Backup Withholding / Tiết kiệm dự phòng
Đây là một khoản thuế được áp trên thu nhập đầu tư ở một mức tỷ lệ đã được thiết lập từ trước khi mà nhà đầu tư rút vốn. Tiết kiệm dự phòng hỗ trợ đảm bảo rằng các cơ quan thu thuế của chính phủ (Ví dụ như là sở thuế vụ Mỹ (internal revenue service) hay cơ quan thuế vụ Canada (Canada Revenue Agency)) sẽ có thể thu được các khoản thuế thu nhập mà các nhà đầu tư nợ họ từ các khoản lợi nhuận. Tiết kiệm dự phòng có thể được áp dụng khi một nhà đầu tư chưa từng tuân thủ những điều luật về mã số nhận dạng thuế vụ (TINs – Taxpayer Identification Numbers). Vào thời điểm nhà đầu tư rút các khoản thu nhập này, số tiền bắt buộc phải nộp theo luật thuế tiết kiệm dự phòng được miễn đối với chính phủ người chuyên đi cung cấp các khoản vốn được yêu cầu bởi cơ quan thu thuế nhưng lại khiến nhà đầu tư có ít dòng tiền ngắn hạn hơn. Các nhà đầu tư thường kiếm thu nhập bằng cách - ví dụ như là khoản trả lãi vay, cổ tức, lãi vốn hóa trên những tài sản mà họ đã đầu tư vào. Trong khi nguồn thu nhập này có thể đánh thuế vào thời điểm mà nhà đầu tư được nhận, những khoản thuế trên thu nhập đầu tư còn nợ trong năm thường phải trả một lần một năm, trong mùa thuế. Vì vậy mà một nhà đầu tư có thể chi toàn bộ khoản thu nhập đầu tư của anh ta trước khi phải trả thuế thu nhập hàng năm mà là nguyên nhân chủ yếu khiến anh ta không trả được thuế và khiến sở thuế vụ gặp khó khăn và tốn tiền để thu các khoản thuế chưa thu được. Đây là rủi ro chính thúc đẩy chính phủ đôi khi đề xuất thuế tiết kiệm dự phòng đánh trên các tổ chức tài chính vào bất cứ thời điểm nào mà họ kiếm được thu nhập.
Backstop Purchaser / Người mua sau cùng
Một thực thể đồng ý mua toàn bộ các chứng khoán còn lại hoặc chưa được đăng ký trên thị trường bằng việc mua các quyền mua mà họ đang kêu gọi. Người mua sau cùng cung cấp sự an toàn cho công ty phát hành bằng cách bảo đảm mọi cổ phiếu mới được phát hành sẽ được mua vào, cho phép công ty hoàn thành yêu cầu nâng vốn. Giống như một người bắt bóng trong môn bóng chày bảo bệ trái bóng rơi ra khỏi khu vực sân chơi, người bắt bóng cho chứng khoán được bán ra đảm bảo rằng mọi nguồn vốn mà công ty yêu cầu đều sẽ được thực hiện. Việc sử dụng phương pháp này có thể khiến công ty tốn rất nhiều chi phí khi cạnh tranh trong việc phát hành quyền mua. Tương tự như một người ký nhận trách nhiệm thanh toán các hợp đồng bảo hiểm, người mua sau cùng luôn phải gánh những rủi ro từ các cổ phiếu mới đang được phát hành và phải trả một khoản tiền đền bù. Ví dụ, khi Berkshire Hathaway đóng vai trò như một người mua sau cùng cho USG Corporation, họ đã phải gánh chịu một khoản chi phí không hoàn trả là 67 triệu đô cho dịch vụ này.
Backup Line / Dòng sao lưu
Là một dòng tín dụng được sử dụng bởi một ngân hàng để trang trải các vấn đề về phiếu chi thương nghiệp – mà việc tài trợ cho các cán phiếu chi này từ phiếu chi mới có thể không có sẵn. Một đường sao lưu tín dụng cung cấp có hiệu quả một nguồn thay thế thanh khoản cho các tổ chức phát hành và một nguồn tín dụng cho người mua. Dòng sao lưu thường mang hình thức của một thư xác nhận tín dụng hoặc cơ sở hợp đồng. Số lượng dòng sao lưu thường dao động từ 50 đến 100%, tùy thuộc vào chất lượng của chi phiếu được phát hành. Chi phiếu cấp thấp hơn thường nhận được bảo hiểm cao hơn và ngược lại. Các dòng tín dụng thường được trả hoặc bồi thường bằng số dư hoặc một khoản phí thẳng đơn giản.
Backspread / Mở rộng ngược
Đây là một loại quyền chọn mà người giao dịch nắm giữ nhiều loại quyền chọn dài hạn hơn là ngắn hạn. Số tiền kiếm được từ các quyền chọn ngắn hạn được sử dụng để hỗ trợ tài chính cho việc mua những quyền chọn dài hạn. Cách phát triển này cho phép người giao dịch có phát hiện ra những chuyển đổi đáng kể mong muốn trong tài sản cơ sở đồng thời hạn chế được số tiền bị lỗ phòng khi trường hợp giá của những tài sản này không đi đúng hướng mà người giao dịch mong muốn. Sự mở rộng này có thể được tạo ra bằng cách sử dụng hoặc toàn bộ quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán. Một ví dụ của mở rộng ngược sử dụng quyền chọn mua là bán một quyền chọn trị giá $45 có phí $5 và mua 2 quyền chọn mua trị giá $50 có phí là $21 cho mỗi quyền chọn. Người giao dịch trong trường hợp này sẽ có lợi từ một cú dịch chuyển lớn có giá trị $50 từ quá khứ bởi lẽ họ đang lắm giữ nhiều quyền chọn dài hạn hơn ngắn hạn.
Backpricing / Giá lùi
Đây là một phương pháp định giá được sử dụng trong các hợp đồng tương lai nơi mà giá hàng hóa hay dịch vụ sắp đươc vận chuyển hay cung cấp được định giá bởi người mua vào một thời điểm nào đó trong tương lai sau khi hàng hóa được đưa đến cho người mua. Giá mà người mua có thể đặt cho hàng hóa có thể vận chuyển được phải có mối quan hệ với bất kì giá hàng tháng hay theo thời kỳ nào mà được thấy trong thị trường tương lai dựa trên thực tại riêng biệt.
Backing Away / Hét giá
Đây là sự thất bại của một người tạo lập thị trường cổ phiếu trong việc thiết lập giá mua và giá bán với số lượng thấp nhất. Hành động hét giá gây lên một hành động vi phạm các quy định về ngành một cách nghiêm trọng. Hiệp hội Quốc gia các Nhà kinh doanh Chứng khoán (NASD Regulation Inc) sử dụng hệ thống theo dõi thị trường tự động để ban hành nghị quyết quy định về các đơn kiện hành động hét giá trong thời gian giải quyết đơn kiện. Hét giá được cho là hành động phi pháp theo Điều luật số 11, Đạo luật số 1 của Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch (Mỹ) hay điều lệ đặt giá mua và bán, mà theo đó yêu cầu người tạo lập thị trường phải tuân thủ việc thực hiện mua bán tại mức giá và số lượng đúng như đã được báo giá sau khi đàm phán xong với người bán hoặc người mua. Một đơn kiện hét giá phải được trình lên bộ phận điều tiết thị trường ( Market Regulation Department) 5 phút kể từ khi quy kết hành động hét giá là phạm pháp. Nếu không thì nó có thể sẽ rất khó cho các nhân viên của phòng ban có được bằng chứng thực hiện giao dịch của người tạo lập thị trường. Hiệp hội Quốc gia các Nhà kinh doanh Chứng khoán sẽ không thực hiện kỷ luật đối với một cá nhân bị tố cáo là hét giá ngay khi các bằng chứng giao dịch của người tạo lập bị phơi bày. Mặc dù vậy, nhân viên phòng ban sẽ ghi lại những sự vi phạm này và nếu như việc không tuân thủ những điều lệ quy định về việc đặt giá mua và giá bán lặp lại thêm lần nữa thì việc kỷ luật sẽ được áp dụng.
Backflush Costing / Kế toán chi phí ngược dòng
Đây là một hệ thống kế toán liên quan đến sản xuất hàng hóa hay được sử dụng trong môi trường hàng hóa được sản xuất theo hệ thống tức thời (JIT). Kế toán chi phí ngược dòng sẽ không thực hiện quá trình ghi nhận chi phí cho đến khi sản phẩm được hoàn tất. Các chi phí này sau đó sẽ được "dội" ngược trở lại trong giai đoạn kết thúc chạy sản phẩm và ấn định vào hàng hóa. Điều này giúp giảm thiểu đi các công đoạn theo dõi chi phí không cần thiết trong suốt quá trình tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh mà là một đặc điểm đặc trưng của hệ thống kế toán chi phí truyền thống. Thông qua việc giảm thiểu đi các tài khoản ghi lại những công việc chưa hoàn thành (Work-in-process accounts), Sự đơn giản hóa này và những sai lệch khác từ các hệ thống kế toán truyền thống có ý nghĩa là không phải lúc nào kế toán chi phí ngược dòng cũng phù hợp với các chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung (GAAP). Mặt hạn chế của hệ thống này đó là việc thiếu các dấu vết kiểm toán liên tục.
Backflip Takeover / Thôn tính ngược dòng
Đây là một kiểu thôn tính hiếm khi xảy ra khi công ty đi thôn tính lại trở thành một chi nhánh của công ty bị thôn tính. Đây là dạng thôn tính hiếm gặp nhất trong số các dạng thôn tính. Những người thôn tính ngược dòng là công ty mục tiêu nhưng lại hoạt động lớn và tốt hơn trên thị trường so với công ty đi thôn tính.
Back-End Ratio / Chỉ số rút vốn
Một tỷ lệ cho biết phần nào trong thu nhập hàng tháng của một người sẽ trả cho các khoản nợ. Tổng nợ hàng tháng bao gồm các chi phí như thanh toán thế chấp (bao gồm PITI), thanh toán bằng thẻ tín dụng, hỗ trợ trẻ em và các khoản phí cho vay khác. Người cho vay sử dụng tỷ lệ này kết hợp với tỷ lệ gia nhập để phê duyệt các khoản thế chấp. Còn được biết đến với tên "Tỷ số nợ trên thu nhập" Ví dụ, nếu thu nhập hàng tháng của bạn là 5.000 đô la (60.000 đô la / 12) và tổng số tiền trả nợ hàng tháng của bạn là 2.000 đô la, tỷ lệ rút vốn của bạn là 0,40 hoặc 40%. Nhìn chung, người cho vay muốn thấy tỷ lệ rút vốn không vượt quá 36%; tuy nhiên, có những người cho vay đưa ra ngoại lệ cho tỷ lệ này lên tới 50% nếu bạn có điểm tín dụng tốt. Một số người cho vay chỉ xem xét tỷ lệ này khi phê duyệt các khoản thế chấp, trái ngược với việc sử dụng nó kết hợp với tỷ lệ gia nhập.
Backorder Costs / Chi phí đơn hàng tồn đọng
Là chi phí phát sinh do một doanh nghiệp không thể thực hiện đơn đặt hàng và phải hoàn thành đơn đặt hàng muộn. Chi phí đơn hàng tồn đọng có thể rời rạc, giống như chi phí, để thay thế một phần hàng tồn kho cụ thể, hoặc vô hình, chẳng hạn như các tác động của dịch vụ khách hàng yếu kém. Chi phí đơn hàng tồn đọng thường được tính toán và hiển thị trên cơ sở của mỗi đơn vị. Chi phí đơn hàng tồn đọng rất quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp theo dõi, như mối quan hệ giữa chi phí lưu kho và chi phí đơn hàng tồn đọng sẽ xác định xem liệu doanh nghiệp đang sản xuất thừa hay thiếu. Nếu chi phí bảo tồn hàng lưu kho ít hơn chi phí đơn hàng tồn đọng (điều này là đúng trong nhiều trường hợp), các doanh nghiệp nên sản xuất thừa và giữ hàng lưu kho.
Backorder / Đơn hàng tồn đọng
Là đơn đặt hàng cho một sản phẩm hoặc một dịch vụ không thể được thực hiện tại thời điểm hiện tại do thiếu nguồn cung cấp sẵn. Số lượng các mặt hàng bị giao trễ càng nhiều có nghĩa là nhu cầu về các mặt hàng đó càng tăng. Đơn đặt hàng tồn đọng chiếm vai trò là một yếu tố quan trọng trong phân tích quản lý hàng tồn kho. Nếu một công ty luôn trong tình trạng tồn đọng đơn đặt hàng, điều này có thể được coi như một tín hiệu rằng công ty đang hoạt động quá yếu kém - và nó đang mất dần vị trí trên trường kinh doanh do không cung cấp các sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.
Back-Of-The-Envelope Calculation / Phép tính mặt sau phong bì
Đây là một thành ngữ chỉ kỹ năng ước tính/ tính nhẩm, thường được ghi lại trên bất kỳ mẫu giấy có sẵn nào, như mặt sau của một phong bì. Phép tính mặt sau phong bì sử dụng các con số được ước tính và làm tròn để nhanh chóng tính ra các con số gần đúng. Kết quả thường thì chính xác hơn dự đoán, nhưng lại không chính xác bằng một phép tính chuẩn được thực hiện trên các con số chính xác và bảng tính hoặc máy tính cầm tay. Phép tính mặt sau phong bì có thể được sử dụng để xác định liệu các phép tính được nghiên cứu chuyên sâu và chi tiết có đảm bảo được tính chính xác. Ví dụ, một nhà đầu tư có thể nhìn vào báo cáo hàng năm của công ty và thực hiện phép tính mặt sau phong bì để tính được tỷ lệ giá cả trên lợi nhuận. Nếu con số này đủ bé để ngầm hiểu ra giá trị, nhà đầu tư có thể thực hiện phép tính chính xác hơn mà có thể bao gồm việc phân tích giá trị bình quân gia quyền cổ phiếu còn lại mua trong năm vừa rồi. Nếu việc ước tính nhanh đưa ra tỷ lệ giá cả trên lợi nhuận cao (P/E ratio) thì có thể tiết kiệm được thời gian.
Backlog / Tồn đọng
Đây là một dấu hiệu của việc sản phẩm bị ứ đọng đến mức cần phải được giải quyết. Thuật ngữ "tồn đọng" được sử dụng rất nhiều trong lĩnh vực tài chính. Nó có thể ám chỉ đến những đơn đặt hàng của công ty đang trong giai đoạn chờ được thực hiện hoặc một chống giấy tờ tài chính cần được xử lý ví dụ như là giấy tờ liên quan đến các khoản vay. Khi một công ty đại chúng có một lượng tồn dư nhất định nó sẽ là một báo hiệu đối với các cổ đông bởi lẽ các khoản tồn dư này gây một ảnh hưởng nhất định đến lợi nhuận tương lai của công ty do là công ty không có khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Một khoản tồn dư thường là thứ mà công ty luôn muốn tránh khỏi. Năm 2008 khủng hoảng bất động sản tại Hoa Kỳ gây ra tồn đọng tài sản thế chấp mà những người cho vay có một số lượng lớn hàng tồn kho tài sản nhà ở cho thuê mà họ muốn bán và xóa sổ. Do tỷ lệ nhà ở trở thành tài sản thế chấp tăng nhanh hơn so với bình thường, những người cho vay không có khả năng xử lý toàn bộ đống tài sản thế chấp này một cách kịp thời. Một ví dụ khác về một khoản tồn đọng có vấn đề đã xảy ra vào năm 2009 tại Anh Quốc khi một số lượng lớn đơn xin hỗ trợ tài chính cho các trường đại học đã gây ra khoản tồn đọng làm cản trợ một vài quyết định hỗ trợ đáng lẽ ra phải được đưa ra kịp cho năm học mới.
Tồn Đọng (Backlog) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Back-End Load / Phí rút vốn
Đây là một khoản phí (phí bán hàng hoặc tải) mà các nhà đầu tư phải trả khi bán cổ phiếu quỹ tương hỗ trong một số năm nhất định, thường là từ 5 đến 10 năm. Lệ phí lên tới một tỷ lệ phần trăm của giá trị cổ phần được bán. Tỷ lệ phần trăm phí cao nhất trong năm đầu tiên và giảm hàng năm cho đến khi thời gian nắm giữ quy định kết thúc, tại thời điểm nó giảm xuống không. Còn được gọi là "phí bán hàng trả chậm hoặc phụ tải." Phí rút vốn là một loại phí bán hàng được sử dụng với các quỹ tương hỗ có các quyền chia sẻ, trong trường hợp này được xác định là cổ phần loại B. Cổ phần loại A tính phí gia nhập, được lấy từ khoản đầu tư ban đầu của một nhà đầu tư. Cổ phiếu loại C được coi là một loại quỹ có các chi phí không đổi - không có phí gia nhập hay phí rút vốn, nhưng các chi phí hoạt động của quỹ cao. Trong tất cả các trường hợp, khoản phí này được trả cho một nhà trung gian tài chính và không được bao gồm trong chi phí hoạt động của một quỹ. Về bản chất, các quỹ có các lớp chia sẻ mang phí bán hàng - trái ngược với các vốn không chịu phí (no-load funds). Quyền bạn chọn là thứ quyết định số tiền và thời điểm bạn trả. Trong các kế hoạch hưu trí do nhà tuyển dụng tài trợ, các khoản phí này thường được miễn.
Backdating / Việc ghi lùi ngày tháng
Đây là hành động đặt ngày cho bất kỳ tài liệu nào trước một ngày khi mà tài liệu ban đầu được nộp lên. Trong hầu hết các trường hợp, việc ghi lùi ngày tháng (backdating) được coi là gian lận và bất hợp pháp, mặc dù có một số tình huống trong đó việc ghi lùi ngày tháng (backdating) có thể được sử dụng một cách hợp pháp và có lợi, như việc ghi lùi ngày tháng cho một khiếu nại trong một khoảng thời gian quá khứ. Đôi khi một số khiếu nại nhất định (như các yêu cầu bảo hiểm) có thể bị lỗi thời nếu không thể hoàn thành vào một ngày sớm hơn, mặc dù phải có lý do chính đáng để ngó lơ yêu cầu trước. Nếu việc ghi lùi ngày tháng cho một khiếu nại của bạn được chấp thuận, bạn sẽ có thể nhận được lợi ích từ một ngày nhất định trong quá khứ.
Back Up The Truck / Tích lũy cổ phần
Đây là tiếng lóng đề cập đến việc mua một vị trí lớn trong một cổ phiếu hoặc tài sản tài chính khác bởi một nhà đầu tư hoặc thương nhân. Thông thường, khi ai đó sẵn sàng tích lũy cổ phần trên một tài sản tài chính, điều này ngụ ý rằng họ cực kỳ lạc quan về hiệu suất của tài sản đó. Ví dụ, nếu một nhà phân tích khuyến nghị rằng đã đến lúc bắt đầu tích lũy cổ phần của cổ phiếu XYZ, điều này có nghĩa là anh ta hoặc cô ta cực kỳ tự tin và lạc quan về việc cổ phiếu XYZ sẽ hoạt động tốt như thế nào trong tương lai gần. Thuật ngữ này đề cập đến hình ảnh xuất phát từ một chiếc xe tải lùi vào một nhà kho hoặc một số tòa nhà thương mại khác để chuyển giao hàng hóa.
Back Up / Dự phòng
Đây là một thuật ngữ tiếng lóng cho sự chuyển động trong sự lây lan, giá cả hoặc sản lượng của chứng khoán, khiến cho việc phát hành nó trở nên đắt đỏ hơn. Sao lưu được đặc trưng bởi sự gia tăng lợi suất trái phiếu và sự giảm trong giá. Giá của một chứng khoán "dự phòng" khi một công ty nhận thấy sự bảo mật tốn kém hơn khi phát hành khi gây quỹ. Khi sao lưu xảy ra, các nỗ lực gây quỹ của một công ty bị giảm sút. Ví dụ, nếu lãi suất tăng, lợi suất yêu cầu trên hầu hết các trái phiếu cũng sẽ tăng. Điều này buộc một công ty phải tăng phiếu giảm giá về vấn đề trái phiếu của họ, điều này làm tăng tiền lãi hoặc bán trái phiếu với giá chiết khấu, làm giảm mức tiền mặt đến.
Back Taxes / Thuế chưa được thanh toán một phần hoặc hoàn toàn
Đây là khoản thuế chưa được thanh toán trong năm mà một người phải trả. Những người nộp thuế có thể có các khoản thuế chưa trả ở cấp liên bang, tiểu bang và / hoặc địa phương. Thuế chưa được thanh toán hoàn toàn tích lũy lãi suất và các hình phạt dựa trên một cơ sở định kỳ. Những khoản thuế chưa được trả có thể là một vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều người nộp thuế không có phương tiện để trả các khoản này. Dịch vụ doanh thu nội bộ (IRS) gần đây đã chuyển giao bộ sưu tập thuế chưa trả cho một cơ quan thu nợ tư nhân. Người nộp thuế thiếu phương tiện để trả thuế thường có thể thương lượng giải quyết ít hơn thông qua một đề nghị thỏa hiệp với IRS trực tiếp hoặc thông qua luật sư thuế.
Back Stop / Chặng cuối
Đây là hành động của việc cung cấp sự hỗ trợ hoặc bảo mật cuối cùng trong phát hành chứng khoán cho phần chưa đăng ký của cổ phần. Một công ty sẽ cố gắng huy động vốn thông qua một đợt phát hành và để đảm bảo khoản tiền nhận được thông qua vấn đề này, công ty sẽ nhận được khoản tiền cuối từ một công ty bảo lãnh hoặc cổ đông lớn để mua bất kỳ cổ phần nào chưa đăng ký. Ví dụ, trong một đợt chào bán quyền cổ phần, bạn có thể nghe thấy "Công ty ABC sẽ cung cấp một 100% lên tới 100 triệu đô la cho bất kỳ phần nào chưa đăng ký trong đợt chào bán quyền của Công ty XYZ" Nếu XYZ đang cố gắng huy động 200 triệu đô la nhưng chỉ tăng 100 triệu đô la thông qua các nhà đầu tư thì Công ty ABC sẽ mua phần còn lại.
Back Order / Đơn hàng chưa được giao
Đây là dịch vụ xảy ra khi một đơn đặt hàng của khách hàng không được thực hiện. Một đơn hàng chưa được giao thường thể hiện rằng nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ vượt quá khả năng cung cấp của công ty. Tổng số đơn hàng chưa được giao, còn được gọi là đơn hàng tồn đọng, có thể được thể hiện dưới dạng đơn vị hoặc số tiền. Các công ty phải quản lý tốt các đơn đặt hàng chưa được giao của họ. Mặc dù các đơn đặt hàng chưa được giao luôn ở mức cao cho thấy nhu cầu tích cực của khách hàng đối với sản phẩm hay dịch vụ của công ty, nhưng cũng có rủi ro là khách hàng sẽ hủy đơn hàng nếu thời gian chờ giao hàng quá lâu. Các sản phẩm có tính đổi mới với sự công nhận thương hiệu mạnh mẽ trong các lĩnh vực như công nghệ thường xảy ra ít rủi ro này hơn.





