Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bank Quality / Chất Lượng Ngân Hàng

Trái phiếu chất lượng ngân hàng được xếp vào một trong bốn hạng cao nhất giá trái phiếu, ví dụ, xếp hạng BBB hoặc tốt hơn của Standard&Poor's . Các ngân hàng thương mại được phép mua trái phiếu này, cũng được biết như trái phiếu cấp độ đầu tư, cho chính tài sản của họ. Những trái phiếu này cũng được coi là những trái phiếu đầu tư có thể chấp nhận cho việc thụ ủy, như các phòng ủy thác và các quỹ hưu trí. Trái phiếu xếp hạng thấp hơn được gọi chung là trái phiếu cấp thấp (Junk Bond), và được coi là trái phiếu đầu cơ.

Bank of First Deposit / Ngân Hàng Ký Thác Đầu Tiên

Ngân hàng có chi phiếu trong quá trình thu tiền đầu tiên được lý thác vào một tài khoản. Nếu chi phiếu được rút tại một ngân hàng khác, ngân hàng thu tiền trình chi phiếu trực tiếp cho ngân hàng thanh toán, hoặc ngân hàng dự trữ liên bang, nhằm thanh toán cho tài khoản dự trữ của ngân hàng thanh toán. Xem CASH ITEMS; COLLECTION ITEMS; DIRECT SEND.

Banking Power / Năng Lực Kinh Doanh Của Ngân Hàng

1. Khả năng cho vay của một ngân hàng, đặc biệt khả năng "tạo tiền" bằng cách ký thác một phần tiền vay mới trong một tài khoản ngân hàng. Người vay không nhận khoản vay bằng tiền mặt; thay vào đó, tiền thu được từ cho vay được gởi vào một tài khoản séc mới hay có sẵn. Người cho vay đồng ý thanh toán các chi phiếu rút ra từ tài khoản này, và có thể sử dụng một phần số dư đó để cho vay mới. Không như hầu hết các công ty cổ phần khác; được tự do tham gia bất cứ hoạt động nào mà pháp luật không cấm, các ngân hàng Mỹ chỉ có thể tiến hành những hoạt động được chấp thuận cụ thể theo luật hay theo quy định. Quyền ngân hàng nói chung chia làm hai loại: quyền chính thức, bao gồm khả năng cho vay tiền được cấp bởi cơ quan lập pháp bang hoặc quốc hội; và các quyền hàm ý được các tòa án trao qua phán quyết của tòa án. Xem MONEY MULTIPLIER.

Banking and Securities Industry Committee (BASIC) / Ủy Ban Ngành Ngân Hàng Và Tài Chính (BASIC)

Ủy ban được thành lập năm 1970 nhằm xúc tiến các tiêu chuẩn thống nhất hoạt động văn phòng đại diện ngân hàng, trong việc ma bán và thanh toán chứng khoán. Các thành viên cảu nó được rút từ thị trường giao dịch chứng khoán lớn, hiệp hội quốc gia các trung tâm giao dịch chứng khoán và các ngân hàng thanh toán bù trừ New York.

Banking Act of 1933 / Đạo Luật 1933 Về Nghiệp Vụ Ngân Hàng

Luật quan trọng về cái cách ngân hàng lớn được thông qua bởi quốc hội như biện pháp cứu vãn tình hình bất ổn tài chính của hệ thống ngân hàng trong suốt cuộc đại suy thoái kinh tế, lập ra ủy ban thị trường mở liên bang và công ty bảo hiểm tiền gởi liên bang. Bộ luật trao quyền kiểm soát thực sự về chính sách tiền tệ cho ủy ban các thống đốc của cục dự trữ liên bang. Các điều 16, 20, 21, và 32 của bộ luật phân biệt ngân hàng thương mại với ngân hàng đầu tư, thường được biết đến như đạo luật Glass-Steagal. Đạo luật này củng cố việc phân biệt về mặt pháp lý giữa hoạt động ngân hàng thương mại và đầu tư, cho đến khi những nghiêm cấm này được tháo gỡ bởi đạo luật Gramm-Leach-Bliley 1999.

Bank Identification Number (BIN) / Số Nhận Dạng Ngân Hàng (BIN)

1. Mã số chuyển ABA. 2. Mã số xác định các định chế phát hành thẻ ngân hàng liên kết với Visa International hay Mastercard International. Số BIN là sáu chữ số đầu tiên của số tài khoản. Các ngân hàng sử dụng bảng BIN trong các giao dịch theo tuyến với ngân hàng thích hợp, để xét duyệt tín dụng và thanh quyết toán.

Bank Holiday / Ngày Nghỉ Của Ngân Hàng

1. Quy định thống nhất những ngày nghỉ lễ quốc gia cảu các định chế tài chính. Tuy nhiên những ngày nghỉ tiểu bang không được chuẩn hóa. Theo bộ luật thương mại thống nhất, việc thanh toán liên ngân hàng bị hoãn lại bởi ngày nghỉ lễ phải thanh toán vào ngày hôm sau. 2. Việc đóng cửa tạm thời của ngân hàng bởi các cơ quan chính phủ. "Ngày nghỉ ngân hàng" nổi tiếng nhất là ngày đóng cửa phổ biến toàn quốc một tuấn năm 1933 theo lệnh của tổng thống F.D. Roosevelt để kiểm soát làn sóng vỡ nợ ngân hàng và phục hồi tín nhiệm nơi hệ thống ngân hàng.

Bank Holding Company / Công Ty Ngân Hàng Mẹ

Công ty kiểm soát một hoặc nhiều ngân hàng thương mại. Các công ty ngân hàng mẹ được giám sát bởi ủy ban dự trữ liên bang. Các công ty sở hữu ít nhất 25% số chứng khoán có quyền bỏ phiếu trong một ngân hàng, hay kiểm soát đa số trong ban giám đốc, đợc yêu cầu lập báo cáo tài chính định kỳ cho ủy ban thống đốc cục dự trữ liên bang. Các văn phòng chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài tại Hoa Kỳ cũng được giám sát bởi ủy ban cục dự trữ liên bang. Đạo luật công ty ngân hàng mẹ quy định các tiêu chuẩn mua lại, và cho phép mua lại giữa các tiểu bang và các ngân hàng chi nhánh trên toàn quốc.  Tuy bộ luật trước tiên giới hạn các hoạt động công ty ngân hàng mẹ trong các hoạt động có liên quan đến nghiệp vụ ngân hàng, bộ luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999 mở rộng rõ rệt phạm vi hoạt động ủy quyền, cho phép bất kỳ công ty ngân hàng mẹ vốn hóa tốt trở thành một công ty tài chính mẹ, cung cấp một loạt các nghiệp vụ ngân hàng, tư vấn đầu tư, và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm. Các công ty ngân hàng mẹ thường được nhận ra bởi những từ như banc hay banc share trong tên công ty. Xem ONE BANK HOLDING COMPANY; PERMISSIBLE NONBANK ACTIVITIES; REGULATION Y.

Bank Failure / Phá Sản Ngân Hàng

Việc đóng cửa ngân hàng mất khả năng thanh toán bởi cơ quan cấp phép. Chỉ Ủy viên Hội đồng Ngân hàng tiểu ban, cơ quan điều tiết ngân hàng được cấp phép bởi tiểu bang, hay kiểm toán trưởng tiền tệ, người điều phối các ngân hàng quốc gia, có thể quyết định đóng cửa một ngân hàng. Nếu ngân hàng được bảo hiểm liên bang - ngày nay tất cả tiền gửi ngân hàng được bảo đảm tiền gửi liên bang - ngân hàng sẽ được sự bảo trợ của công ty tiền gởi liên bang, sẽ giải quyết kỳ trái quyền nào cho chủ nợ, bao gồm trái quyền của người gửi tiền bảo hiểm lên đến 100,00$ mỗi tài khoản. FDIC có quyền thanh lý các tài sản ngân hàng khi cần thiết nhằm đáp ứng các trái quyền, và buộc phải thanh lý mọi trái quyền của chủ nợ bằng cách chọn lựa phương pháp giải quyết phá sản, là phương pháp đỡ tốn kém chi phí nhất đối với quỹ bảo hiểm ngân hàng, do FDIC quản lý. Cách thanh lý ít tốn kém nhất cho một ngân hàng là mua và đảm nhận, theo đó một ngân hàng khác đảm nhận và mua một số hay tất cả các tài sản của ngân hàng phá sản, và đảm nhận nợ tiền gửi của nó. Trong các trường hợp khắc nhiệt, ngân hàng phá sản hầu như không có giá trị còn lại, và do đó không có người đấu giá sẵn sàng mua lại nó, quỹ bảo hiểm sẽ chi trả cho người gửi tiền có bảo hiểm của ngân hàng bị thanh lý giá trị bồi thường cho họ, lên đến giới hạn 100,00$ cho một tài khoản. Hình thức bảo vệ người gửi tiền này được biết như là chi trả giảm nhẹ; việc chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền được giảm nhẹ theo nghĩa là người gửi tiền không bảo hiểm, là người gửi tiền trong ngân hàng phá sản lớn hơn giới hạn bảo hiểm, có thể chịu khoản lỗ tiền gốc hay lãi. Sự khác biệt lớn giữa hai phương pháp là, trong giao dịch mua bán mua lại đảm nhận mọi nợ tiền gửi, vì thế quyền yêu cầu bồi thường của người gửi tiền có bảo hiểm hay không đều được chi trả đầy đủ. Từ khi có bảo hiểm tiền gửi liên bang bắt đầu vào thập niên 1930,không có ngân hàng lớn nào ở Mỹ được phép phá sản bởi các cơ quan điều tiết ngân hàng,vì lo ngại sự phá sản của ngân hàng khu vực lớn hay ngân hàng trung tâm tiền tệ sẽ phá đổ thị trường tài chính. Lập luận "quá lớn không thể vỡ nợ" (too big to fail) được kiểm nghiệm nhiều lần, như vụ vỡ nợ của Continental Illinois năm 1984, và trong kỳ suy thoái kinh tế 1990-1991 , khi mà các ngân hàng hàng đầu chịu những khoản lỗ lớn tiền vay lớn. Sự sáp nhập các ngân hàng thua lỗ được FDIC hỗ trợ trở thành các định chế mạnh, và sự mua lại các định chế tiết kiệm gặp trục trặc đã tăng tốc nghiệp vụ ngân hàng liên tiểu bang những năm 1980 và 1990, cho phép các ngân hàng vùng và ngân hàng trung tâm tiền tệ thiết lập cơ sở tại các thị trường ngoài tiểu bang, bằng cách mua lại và tái cơ cấu các định chế gặp trục trặc. Thông thường, những giao dịch sáp nhập này gồm một số hình thức trợ giúp quỹ bảo hiểm dẫn đến khoản thanh toán (khoản cho vay), thể hiện sự chênh lệch giữa giá trị bút toán khoản vay khó đòi tại ngân hàng phá sản, và giá được trả bởi tổ chức mua lại. Xem BAILOUT; BRIDGE BANK.

Bank Examination / Kiểm Tra Ngân Hàng

Việc kiểm tra định lỳ tài sản và nợ của bảng cân đối kế toán ngân hàng thông qua các cơ quan giám sát ngân hàng. Các nhân viên kiểm tra ngân hàng chú trọng vào ba vấn đề chính: năng lực quản lý của ngân hàng' chất lượng tài sản ngân hàng, các khoản cho vay vốn đầu tư, và việc tuân thủ với các quy định của ngân hàng tiểu bang hay liên bang. Ngày nay các nhân viên kiểm tra cũng xem xét kỹ lưỡng khoản nợ phải trả ngoài bảng cân đối kế toán (Off-balance Sheet) như các cam kết hay bảo đảm cho tiền vay, là các quyền yêu cầu chi trả trên tài sản của ngân hàng. Việc kiểm tra giám sát được thực hiện bởi các cơ quan độc lập, hoặc thuộc tiểu bang, liên bang. Các ngân hàng quốc gia được kiểm tra bới kiểm toán trưởng tiền tệ, các ngân hàng được cấp phép tiểu bang do công ty bảo hiểm tiền gởi liên bang hay phòng nghiệp vụ ngân hàng bang, và các công ty ngân hàng mẹ do ủy ban dự trữ liên bang giám sát. Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay (Saving and Loán Association) được kiểm tra bởi văn phòng giám sát tiết kiệm, các ngân hàng tiết kiệm và các hiệp hội tín dụng do các phòng nghiệp vụ ngân hàng tiểu bang giám sát. Xem COMPLIANCE EXAMINATION.

Banker's Blanket Bond / Trái Phiếu Bảo Hiểm Của Ngân Hàng

Trái phiếu an toàn được mua từ nhà môi giới bảo hiểm, nhằm bảo vệ ngân hàng chống lại thất thoát từ nhiều hành vi trộm cắp: gian lận của nhân viên, cướp ngân hàng, ăn trộm và giả mạo giấy tờ.  Một vài tiểu bang yêu cầu bảo hiểm trái phiếu an toàn như một điều kiện hoạt động của ngân hàng.

Banker's Bank / Ngân Hàng Của Các Ngân Hàng

Định chế ký thác, thường là một ngân hàng thương mại, được tổ chức và cấp phép kinh doanh với các ngân hàng khác, và do các ngân hàng mà nó phục vụ sở hữu. Những ngân hàng này không nhận tiền gửi hay cho vay đối với công chúng. Chúng có thể được cấp phép như các ngân hàng quốc gia, đầu tư vào công ty mậu dịch xuất khẩu, và có thể được miễn các yêu cầu dự trữ.

Bank Endorsement / Ký Hậu Của Ngân Hàng

Việc ký hậu các chi phiếu để thanh toán và trình cho ngân hàng của người viết chi phiếu để thu tiền. Thông thường tất cả chi phiếu được xử lý bởi một ngân hàng, ngoại trừ những chi phiếu được viết bởi chính khách hàng (được gọi là công cụ chi trả nội bộ), là các chi phiếu được nhóm lại trong bản thông báo tiền mặt (Cash Letter), hay gồm các chi phiếu đã thanh toán với các ngân hàng khác thông qua hãng thanh toán bù trừ địa phương được đóng dấu bằng mã số chuyển ABA của ngân hàng. Điều này phân biệt ngân hàng với các định chế tài chính khác và có thể hiện những từ "chi trả cho các ngân hàng" và ngày thanh toán chi phiếu

Bank Discount Rate / Lãi Suất Chiết Khấu Ngân Hàng

1. Lãi suất được niêm yết bởi các doanh nghiệp đối với các công cụ thị trường tiền tệ không phát sinh tiền lãi ngắn hạn, hối phiếu thương mại và tín phiếu kho bạc. Khi một ngân hàng chấp nhận hay đồng ý trả hối phiếu kỳ hạn, sẽ tạo ra giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng, tạo ra sự chênh lệch giữa khoản chi trả của ngân hàng và giá trị danh nghĩa của công cụ gọi là phí ngân hàng (được gọi là khoản chiết khấu) cho việc thanh toán hối phiếu. Lãi suất này là lãi suất chiết khấu ngân hàng. 2. Lãi suất mà ngân hàng tính trên các khoản vay có chiết khấu (khoản vay có tiền lãi khấu trừ khi cho vay). Người đi vay nhận được giá trị danh nghĩa của giấy nợ trừ chiết khấu. Người đi vay nhận được khoản vay một năm 1,000$ sẽ trả cho người vay tiền lãi 50$,và nhận 950$ trong một năm sử dụng. Trong ví dụ này lãi suất là 5.263%. (50$/950$).

Bank Debits / Ghi Nợ Ngân Hàng

Các chi phiếu đã trả, hối phiếu được thanh toán, và các công cụ chi trả được rút từ các quỹ ký thác của cá nhân, các công ty hợp danh, các công ty cổ phần, và các tổ chức hợp pháp khác, trong một thời kỳ nhất định - thường được báo cáo hàng ngày. Trên bình diện quốc gia, các nhà kinh tế họ theo dõi các khoản ghi nợ ngân hàng để dự báo các xu hướng quốc gia.

Bank Card Association / Hiệp Hội Thẻ Ngân Hàng

Tổ chức, do các định chế tài chính sở hữu, cấp phép cho một chương trình thẻ ngân hàng hay chương trình xử lý giao dịch cho chủ thẻ. Các hiệp hội thẻ quốc gia hiện tại, Mastercard International và Visa International, thực hiện bốn chức năng chính: cấp giấy phép cho thẻ ngân hàng và các nhãn hiệu dịch vụ cho ngân hàng phát hành thẻ; cấp quyền giao dịch cho chủ thẻ; thanh toán qua lại khi ngân hàng xử lý giao dịch (được gọi là ngân hàng thương mại) khác với ngân hàng phát hành thẻ; và xác định lãi suất trao đổi, hoặc phí xử lý giao dịch được trả bởi các thành viên hiệp hội. Chính các ngân hàng tự gởi thẻ mới và tính phí cho các chủ thẻ.

Bank Card / Thẻ Ngân Hàng

Thẻ giao dịch đem đến cho khách hàng của ngân hàng khả năng thanh toán hàng hóa và dịch vụ tại công ty bán lẻ, và rút tiền mặt tại quầy giao dịch của ngân hàng hay tại các máy rút tiền tự động. Thẻ ngân hàng có thể là thẻ tín dụng, gắn vào mức tín dụng được chấp nhận trước, rút tiền từ tài khoản tiết kiệm hay tài khoản séc của chủ thẻ. Thẻ ngân hàng cũng là hình thức nhận dạng hữu ích khi trả tiền chi phiếu.

Là bất kỳ loại thẻ nào được phát hành cho một tài khoản ký gửi, chẳng hạn như thẻ ATM hoặc thẻ ghi nợ. Đôi khi cụm từ này cũng được sử dụng để nói về thẻ Visa và Mastercard, vì đây cũng là những thẻ được phát hành bởi các ngân hàng, nhưng chúng là thẻ tín dụng và không liên quan trực tiếp đến tài khoản ký gửi. Thẻ ngân hàng có thể bị hạn chế trong việc sử dụng, một số thẻ chỉ có thể được sử dụng tại các máy ATM hoặc các quầy mua hàng nhất định. Việc rút tiền hoặc thanh toán bằng thẻ ngân hàng thông thường sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng ngay lập tức trong cán cân của tài khoản mà nó được phát hành. Điều này trái ngược với thẻ tín dụng, thẻ tín dụng xuất báo cáo trong hàng tháng với số dư phải được thanh toán vào một ngày nhất định. Nhiều thẻ ngân hàng có liên quan đến thẻ Visa hay Mastercard; mặc dù hàng hóa được mua sẽ được ghi nợ từ tài khoản tiền gửi, hàng hóa mua có thể được "ghi có” bất cứ nơi nào chấp nhận thẻ Visa hay Mastercard.

Bank Administration Institute / Viện Quản Trị Ngân Hàng

Tổ chức phi lợi nhuận đặt trụ sở tại Chicago, bang Illinois, đẩy mạnh các tiêu chuẩn ngành công nghiệp ngân hàng trong các hoạt động và kiểm toán ngân hàng, thông qua các trường chuyên nghiệp, các hội nghị kỹ thuật, và các tổ chức nghiên cứu, quỹ tài trợ nghiên cứu của các định chế tài chính. Viện quản trị ngân hàng được thành lập năm 1924, là tổ chức kỹ thuật lâu đời nhất và lớn nhất phục vụ ngành công nghiệp ngân hàng Hoa Kỳ.

Balloon Marturity /Trả Dồn Khi Đáo Hạn

Tiền vay ngân hàng, thường có thế chấp, đòi hỏi thanh toán toàn bộ khi đáo hạn. Việc trả dồn giúp xóa hết nợ. Cũng vậy, việc phát hành trái phiếu cần các khoản thanh toán lớn hơn hơn khi đáo hạn sau này. Xem BALLOON MORTGAGE; BALLOON PAYMENT.

Balance Reporting / Báo Cáo Số Dư

Báo cáo số dư thu được của một tổ chức, bằng điện thoại hay kết nốt máy vi tính cá nhân với văn phòng hỗ trợ của ngân h báo cáo, thường là hàng ngày. Báo cáo số dư hàng ngày tại một hoặc nhiều ngân hàng thường được thực hiện vào sáng ngày làm việc, là một thành tố chính của dịch vụ chi có kiểm soát, dó các ngân hàng cung cấp cho khách hàng công ty để quản lý tiền mặt.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55