn đầu tư cho các quỹ hưu trí và các định chế đầu tư khác. Trong ngành chứng khoán, thuật ngữ thường chỉ các ngân hàng đầu tư chuyên phục vụ một phân khúc cụ thể của ngành, ví dụ, sát nhập và mua lại (M&A), quản lý tiền cho các khách hàng định chế, v. v...
Bourse / Thị Trường Chứng Khoán (Châu Âu)
Tiếng Pháp chỉ thị trường chứng khoán, thuật ngữ chung của Châu Âu chỉ giao dịch mua bán các chứng khoán niêm yết, và ở một số nước, gọi là ngoại hối. Được sử dụng hầu hết tại Pháp và Bỉ. Theo tiếng Ý là borsa và tiếng Đức là borse.
Borrowing Base / Số Căn Bản Được Vay
Số tiền mà người cho vay sẵn lòng tạm ứng theo giá trị của tài sản thế chấp. Số căn bản được vay được xác đinh bằng cách nhân giá trị tài sản thế chấp được giao (các khoản phải thu, hàng tồn kho, thiết bị) với hệ số chiết khấu, một quá trình được biết đến như tiền bảo chứng. Trong tài trợ khoản phải thu, người cho vay có thể đồng ý tạm ứng 80% các khoản phải thu hiện tại. Ví dụ, số căn bản được vay khi cầm cố các khoản phải thu 200,000$ là 160,000$. Theo thông lệ, các khoản phải thu đảm bảo chất lượn thì số căn bản được vay cao hơn (và chênh lệch nhỏ hơn) hàng tồn kho, vì các khoản phải thu chuyển thành tiền mặt nhanh hơn. Xem FLOATING LIEN.
Số lượng tiền cho một công ty vay từ một người sẵn lòng tạm ứng dựa trên giá trị tài sản thế chấp mà công ty cam kết. Số căn bản được vay thường được xác định bằng một phương pháp gọi là giao dịch kí quỹ, ở đó người cho vay xác định hệ số chiết khấu nhân với giá trị của tài sản thế chấp; kết quả thu được chính là lượng tiền mà công ty sẽ được vay. Ví dụ, nếu công ty X tìm gặp một người cho vay để vay tiền, người cho vay sẽ đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của công ty và ước tính rủi ro của người cho vay. Dựa vào rủi ro mà người cho vay cảm thấy có liên quan tới việc cho công ty X vay tiền, một hệ số chiết khấu được xác định là 85%. Nếu công ty X đưa ra tài sản thế chấp có giá trị 100.000 USD, lượng tiền sẽ cho vay bằng 85% của 100.000, hay 85.000 USD.
Borrowed Reserves / Dự Trữ Bằng Tiền Vay
Khoản vay của Cục Dự trữ Liên bang cho một ngân hàng hay định chế tiết kiệm, do dự trữ hiện tại không đủ để đáp ứng yêu cầu dự trữ pháp định. Việc tăng quỹ vay mượn để dự trữ là báo hiệu chính sách tín dụng của Dự trữ Liên bang sẽ thắt chặt hơn, và lãi suất có tiềm năng cao hơn đối với những ngân hàng vay. Khi Dự trữ Liên bang cung cấp tín dụng ít hơn cho hệ thống ngân hàng, các ngân hàng buộc phải vay để duy trì dự trữ yêu cầu. Những khoản vay này, theo hình thức tạm ứng hay chiết khấu từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang, thường được thế chấp bằng chứng khoán kho bạc. Xem DISCOUNT WINDOW, REDISCOUNT.
Borrowed Funds / Các Quỹ Vay Mượn
Thuật ngữ chỉ các quỹ cho vay của một ngân hàng, thường là vay ngắn hạn bởi một ngân hàng khác. Quỹ vay này bao gồm: các hóa đơn phải trả, đồng dollar Châu Âu đã mua và các quỹ Liên bang đã mua; tái chiết khấu các phiếu nợ, và thương phiếu tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang; và thỏa thuận mua lại với các định chế tài chính khác và các nhà mua bán chứng khoán. Cũng được gọi khoản vay. Xem BORROWED RESERVES, MANAGED LIABILITIES.
Book Transfer / Chuyển Tiền Trên Sổ Sách
Chuyển tiền từ tài khoản tiền gởi này sang tài khoản tiền gởi khác cùng một định chế tài chính. Việc chuyển tiền trên sổ sách là phương pháp chuyển tiền hiệu quả vì chúng loại bỏ tiền đang chuyển để thanh toán chi phiếu.





