Best Practices / Thông lệ tốt nhất
Một bộ các nguyên tắc, đạo đức hoặc ý tưởng biểu thị quá trình hành động hiệu quả hoặc thận trọng nhất. Các thông lệ tốt nhất thường được quy định bởi một cơ quan có thẩm quyền, chẳng hạn như cơ quan chủ quản hoặc nhà quản lý, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Mặc dù các thông lệ tốt nhất thường đưa ra đề xuất cho quá trình hành động, một số tình huống vẫn yêu cầu phải tuân thủ các thông lệ này. Thông lệ tốt nhất được dùng như một bản phác thảo chung cho một loạt các tình huống. Ví dụ, trong quy trình sản xuất, một danh sách các thông lệ tốt nhất có thể được đưa cho nhân viên, nhấn mạnh cách hiệu quả nhất để hoàn thành công việc của họ. Đối với kế toán viên, Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (Generally Accepted Accounting Principles) đại diện cho các thông lệ tốt nhất cho những người trong nghề. Một nhà quản lý đầu tư có thể tuân thủ theo các thông lệ tốt nhất khi quản lý tiền của khách hàng bằng việc đầu tư một cách thận trọng vào một danh mục đầu tư đa dạng.
Best Of Breed / Cổ phiếu tốt nhất trong ngành
Một cổ phiếu đại diện cho lựa chọn đầu tư tối ưu nhất trong một lĩnh vực hoặc một ngành cụ thể, nhờ vào chất lượng cao của cổ phiếu đó so với các đối thủ cạnh tranh. Từ lóng này có nguồn gốc từ các chương trình biểu diễn dành cho chó, trong đó con chó tốt nhất của mỗi giống sẽ giành được một giải thưởng và được trao danh hiệu "best of breed". Vì hầu hết các nhà đầu tư phải đối mặt với vấn đề vốn hạn chế cho mục đích đầu tư, điều quan trọng là vốn của họ phải được phân bổ tới các khoản đầu tư tốt nhất. Do đó, xác định cổ phiếu tốt nhất trong ngành là rất quan trọng. Một số tiêu chí để xác định xem một cổ phiếu có phải là "Cổ phiếu tốt nhất trong ngành" hay không bao gồm xem xét sự tăng trưởng doanh thu, thị phần và quản trị doanh nghiệp của công ty phát hành cổ phiếu so với đối thủ cạnh tranh.
Best Execution / Thực hiện lệnh tốt nhất
Trách nhiệm của nhà môi giới để cung cấp việc thực hiện lệnh thuận lợi nhất cho khách hàng. Thực hiện lệnh tốt nhất đòi hỏi các nhà môi giới phải có được giá tốt nhất cho một giao dịch trong khoảng thời gian ngắn nhất. Về cơ bản, đây là một biện pháp phòng ngừa được SEC đặt ra cho các nhà môi giới để đảm bảo luôn cung cấp cho nhà đầu tư những lợi ích tốt nhất. Thực hiện lệnh tốt nhất không chỉ là một chỉ dẫn về mặt đạo đức; nó cũng là một điều luật. Để tuân thủ biện pháp này, các đại lý môi giới (broker-dealers) phải báo cáo tới SEC hàng quý về cách các lệnh của khách hàng được định tuyến. Lệnh có thể được thực hiện theo một số cách, và phương thức được chọn sẽ ảnh hưởng đến lãi lỗ ròng của nhà đầu tư đối với giao dịch cũng như doanh thu của nhà môi giới.
Best Endeavors / Nỗ lực tối đa
Một thuật ngữ thường được tìm thấy trong các hợp đồng thương mại, đặt ra cho bên được yêu cầu đảm nhận một công việc, có nghĩa vụ phải dùng tất cả những nỗ lực cần thiết để thực hiện công việc đó. "Những nỗ lực tối đa" buộc một bên phải thực hiện nghĩa vụ chặt chẽ hơn "Những nỗ lực hợp lý" (reasonable endeavors). Nó tương đương với thuật ngữ "best efforts" được sử dụng rộng rãi trên thị trường chứng khoán. Giải thích pháp lý của nghĩa vụ "nỗ lực tốt nhất" là, nó đặt cho bên ký hợp đồng trách nhiệm thực hiện mọi nỗ lực hợp lý để đạt được mục tiêu mong muốn. Ngược lại, nghĩa vụ "nỗ lực hợp lý" (reasonable endeavors), có thể yêu cầu bên ký hợp đồng không thực hiện nhiều hơn một quá trình hành động. Các ranh giới giữa "Nỗ lực tối đa" và "nỗ lực hợp lý" đôi khi có thể bị xóa nhòa, điều này có thể dẫn đến việc các bên liên quan đưa vấn đề này ra tòa. Trong những trường hợp như vậy, tòa án có thể đánh giá một số yếu tố trước khi đưa ra phán quyết, chẳng hạn như mức độ nỗ lực, khả năng đứng vững về thương mại và sự hiện diện của các nghĩa vụ mâu thuẫn.
Best Efforts Mortgage Lock / Khóa thế chấp với nỗ lực hết sức
Khi việc bán một khoản thế chấp trong thị trường thế chấp thứ cấp đòi hỏi người bán, thường là người khởi tạo thế chấp, phải thực hiện một "Nỗ lực hết sức" để giao khoản thế chấp cho người mua. Loại hình giao dịch này tồn tại nhằm chuyển rủi ro rằng một khoản vay sẽ không được khóa sổ từ người khởi tạo sang thị trường thứ cấp. Người khởi tạo thế chấp, những người tự phòng ngừa rủi ro từ các dòng chảy thế chấp (mortgage pipelines) và giả định rủi ro giảm giá thường bán các khoản thế chấp của họ vào thị trường thế chấp thứ cấp thông qua việc bắt buộc hoặc chuyển nhượng các giao dịch thương mại, cả hai việc này thường chỉ thị việc định giá tốt hơn là những nỗ lực hết sức để khóa hoặc giao dịch, vì các phòng hộ rủi ro (hedge risks) không được chuyển nhượng cho người mua.
Best Efforts / Nỗ lực hết sức
Một thỏa thuận trong đó một nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán hứa hẹn sẽ thực hiện một nỗ lực đầy đủ để bán càng nhiều cổ phiếu trong đợt phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) càng tốt. Các thỏa thuận nỗ lực hết sức được sử dụng chủ yếu cho các chứng khoán có rủi ro cao, chẳng hạn như các đợt phát hành cổ phiếu chưa có kinh nghiệm hoặc trong điều kiện thị trường không lý tưởng. Nỗ lực hết sức giúp giảm bớt trách nhiệm của các nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán đối với hàng tồn kho không bán được trong trường hợp họ không thể bán hết tất cả chứng khoán. Người bảo lãnh phát hành chứng khoán không đảm bảo rằng họ sẽ bán hết toàn bộ cổ phiếu IPO trong thỏa thuận nỗ lực hết sức. Một thỏa thuận như vậy sẽ hạn chế rủi ro của bên bảo lãnh, nhưng cũng có mặt hạn chế vì bên bảo lãnh nhận được một khoản phí cố định cho các dịch vụ của mình. Nhà bảo lãnh và nhà phát hành có thể tiến hành IPO theo nhiều cách khác nhau. Trái ngược với thỏa thuận nỗ lực hết sức, một thỏa thuận mua đứt (bought deal) yêu cầu bên bảo lãnh phải mua toàn bộ cổ phiếu IPO và lợi nhuận của bên bảo lãnh dựa trên số lượng cổ phiếu bán được, và chênh lệch giữa giá mua chiết khấu và giá bán cổ phiếu cho công chúng.
Best Bid / Chào mua tốt nhất
Giá chào mua cao nhất cho một công cụ giao dịch cụ thể trong số tất cả những chào mua được đưa ra bởi các nhà tạo lập thị trường cạnh tranh. Chào mua tốt nhất thực sự là mức giá cao nhất mà một nhà đầu tư sẵn sàng trả để mua một tài sản. Chào mua là đề nghị được đưa ra bởi một nhà giao dịch, nhà đầu tư hoặc chuyên gia trong ngành khác để mua một chứng khoán. Chào mua ghi rõ cả giá mà người mua sẵn sàng trả và số lượng chứng khoán họ mong muốn. Chào mua cũng đề cập đến giá mà một nhà tạo lập thị trường sẵn sàng bỏ ra để mua một chứng khoán. Chào mua tốt nhất ngược lại với chào bán tốt nhất. Giá chào bán và chào mua tốt nhất quốc gia (NBBO), trong đó đề cập đến yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ (SEC), là giá chào mua và chào bán mà các nhà giao dịch và nhà đầu tư thường thấy. Quy định này được yêu cầu bởi SEC nhằm cung cấp giá chào mua và chào bán tốt nhất cho khách hàng. Những nhà giao dịch chủ động, nhà giao dịch ngắn hạn và nhà giao dịch trong ngày thường nghiên cứu các báo giá cấp 2 bao gồm tất cả giá chào mua và chào bán hiện tại cho một công cụ giao dịch cụ thể. NBBO được cập nhật liên tục trong suốt phiên giao dịch, để khách hàng có thể truy cập các mức giá này.
Best Ask / Chào bán tốt nhất
Giá chào bán thấp nhất trong số tất cả những chào bán được đưa ra bởi các nhà tạo lập thị trường cạnh tranh cho một công cụ giao dịch cụ thể. Giá chào bán tốt nhất thực sự là mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chào giá cho một tài sản, và chào bán tốt nhất là giá chào bán thuận lợi nhất được đưa ra tại một thời điểm nhất định cho một chứng khoán cụ thể. Chào bán còn được gọi là "offer price". Giá chào bán và chào mua tốt nhất quốc gia (NBBO) là những giá chào mua và chào bán mà các nhà giao dịch và nhà đầu tư thường thấy. Những nhà giao dịch chủ động, nhà giao dịch ngắn hạn và nhà giao dịch trong ngày thường nghiên cứu các báo giá cấp 2, bao gồm tất cả giá chào mua và chào bán hiện tại cho một công cụ giao dịch cụ thể. NBBO được cập nhật liên tục trong suốt phiên giao dịch, để khách hàng có thể truy cập các mức giá này.
Best And Final Offer / Chào giá cuối cùng và tốt nhất
1. Trong bất động sản, là chào giá cuối cùng và cao nhất của người mua tiềm năng. Một chào giá cuối cùng và tốt nhất thường được nộp để đáp lại một cuộc đấu thầu. Một người bán sau khi nhận được một số chào giá sẽ yêu cầu tất cả các nhà thầu hoặc các nhà thầu hàng đầu gửi các Chào giá cuối cùng và tốt nhất của họ. Loại chào giá này trình bày các điều khoản có lợi nhất mà người mua sẵn sàng cung cấp cho người bán để mua bất động sản. Trong nhiều tình huống, người bán sẽ yêu cầu những người mua tiềm năng chỉ gửi một chào giá mà đó là chào giá cuối cùng và tốt nhất của họ. 2. Trong ký kết hợp đồng chính phủ, đây là phản hồi của nhà cung cấp đối với yêu cầu của nhân viên ký kết hợp đồng, rằng các nhà cung cấp nộp hồ sơ dự thầu cuối cùng và hấp dẫn nhất của họ để bảo đảm hợp đồng cho một dự án cụ thể. Chào giá cuối cùng và tốt nhất được nộp trong vòng đàm phán cuối cùng. 1. Ngoài việc tăng giá mua, trong chào giá cuối cùng và tốt nhất, người mua tiềm năng có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian kết thúc, yêu cầu ít nhượng bộ hơn từ phía người bán và / hoặc miễn các khoản dự phòng cho kiểm tra nhà ở hoặc phê duyệt tài chính. Người mua sẽ thực hiện những thay đổi này nhằm nỗ lực trở thành nhà thầu cạnh tranh nhất và nhận được hợp đồng. 2. Chào giá cuối cùng và tốt nhất của một công ty cho hợp đồng chính phủ sẽ là chào giá có giá thấp nhất với các điều khoản có lợi nhất. Bằng cách yêu cầu một chào giá cuối cùng và tốt nhất, cơ quan chính phủ có thể có thể đảm bảo một hợp đồng ở mức giá thấp hơn.
Best Alternative To A Negotiated Agreement - BATNA / Giải pháp thay thế tốt nhất cho thỏa thuận đàm phán - BATNA
Quá trình hành động sẽ được tiến hành bởi một bên tham gia đàm phán nếu các cuộc đàm phán thất bại và không có thỏa thuận nào đạt được. Thuật ngữ BATNA được đặt ra bởi các nhà nghiên cứu đàm phán là Roger Fisher và William Ury trong cuốn sách bán chạy nhất của họ vào năm 1981: "Đi đến lời đồng ý: Đàm phán thỏa thuận mà không cần nhượng bộ." BATNA của một bên đề cập đến những gì họ có thể trông cậy vào nếu một cuộc đàm phán không thành công. BATNA có thể được phát triển cho bất cứ tình huống nào đòi hỏi phải đàm phán, từ đàm phán việc tăng lương cho đến giải quyết các xung đột phức tạp. Mặc dù BATNA không phải lúc nào cũng dễ để nhận biết, Fisher và Ury đã phác thảo một quy trình ba bước đơn giản để xác định nó: Xây dựng danh sách các hành động cần thực hiện nếu không đạt được thỏa thuận; chuyển đổi các ý tưởng hứa hẹn hơn thành các lựa chọn thực tế; và dự kiến lựa chọn tùy chọn có vẻ hợp lý nhất.
Bespoke CDO / Nghĩa vụ nợ được thế chấp kiểu Bespoke
Một loại nghĩa vụ nợ được thế chấp (CDO) mà một đại lý tạo ra cho một nhóm các nhà đầu tư cụ thể. CDO được cấu trúc theo nhu cầu của nhà đầu tư. Nhóm nhà đầu tư sau đó thường chỉ mua một phần của CDO này. Các phần còn lại được giữ lại bởi các đại lý, những người mà thường sẽ cố gắng để phòng ngừa rủi ro thua lỗ. Nghĩa vụ nợ được thế chấp kiểu Bespoke (Bespoke CDOs) là một công cụ khá mới trong thế giới tài chính. Chúng cho phép các nhà đầu tư nhắm tới những nét đặc trưng rất cụ thể của rủi ro/lợi nhuận cho chiến lược đầu tư hoặc những yêu cầu phòng ngừa của họ. Thường có rất ít hoặc gần như không có thị trường thứ cấp nào cho CDOs kiểu bespoke, vì vậy việc định giá cần phải tính toán dựa trên những mô hình lý thuyết tài chính phức tạp.
Bertil Ohlin / Nhà kinh tế học Bertil Ohlin
Một nhà kinh tế học người Thụy Điển, người đã đạt giải Nobel kinh tế (Nobel Memorial Prize in Economics) năm 1977, cùng với James Meade, cho nghiên cứu của ông về thương mại quốc tế và di chuyển vốn tư bản quốc tế. Ohlin sinh năm 1899 tại Thụy Điển và mất năm 1979. Ông có bằng tiến sĩ tại Đại học Stockholm và giảng dạy tại Đại học Copenhagen và Trường Kinh tế Stockholm. Ohlin đã phát triển một lý thuyết có ảnh hưởng lớn đến thương mại quốc tế, mô hình Hecksher-Ohlin, cùng với người hướng dẫn của mình, Eli Hecksher. Mô hình, liên quan đến lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, cho rằng các quốc gia sẽ xuất khẩu hàng hóa mà họ có thể sản xuất với giá rẻ và nhập khẩu những hàng hóa có giá thành sản xuất đắt đỏ. Những lợi thế hoặc bất lợi tương đối của một đất nước về đất đai, lao động và vốn sẽ quyết định đâu là yếu tố quan trọng nhất cho xuất nhập khẩu. Lý thuyết Hecksher-Ohlin cho rằng các quốc gia sẽ chuyên môn hóa vào các ngành công nghiệp mà họ có thể sử dụng tài nguyên của mình một cách hiệu quả cao nhất.
Berry Ratio / Tỷ lệ Berry
Tỷ lệ lợi nhuận gộp trên chi phí hoạt động của một công ty. Tỷ lệ này được sử dụng như một chỉ số về lợi nhuận của công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Hệ số tỷ lệ từ 1 trở lên cho thấy công ty đang tạo ra lợi nhuận cao hơn tất cả các chi phí biến đổi, trong khi hệ số thấp hơn 1 cho thấy công ty đang thua lỗ. Công thức như sau: Tỷ lệ này dùng để đo lường lợi nhuận của một công ty. Một hệ số cao có nghĩa là công ty đang làm ăn có lãi, trong khi hệ số thấp có nghĩa là công ty không đạt được lợi nhuận cao. Sử dụng phương pháp này kết hợp với các chỉ số đo mức lợi nhuận khác sẽ đảm bảo tính chính xác cao hơn.
Bernoulli's Hypothesis / Giả thuyết Bernoulli
Giả thuyết được đưa ra bởi nhà toán học Daniel Bernoulli nhằm mở rộng bản chất của rủi ro đầu tư và lợi nhuận thu được từ một khoản đầu tư. Bernoulli cho rằng việc một nhà đầu tư chấp nhận rủi ro không chỉ kết hợp những tổn thất có thể xảy ra, mà còn cả lợi ích, hay giá trị nội tại của chính khoản đầu tư. Thuật ngữ còn được biết đến là "Giả thuyết lợi ích dự kiến". (expected utility hypothesis) Liên quan mật thiết tới quy luật lợi suất cận biên giảm dần, Giả thuyết Bernoulli về cơ bản tuyên bố một người sẽ không chấp nhận lựa chọn khoản đầu tư rủi ro cao nếu lợi nhuận tiềm năng mang lại ít lợi ích, hoặc giá trị. Một nhà đầu tư trẻ vẫn chưa đạt đến thời điểm chín muồi trong sự nghiệp có thể chấp nhận rủi ro đầu tư lớn hơn, bởi lợi nhuận tiềm năng có thể vô cùng giá trị so với sự thiếu giàu có một cách tương đối của một người như vậy. Mặt khác, một nhà đầu tư đã nghỉ hưu với số tiền tiết kiệm lớn trong tài khoản ngân hàng sẽ không tìm kiếm các khoản đầu tư có nhiều biến động hoặc rủi ro, vì lợi ích tiềm năng có thể không đáng so với rủi ro.
Bermuda Swaption / Hợp đồng quyền chọn hoán đổi Bermuda
Một công cụ tài chính phái sinh cung cấp cho người mua quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, thực hiện hoán đổi lãi suất tại vào những ngày được xác định trước đó. Người mua chỉ có thể thực hiện quyền chọn vào những ngày xác định này. Ngược lại, hợp đồng quyền chọn hoán đổi đơn giản (plain vanilla swaption) sẽ cung cấp cho người mua quyền chọn để tham gia vào một hoán đổi lãi suất vào ngày đáo hạn của chứng khoán phái sinh. Hợp đồng quyền chọn hoán đổi (swaptions) là một trong bốn phương pháp cơ bản để rút khỏi một giao dịch hoán đổi trước ngày chấm dứt giao dịch. Hợp đồng quyền chọn hoán đổi về cơ bản cho phép các nhà đầu tư bù đắp giá trị của giao dịch hoán đổi mà họ muốn rút lui. Hợp đồng quyền chọn hoán đổi Bermuda hoạt động theo cách tương tự như quyền chọn Bermuda, khi chúng chỉ có thể được thực hiện vào những ngày được xác định trước, và thường xác định giá trị bằng cách sử dụng Mô phỏng Monte Carlo (Monte Carlo Simulation) thay vì các mô hình thông dụng khác, như mô hình định giá hợp đồng quyền chọn.
Bermuda Option / Quyền chọn Bermuda
Một loại quyền chọn không quá phổ biến chỉ có thể được thực hiện vào những ngày được xác định trước, thường là hàng tháng. Quyền chọn Bermuda là sự kết hợp giữa quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểu châu Âu. Quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện được vào bất cứ thời gian nào giữa ngày mua và ngày đáo hạn. Ngược lại, quyền chọn kiểu châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn. Quyền chọn Bermuda có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn, và vào các ngày xác định trong khoảng thời gian từ ngày mua tới ngày đáo hạn. Các quyền chọn ít phổ biến khác bao gồm quyền chọn nhị phân (binary options) và quyền chọn điều chỉnh số lượng (quantity-adjusting options), hay thường được gọi vắn tắt là quanto options. Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh cung cấp cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua (call) hoặc bán (put) một chứng khoán ở một mức giá cụ thể vào hoặc trước một thời điểm xác định. Quyền chọn Bermuda cung cấp cho người bán hợp đồng (the writer) quyền kiểm soát lớn hơn, đồng thời cung cấp cho người mua một hợp đồng ít đắt đỏ hơn so với quyền chọn kiểu Mỹ, và không khắt khe như quyền chọn kiểu châu Âu. Quyền chọn Bermuda thường không đắt như quyền chọn kiểu Mỹ, bởi phí bảo hiểm lớn hơn mà quyền chọn kiểu Mỹ yêu cầu do tính linh hoạt của nó.
Berlin Stock Exchange (BER) .B / Sàn giao dịch chứng khoán Berlin (BER)
Sàn giao dịch chứng khoán Berlin (BER) được thành lập vào năm 1685, là một trong những sàn giao dịch chứng khoán lâu đời nhất ở Đức. Sàn giao dịch chứng khoán Berlin sáp nhập với sàn giao dịch Borse Bremen năm 2003, và phiên bản mới này được gọi là sàn giao dịch Borse Berlin-Bremen. Sàn giao dịch sau đó đã áp dụng phương thức giao dich theo đường thẳng (Equiduct Trading), cho phép giao dịch nhiều cổ phiếu nước ngoài hơn và mở rộng các sản phẩm cung ứng. BER đưa ra danh sách hơn 6000 công ty Hoa Kỳ, và điều này đã làm dấy lên rất nhiều sự tranh cãi xung quanh sàn giao dịch. Các cuộc tranh cãi càng bị thổi bùng lên khi sự thật là có hơn 1000 công ty trong số đó được đưa vào danh sách mà không có bất cứ sự phê duyệt nào.
Bequest / Để lại tài sản thông qua di chúc
Quy trình trao tặng cổ phiếu, trái phiếu hoặc bất kỳ tài sản nào khác cho người thụ hưởng thông các điều khoản của di chúc. Việc để lại tài sản thông qua di chúc có thể được thực hiện cho gia đình, bạn bè, các tổ chức và quỹ từ thiện.
Benjamin Method / Phương pháp đầu tư Benjamin
Cách tiếp cận đầu tư với mục đích tuân theo các chiến lược được thực hiện bởi Benjamin Graham. Phương pháp đầu tư Benjamin dựa trên các nguyên tắc cơ bản của đầu tư giá trị, đó là quá trình tìm kiếm các cổ phiếu bị định giá thấp. Benjamin Graham, người sáng lập trường phái đầu tư giá trị, chủ yếu quan tâm đến việc giảm thiểu tổn thất thay vì tối đa hóa lợi nhuận. Phương pháp đầu tư Benjamin tập trung vào các chỉ số như tỷ lệ P/E, cho phép các nhà đầu tư xác định thu nhập của một công ty đắt hơn so với các đối thủ cạnh tranh như thế nào. Tuy nhiên, thay vì chỉ dựa vào các số liệu tĩnh, một bức tranh đầy đủ chỉ có thể được xác định bằng cách kiểm tra chất lượng của thu nhập, cũng như các phương pháp đo lường hiệu quả của công ty khác.
Benjamin Graham / Benjamin Graham
Một học giả và nhà phân tích tài chính, người được công nhận rộng rãi là cha đẻ của phương pháp đầu tư giá trị. Cuốn sách nổi tiếng của ông, "Nhà đầu tư thông minh", đã được công nhận là một trong những cuốn sách về đầu tư tốt nhất và quan trọng nhất minh họa các nguyên tắc cơ bản của chiến lược đầu tư giá trị. Graham có ảnh hưởng sâu sắc đến học trò của ông là Warren Buffett, người đã trở thành nhà đầu tư nổi tiếng nhất mọi thời đại, tốt nghiệp tại Đại học Columbia. Graham đã thấm nhuần các nguyên tắc cơ bản của đầu tư giá trị vào Buffett - những nguyên tắc mà ông dựa vào để tích lũy được một trong những khối tài sản cá nhân lớn nhất thế giới.






