Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Beneish Model / Mô hình Beneish

Một mô hình toán học sử dụng các chỉ số tài chính và tám biến số để xác định xem một công ty có thao túng lợi nhuận của mình hay không. Các biến được xây dựng từ dữ liệu trong báo cáo tài chính của công ty và sau khi được tính toán, tạo Điểm M (M-Score) để mô tả mức độ mà lợi nhuận đã bị thao túng. Tám biến số đó là: 1. DSRI - Chỉ số các khoản phải thu trên doanh thu hàng ngày2. GMI - Chỉ số biên lợi nhuận gộp3. AQI - Chỉ số chất lượng tài sản4. SGI - Chỉ số tăng trưởng doanh số5. DEPI - Chỉ số khấu hao6. SGAI - Chỉ số chi phí bán hàng, chi phí chung và chi phí quản lý7. LVGI - Chỉ số đòn bẩy8. TATA - Tổng số tiền tích lũy trên tổng tài sản Sau khi tính toán, cả tám biến được kết hợp với nhau để đạt được điểm M (M-Score) cho công ty. M-score dưới -2,22 cho thấy công ty ít khả năng là người thao túng. M-Score lớn hơn -2,22 báo hiệu rằng công ty có khả năng là người thao túng.

Benefits Received Rule / Quy tắc lợi ích nhận được

1. Một lý thuyết về sự công bằng trong thuế thu nhập, cho rằng mọi người nên nộp thuế dựa trên trợ cấp họ nhận được từ chính phủ. 2. Một quy định về thuế yêu cầu một nhà tài trợ khi nhận được lợi ích hữu hình từ việc quyên góp từ thiện phải trừ đi giá trị của lợi ích đó từ số tiền quyên góp, trong đó số tiền quyên góp được xem như là một khoản khấu trừ thuế thu nhập. 1. Sự hấp dẫn của Quy tắc lợi ích nhận được là sự công bằng rõ ràng của nó - những người hưởng lợi từ một dịch vụ nên là những người trả tiền cho nó. Đây không phải là cách hệ thống thuế hoạt động ở Hoa Kỳ. Hệ thống thuế của Hoa Kỳ là một hệ thống lũy tiến (progressive) hay hệ thống khả năng thanh toán (ability-to-pay), nghĩa là những người kiếm được nhiều tiền hơn có xu hướng nộp thuế ở mức cao hơn và những người kiếm được ít tiền hơn có xu hướng nộp thuế ở mức thấp hơn, hoặc thậm chí nhận được các khoản trợ cấp lấy từ người nộp thuế mà không phải trả thuế. Một quy tắc thay thế khác là hệ thống thuế phẳng (flat tax system) trong đó mọi người đều trả thuế như nhau bất kể thu nhập. 2. Theo quy tắc lợi ích nhận được, nếu Jane mua một tấm vé 500 đô la tham dự buổi dạ tiệc gây quỹ phi lợi nhuận và nhận được bữa tối trị giá 100 đô la, cô ấy chỉ có thể yêu cầu khấu trừ 400 đô la tiền thuế.

Benefit Allowance / Trợ cấp lợi ích

Số tiền mà một công ty hay cơ quan chính phủ cung cấp cho người lao động với mục đích cụ thể, chẳng hạn như chi phí di chuyển, chăm sóc sức khỏe hoặc tài khoản chi tiêu linh hoạt. Trợ cấp lợi ích cung cấp cho nhân viên có thể được phân phối thông qua bảng lương trong biên chế. Người sử dụng lao động có thể dùng trợ cấp lợi ích để giúp nhân viên linh hoạt hơn trong việc tạo ra các gói lợi ích phù hợp nhất với nhu cầu của họ. Thay vì áp đặt một chính sách chăm sóc sức khỏe cho tất cả các nhân viên, ví dụ, người sử dụng lao động có thể đưa ra một chính sách cơ bản cộng thêm trợ cấp lợi ích. Người lao động có thể sử dụng trợ cấp lợi ích đối với các lợi ích bổ sung như bảo hiểm nha khoa hoặc bảo hiểm cho người phụ thuộc. Người sử dụng lao động cũng có thể cho phép người lao động chuyển trợ cấp lợi ích thành bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm khuyết tật, chăm sóc thị lực hoặc bất cứ kiểu lợi ích nào khác. Do đó, người lao động nhận được những lợi ích tùy chỉnh và người sử dụng lao động có thể cung cấp các gói lợi ích cạnh tranh, nhờ đó họ có thể tuyển dụng và giữ chân những nhân tài hàng đầu.

Benefit Allocation Method / Phương pháp phân bổ lợi ích

Phương pháp phân bổ lợi ích là một phương thức tài trợ cho chương trình hưu trí, trong đó một khoản thanh toán phí bảo hiểm được thực hiện để tài trợ cho một đơn vị lợi ích trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm (hoặc đơn vị thời gian cụ thể khác), khoản tài trợ dành cho dịch vụ được công nhận bởi người sử dụng lao động. Một chương trình hưu trí là một loại chính sách nghỉ hưu trong đó người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ mà nhân viên nhận được khi nghỉ hưu. Các chi tiết cụ thể về phương pháp phân bổ lợi ích của mỗi công ty sẽ bao gồm trong kế hoạch trợ cấp nhân viên của công ty đó. Với phương pháp phân bổ lợi ích, kế hoạch chỉ ra rằng đối với mỗi đơn vị dịch vụ (ví dụ mỗi năm), một nhân viên sẽ nhận được một số tiền nhất định (một số tiền cụ thể hoặc một tỷ lệ phần trăm lương cụ thể) từ chương trình hưu trí cho nhân viên. Nhân viên được trả lương cao hơn, hưởng các dịch vụ lâu hơn thường nhận được trợ cấp lớn hơn. Người sử dụng lao động sau đó có thể thay mặt nhân viên tiến hành thanh toán vào chương trình dưới dạng niên kim trả sau.

Beneficial Owner / Người chủ hưởng lợi

1. Một người được hưởng lợi từ quyền chủ sở hữu mặc dù tên chủ sở hữu là của người khác. 2. Bất cứ cá nhân hoặc một nhóm các cá nhân nào, trực tiếp hay gián tiếp, có quyền bỏ phiếu hoặc tác động tới quyết định giao dịch về một chứng khoán cụ thể. 1. Ví dụ, khi cổ phiếu của một quỹ tương hỗ được nắm giữ bởi một ngân hàng giám sát hoặc khi chứng khoán được nắm giữ bởi một nhà môi giới, tuy nhiên, chủ sở hữu thực sự là người chủ hưởng lợi (Beneficial Owner), vì lý do an toàn và tiện lợi, để ngân hàng hoặc nhà môi giới đứng tên cho mình. 2. Quyền sở hữu có lợi (Beneficial ownership) có thể được chia sẻ giữa một nhóm các cá nhân. Nếu người chủ hưởng lợi kiểm soát hơn 5% cổ phần thì phải nộp biên bản 13D (Schedule 13D) theo Mục 12 của Đạo luật Giao dịch Chứng khoán (Securities Exchange Act) năm 1934.

Người Chủ Hưởng Lợi (Beneficial Owner) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Benchmark Surplus / Thặng dư tiêu chuẩn

Thặng dư tiêu chuẩn là một thuật ngữ trong bảo hiểm để chỉ khoản thặng dư tới từ một nguồn vốn bổ sung, mà các khoản này cần được xem như là phần bổ sung vào dòng tiền. Thặng dư tiêu chuẩn sẽ được yêu cầu khi xảy ra các trường hợp bất khả kháng, là các trường hợp có thể làm gián đoạn hoặc suy yếu dòng tiền cần thiết cho một công ty bảo hiểm để thực hiện thanh toán các khoản trợ cấp trong tương lai mà họ đã nhận được phí bảo hiểm. Thặng dư tiêu chuẩn đề cập đến bất kỳ vốn chủ sở hữu cần thiết, thặng dư bổ sung vượt quá vốn chủ sở hữu hoặc thặng dư đang được nắm giữ bởi một công ty bảo hiểm hoặc ngành công nghiệp nào. Thặng dư tiêu chuẩn là tài sản lưu động cần thiết ngoài những tài sản hiện đang nắm giữ, mà một công ty bảo hiểm cần có để bù đắp các khoản bồi thường trợ cấp phát sinh.

Benchmark For Correlation Values / Chuẩn so sánh cho các giá trị tương quan

Một chuẩn so sánh hoặc điểm tham chiếu được lựa chọn bởi một quỹ đầu tư để đo lường các giá trị tương quan như beta, hệ số tương quan "r" và hệ số xác định "r^2". Các giá trị tương quan này cho biết mức độ liên quan giữa hiệu suất của quỹ và thị trường (sử dụng chuẩn so sánh làm đại diện cho thị trường). Một sự tương quan cao so với chuẩn so sánh thường được xem là thuận lợi cho quỹ nếu luận điểm đầu tư của quỹ theo sát các chuẩn so sánh.   Mức độ phù hợp của chuẩn so sánh cho các giá trị tương quan phụ thuộc vào chỉ thị đầu tư của quỹ. Ví dụ, một quỹ đầu tư vốn hóa lớn của Mỹ thường sử dụng S&P 500 làm chuẩn so sánh cho các giá trị tương quan, trong khi một quỹ đầu tư vốn hóa lớn của Canada sẽ sử dụng chỉ số phức hợp S&P/TSX (S&P/TSX Composite index) làm chuẩn so sánh.

Benchmark Error / Sai chuẩn so sánh

Một tình huống trong đó chuẩn so sánh sai được lựa chọn trong mô hình tài chính. Sai sót này có thể gây ra sự phân tán lớn trong dữ liệu phân tích hoặc dữ liệu học thuật, nhưng có thể dễ dàng tránh được bằng cách chọn chuẩn so sánh phù hợp nhất khi bắt đầu phân tích. Khi tạo danh mục đầu tư thị trường theo mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), điều quan trọng là sử dụng chuẩn so sánh hoặc thị trường phù hợp nhất khi tính toán. Ví dụ, nếu bạn muốn tạo một danh mục đầu tư chứng khoán Mỹ bằng cách sử dụng CAPM, thì không nên sử dụng Nikkei - một chỉ số của Nhật Bản - làm chuẩn so sánh. Theo đó, nếu muốn so sánh lợi nhuận danh mục đầu tư của mình, bạn nên sử dụng một chỉ số chứa các cổ phiếu tương tự. Ví dụ, nếu danh mục đầu tư của bạn nặng về công nghệ, bạn nên sử dụng Nasdaq làm chuẩn so sánh, thay vì S&P 500.

Benefit Period / Thời kỳ thụ hưởng

Thời kỳ thụ hưởng là khoảng thời gian mà trợ cấp được trả. Khoản trợ cấp này có thể bao gồm một chương trình trợ cấp chính phủ như Bảo hiểm sức khỏe cho người cao tuổi (Medicare), hoặc khoản thanh toán từ chính sách bảo hiểm, chẳng hạn như bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm khuyết tật. Thời kỳ thụ hưởng được xác định với từng chương trình hoặc trong hướng dẫn của từng chính sách. Thời kỳ thụ hưởng có thể thay đổi từ chính sách này sang chính sách khác. Ví dụ, thời kỳ thụ hưởng đặt trong bối cảnh Bảo hiểm sức khỏe cho người cao tuổi (Medicare) bắt đầu từ lúc người nhận bảo hiểm được đưa tới bệnh viện hoặc viện dưỡng lão (skilled nursing facility), và kết thúc khi người nhận bảo hiểm không còn nhận được bất cứ sự chăm sóc nào trong 60 ngày liên tiếp.

Thời Kỳ Thụ Hưởng (Benefit Period) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thời Kỳ Thụ Hưởng (Benefit Period) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Benefit Offset / Bù trừ trợ cấp

Một lượng giảm trong khoản thanh toán trợ cấp mà thành viên của một chương trình hưu trí được nhận, xảy ra khi thành viên đó còn nợ tiền với chương trình. Bù trừ trợ cấp nhằm mục đích điều chỉnh các khoản trợ cấp hưu trí mà thành viên của chương trình nhận được, dựa trên các khoản đóng góp quá hạn mà thành viên đó nhẽ ra phải trả trong quá khứ. Về cơ bản, các khoản đóng góp quá hạn mà thành viên còn nợ được khấu trừ vào các khoản thanh toán hưu trí của anh ta hoặc cô ta để đảm bảo các khoản này vẫn được trả cho chương trình. Loại bù trừ này cũng có thể xảy ra nếu thành viên tham gia nhận trợ cấp hưu trí từ các nguồn khác ngoài chương trình hưu trí. Đạo luật an sinh xã hội Hoa Kỳ (The U.S. Social Security Act) quy định về việc giữ lại tới 10% trợ cấp của thành viên tham gia nhằm bù đắp cho các khoản tiền còn nợ với chương trình.

Benefit Expense Ratio / Tỷ lệ chi phí lợi nhuận

Một chuẩn hoạt động dùng trong ngành bảo hiểm ý tế, được tính bằng cách chia các chi phí của công ty liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ y tế cho doanh thu từ phí đăng ký thành viên. Bởi tỷ lệ này liên quan đến các giá trị đô la rất lớn, một phần trăm thay đổi trong tỷ lệ chi phí lợi nhuận cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập ròng của công ty. Nó cũng được gọi là tỷ lệ tổn thất y tế (medical loss ratio) hoặc tỷ lệ lợi ích sức khỏe (health benefit ratio). Tỷ lệ chi phí lợi nhuận so sánh chi phí mà các nhà bảo hiểm y tế cần bỏ ra để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe với doanh thu mà họ nhận được. Các nhà cung cấp bảo hiểm nói chung muốn giảm thiểu tỷ lệ này bởi điều đó sẽ cho thấy sự tăng trưởng về doanh thu so với chi phí. Vào năm 2010, chính quyền tổng thống Obama đã ban hành các quy định liên quan đến tỷ lệ phí bảo hiểm mà công ty bảo hiểm y tế chi trả cho hoạt động chăm sóc bệnh nhân so với chi phí hành chính. Quy định chỉ rõ tỷ lệ hướng đến là 80% cho các công ty bảo hiểm và 85% cho các công ty bảo hiểm lớn.

Một chuẩn hoạt động dùng trong ngành bảo hiểm ý tế, được tính bằng cách chia các chi phí của công ty liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ y tế cho doanh thu từ phí đăng ký thành viên. Bởi tỷ lệ này liên quan đến các giá trị đô la rất lớn, một phần trăm thay đổi trong tỷ lệ chi phí lợi nhuận cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập ròng của công ty. Nó cũng được gọi là tỷ lệ tổn thất y tế (medical loss ratio) hoặc tỷ lệ lợi ích sức khỏe (health benefit ratio). Tỷ lệ chi phí lợi nhuận so sánh chi phí mà các nhà bảo hiểm y tế cần bỏ ra để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe với doanh thu mà họ nhận được. Các nhà cung cấp bảo hiểm nói chung muốn giảm thiểu tỷ lệ này bởi điều đó sẽ cho thấy sự tăng trưởng về doanh thu so với chi phí. Vào năm 2010, chính quyền tổng thống Obama đã ban hành các quy định liên quan đến tỷ lệ phí bảo hiểm mà công ty bảo hiểm y tế chi trả cho hoạt động chăm sóc bệnh nhân so với chi phí hành chính. Quy định chỉ rõ tỷ lệ hướng đến là 80% cho các công ty bảo hiểm và 85% cho các công ty bảo hiểm lớn.

Benefit Cost Ratio - BCR / Tỷ lệ chi phí lợi ích - BCR

Một tỷ lệ được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa chi phí và lợi íchcủa một dự án được đề xuất. Tỷ lệ chi phí lợi ích (BCR) thường được sử dụng trong tài chính doanh nghiệp để chi tiết hóa mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, cả về số lượng và chất lượng, khi thực hiện các dự án mới hoặc thay thế các dự án cũ.  Như đã đề cập, tỷ lệ được sử dụng để đo lường các yếu tố cả về định lượng và định tính, vì đôi khi lợi ích và chi phí không thể chỉ đo lường về mặt tài chính. Tuy nhiên, trong trường hợp có thể, các yếu tố định tính nên được chuyển sang thuật ngữ định lượng để kết quả trở nên dễ hiểu và dễ hình dung.

Một tỷ lệ được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa chi phí và lợi íchcủa một dự án được đề xuất. Tỷ lệ chi phí lợi ích (BCR) thường được sử dụng trong tài chính doanh nghiệp để chi tiết hóa mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, cả về số lượng và chất lượng, khi thực hiện các dự án mới hoặc thay thế các dự án cũ.  Như đã đề cập, tỷ lệ được sử dụng để đo lường các yếu tố cả về định lượng và định tính, vì đôi khi lợi ích và chi phí không thể chỉ đo lường về mặt tài chính. Tuy nhiên, trong trường hợp có thể, các yếu tố định tính nên được chuyển sang thuật ngữ định lượng để kết quả trở nên dễ hiểu và dễ hình dung.

Benchmark Bond / Trái phiếu tiêu chuẩn

Trái phiếu cung cấp một tiêu chuẩn so sánh mà theo đó hiệu suất của các trái phiếu khác có thể được đo lường. Trái phiếu chính phủ hầu như luôn được sử dụng làm trái phiếu tiêu chuẩn. Còn được gọi là "benchmark issue" hoặc "bellwether issue". Cụ thể hơn, trái phiếu tiêu chuẩn là chứng khoán mới nhất được phát hành trong một kỳ hạn nhất định. Để việc so sánh trở nên phù hợp và hữu ích, trái phiếu tiêu chuẩn và trái phiếu được đo lường dựa trên nó phải có tính thanh khoản, quy mô phát hành và lợi tức tương đương.

Belt And Suspenders / Thắt lưng và dây đeo

Một thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự bảo thủ và an toàn khi cho vay. Thắt lưng và dây treo (Belt And Suspenders) được sử dụng để mô tả các ngân hàng cẩn trọng, những người đòi hỏi các chính sách cho vay phải được tuân thủ rất nghiêm ngặt. Tổng quát hơn - vì việc sử dụng cả thắt lưng và dây đeo để giữ quần ngụ ý rằng - có quá nhiều quy trình an toàn để loại bỏ mọi rủi ro. Thuật ngữ này có thể là một lời khen, nhưng nó cũng có thể thể hiện sự chế giễu với việc bảo thủ quá mức Trong cuốn sách "Đúng lời, đúng nơi, đúng thời điểm" (The Right Word in the Right Place at the Right Time) (2004), William Safire đã trích dẫn một số ví dụ về việc sử dụng thắt lưng và dây đeo (belt and suspenders). Ông đã lưu ý trong tờ Dallas Morning từ năm 1987 rằng: "Để đủ điều kiện vào Danh sách ngân hàng thực hiện chính sách Thắt lưng và dây đeo (Belt And Suspenders) của Scott Burns, một ngân hàng phải có vốn chủ sở hữu chiếm ít nhất 10% tài sản." Ông cũng đề cập một phần trong Tạp chí Phố Wall (Wall Street Journal), trong đó nhà hoạch định chính sách của bà Clinton, Robert Rubin nói rằng "Chúng tôi sẽ thực hiện chính sách thắt lưng và dây đeo với họ", liên quan đến các hạn chế về vận động hành lang tại Nhà Trắng khi ông đảm nhận công việc mới tại ngân hàng.

Below The Market / Thấp hơn giá thị trường

Một lệnh đặt mua hoặc bán một chứng khoán ở giá thấp hơn giá thị trường hiện tại. Ví dụ, một nhà giao dịch có thể đặt lệnh giới hạn để mua một cổ phiếu ở một mức giá xác định thấp hơn giá hiện tại. Lệnh sẽ chỉ được đặt nếu mức giá xác định hoặc mức giá tốt hơn đạt được. Mặc dù việc thực hiện lệnh không được đảm bảo, việc đặt lệnh theo cách này, thấp hơn giá thị trường (below the market), giúp đảm bảo rằng mức giá mong muốn hoặc tốt hơn có thể đạt được. Đây cũng có thể là mức giá hoặc tỷ giá thấp hơn các điều kiện hiện hành trong một thị trường mở. Hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp ở mức giá thấp hơn mức giá "hiện hành", hoặc thông thường, có thể nói là thấp hơn giá thị trường. Các giao dịch viên và nhà đầu tư muốn đạt được mức giá hoặc vị thế tốt hơn có thể nhập một lệnh để mua với giá thấp hơn giá thị trường (below the market). Lệnh giới hạn mua cho phép các giao dịch viên chỉ định mức giá chứng khoán mà họ sẵn sàng mua; nếu lệnh giới hạn mua được đặt, lệnh sẽ được đặt tại giá xác định hoặc giá tốt hơn. Một lệnh bán thấp hơn giá thị trường (below the market) cho phép các giao dịch viên nhanh chóng dỡ bỏ vị thế. Bất động sản đôi khi được bán ở mức giá thấp hơn giá trị thị trường, có nghĩa là chúng được chào bán ở mức giá thấp hơn so với tài sản so sánh. Các tài sản như vậy được gọi là BMV, thấp hơn giá trị thị trường. Tài sản có thể được bán với giá thấp hơn giá trị thị trường của nó khi chủ sở hữu phải đối mặt với một số khó khăn tài chính như phá sản, ly dị, chứng thực di chúc hoặc nếu họ phải nhanh chóng đi tái định cư.

Below The Line Advertising / Quảng cáo "Below the line"

Nói chung, đây là một chiến lược quảng cáo trong đó sản phẩm được quảng bá trên các phương tiện truyền thông khác ngoài đài phát thanh, truyền hình, bảng quảng cáo, in ấn, phim và internet. Các loại quảng cáo "Below the Line" thường bao gồm các chiến dịch thư trực tiếp, triển lãm thương mại và các ấn phẩm giới thiệu sản phẩm; loại quảng cáo này có xu hướng ít tốn kém hơn và tập trung hơn. Quảng cáo "Below the Line" tìm cách tiếp cận đến người tiêu dùng (thay vì khách hàng trung tính (mass audience)) một cách trực tiếp thay vì thông qua một khâu trung gian, như trong trường hợp quảng cáo trong một chương trình truyền hình. Loại quảng cáo này thường tập trung vào các địa phương cụ thể và được sử dụng để quảng bá các sản phẩm mà người tiêu dùng sẽ muốn được nhìn thấy tận mắt. Nó có thể đi kèm với việc hỗ trợ bán hàng tại cửa hàng để giải thích các tính năng của sản phẩm.

Below Par / Dưới mệnh giá

Một thuật ngữ mô tả một trái phiếu có giá thấp hơn mệnh giá hoặc giá gốc,mà mệnh giá thường là 1.000 đô la. Vì giá trái phiếu được báo giá theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá, giá dưới mệnh giá thường là các mức giá có tỷ lệ nhỏ hơn 100 phần trăm. Một giao dịch trái phiếu dưới mệnh giá cũng giống như một giao dịch trái phiếu chiết khấu. Khi một trái phiếu giao dịch dưới mệnh giá, lợi suất hiện tại của nó cao hơn lãi suất coupon (coupon rate) cố định. Trái phiếu có thể được giao dịch dưới mệnh giá khi lãi suất tăng lên kể từ lúc được phát hành, xếp hạng tín dụng của nó giảm, có những lo ngại về rủi ro không thanh toán hoặc nguồn cung dư thừa. Chiết khấu của trái phiếu có thể thu hẹp khi đến ngày đáo hạn hoặc vào thời điểm thu hồi đầu tiên của nó, mà tại đó các nhà đầu tư sẽ nhận được mệnh giá ghi trên trái phiếu.

Below Market Interest Rate - BMIR / Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường - BMIR

Các chương trình liên quan đến nhà ở, trong đó cung cấp các khoản vay cho các ứng viên đủ điều kiện với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường. Nhiều thành phố đang thực hiện các chương trình mở rộng các khoản vay với mức Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường (BMIR) cho các cá nhân có thu nhập hạn chế, để mua hoặc sửa chữa nhà. Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị (HUD) cũng có chương trình cho thuê nhà dựa trên BMIR cho các cư dân được hỗ trợ bởi HUD. Lãi suất cho các chương trình BMIR thấp hơn đáng kể so với lãi suất thị trường, và xuống mức 0% trong một số trường hợp. Lãi suất thực tế phụ thuộc vào các yếu tố như chi phí tín dụng, mức tín nhiệm của chủ nhà, số tiền vay và thời hạn của khoản vay. BMIR cũng cho phép chủ sở hữu nhà ở được trợ cấp bởi chính phủ chuyển các khoản tiết kiệm cho người thuê bằng cách cho thuê với giá thấp hơn. Chương trình BMIR của Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị (HUD) được thành lập vào năm 1988, khi khoảng 300 khoản vay thế chấp nhà ở nhiều gia đình theo diện BMIR của họ được Cơ quan Tài chính Phát triển Arkansas (Arkansas Development Finance Authority) mua lại, với mục tiêu bảo tồn hàng ngàn đơn vị nhà ở thu nhập thấp.

Basing / Mức cơ sở

Giai đoạn mà giá cổ phiếu có rất ít hoặc gần như không có xu hướng. Mô hình giá kết quả là một đường thẳng. Mức cơ sở là trường hợp thường thấy sau khi một cổ phiếu hoặc thị trường trải qua một sự suy giảm kéo dài hoặc tăng một số lượng lớn. Nói cách khác, thị trường đang có một khoảng nghỉ. Một số cổ phiếu có thể hình thành mức cơ sở kéo dài trong vài năm trước khi xu hướng đảo chiều.

Basic Materials Sector / Khu vực nguyên vật liệu cơ bản

Một danh mục hàng hóa của các công ty chuyên về phát hiện, phát triển và xử lý nguyên liệu thô. Khu vực nguyên vật liệu cơ bản bao gồm khai thác và tinh chế kim loại, sản xuất hóa chất và sản phẩm lâm sản. Khu vực nguyên vật liệu cơ bản khá nhạy cảm với những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh. Bởi vì khu vực cung cấp nguyên liệu cho xây dựng, nó phụ thuộc vào một nền kinh tế mạnh. Khu vực này cũng nhạy cảm với các biến động cung cầu vì giá của nguyên liệu thô, chẳng hạn như vàng hay các kim loại khác, bị chi phối mạnh bởi nhu cầu.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55