Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Big Box Retailer / Siêu cửa hàng bán lẻ độc lập

Đây là một cửa hàng bán lẻ với một không gian khổng lồ, cung cấp nhiều loại sản phẩm cho khách hàng của mình. Các cửa hàng này đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô tập trung vào khối lượng bán hàng lớn. Bởi vì khối lượng lớn, biên lợi nhuận cho mỗi sản phẩm có thể được hạ xuống, dẫn tính cạnh tranh trong giá của hàng hóa. Thuật ngữ "big-box" có nguồn gốc từ hình dáng vật lý của cửa hàng. Nằm trong các tòa nhà quy mô lớn hơn 50.000 feet vuông, cửa hàng này được thiết kế đơn giản và thường giống như một cái hộp lớn. Wal-mart, Best Buy và Ikea là những ví dụ về các nhà siêu bán lẻ độc lập.

Big Board / Chiếc bảng lớn - Big Board

Đây là một biệt danh của Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE), tọa lạc tại số 11 phố Wall, thành phố New York. Sàn giao dịch chứng khoán New York, hay Big Board, là sàn giao dịch chứng khoán lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Đây là sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới, trên mặt giá trị vốn hóa thị trường của các cổ phiếu được niêm yết. Hai trong số các tòa nhà NYSE được chỉ định là Di tích lịch sử quốc gia (National Historic Landmarks). NYSE bắt nguồn từ năm 1792 với việc ký kết Thỏa hiệp dưới gốc cây sung dâu (Buttunwood Agreement) và có tên gọi hiện tại vào năm 1863. Big Board mở cửa giao dịch từ thứ Hai đến thứ Sáu, với giờ giao dịch thông thường, được lên lịch trình giữa 9:30 sáng và 4:00 chiều EST. NYSE đóng cửa vào cuối tuần cũng như trong một số ngày lễ nhất định, và hiếm khi đóng cửa trong suốt thời gian xảy ra các sự kiện thảm khốc như các cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã làm NYSE phải đóng cửa trong bốn phiên.

Big Bath / Nghiệp vụ Big Bath

Đây là chiến lược thao túng báo cáo thu nhập của công ty để làm cho kết quả kém đi thậm chí trông còn tồi tệ hơn. Big Bath thường được thực hiện trong một năm hoạt động kinh doanh kém hiệu quả để làm giả sự tăng lên của thu nhập năm tới. Thu nhập tăng cao có thể làm cho các giám đốc điều hành nhận một khoản tiền thưởng lớn hơn. Các CEO mới đôi khi sử dụng Bigh Bath để đổ lỗi cho CEO trước đó về những hiệu suất kém của công ty và hứa hẹn cho những cải tiến trong năm tới. Ví dụ, nếu một CEO kết luận rằng các mục tiêu thu nhập tối thiểu không thể được thực hiện trong một năm nhất định, anh ấy / cô ấy sẽ có động cơ để chuyển các khoản thu nhập từ hiện tại sang tương lai vì khoản bồi thường của CEO không thay đổi bất kể anh ấy / cô ấy bỏ lỡ các mục tiêu một chút hoặc rất nhiều. Bằng cách chuyển lợi nhuận về phía trước - bằng cách trả trước các chi phí, xóa sổ và / hoặc trì hoãn việc thực hiện doanh thu - CEO này tăng cơ hội có thể nhận được một khoản tiền thưởng lớn vào năm sau.

Bifurcation / Lưỡng cực

Đây là việc chia một tổng thể lớn hơn hoặc cơ thể chính thành hai đơn vị nhỏ hơn và riêng biệt. Lưỡng cực có thể xảy ra khi một công ty chia thành hai bộ phận riêng biệt, từ đó tạo ra hai công ty mới, mỗi công ty có thể phát hành cổ phiếu cho các cổ đông. Các cổ đông trong công ty ban đầu được phát hành cổ phiếu của công ty mới thông qua việc tổ chức lại công ty. Các công ty có thể tìm kiếm sự lưỡng cực cho các lợi thế nhất định về thuế. Lưỡng cực (Bifurcation) cũng đề cập đến việc phân tích hoặc đánh giá các điều kiện thị trường dựa trên hai hoàn cảnh riêng biệt. Lưỡng cực (Bifurcation), vì nó liên quan đến tài chính, thường đề cập đến việc chia một công ty thành hai công ty riêng biệt. Điều này có thể cung cấp lợi thế về thuế cho công ty cũng như tăng cơ hội tài chính cho các cổ đông. Thuật ngữ lưỡng cực có các ứng dụng khác trong luật pháp, thủy văn học, động lực học, toán học, kinh tế học, hóa học, giải phẫu và sinh lý học. Trong mỗi ứng dụng, phép lưỡng cực đề cập đến sự phân tách ở hai trong một nguyên tố hay hệ thống nhất định, như sự phân tách của một nguyên tử hydro đơn lẻ tham gia vào hai liên kết hydro.

Biflation / Lạm phát kết hợp với giảm phát

Thuật ngữ này thể hiện sự tồn tại đồng thời của lạm phát và giảm phát trong một nền kinh tế. Lạm phát kết hợp với giảm phát- Biflation, trong khi dường như là một nghịch lý, kết quả khi lạm phát trong tài sản hàng hóa cùng tồn tại với giảm phát trong tài sản dựa trên nợ. Lạm phát kết hợp với giảm phát (Biflation) thường xảy ra khi một sự phục hồi kinh tế mỏng manh làm cho ngân hàng trung ương mở ra các con quay tiền tệ trong nỗ lực để kích thích nền kinh tế. Điều này có thể dẫn đến mức giá cao hơn cho một số tài sản nhất định như năng lượng cũng như các kim loại quý, và mức giá thấp hơn đối với các tài sản của đòn bẩy nợ như bất động sản và ô tô. Thuật ngữ "biflation" được đưa ra bởi nhà phân tích F. Ostern Brown, người đã giới thiệu nó vào năm 2003. Biflation là một thuật ngữ để mô tả tình trạng của nền kinh tế Hoa Kỳ trong những năm sau cuộc Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Sự phục hồi kinh tế khó khăn từ năm 2009 trở đi được thể hiện bởi tỷ lệ thất nghiệp cao và một lĩnh vực nhà đang suy thoái. Điều này khiến Cục Dự trữ Liên bang giải phóng hàng nghìn tỷ đô la sự kích thích tiền tệ để bắt đầu nền kinh tế, trong khi vẫn cam kết giữ lãi suất thấp cho đến năm 2014. Kết quả là, trong khi một số lĩnh vực như nhà ở, xu hướng lạm phát đã trở nên rõ ràng trong giá cả của hàng hóa như xăng, thực phẩm và vàng.

BIF (Burundi Franc) / Đồng tiền BIF (Burundi Franc)

Thuật ngữ này là chữ viết tắt hoặc ký hiệu tiền tệ cho đồng Burundi franc (BIF). Đồng Burundi franc được tạo thành từ 100 centimes, nhưng các đồng tiền xu chưa được phát hành theo các mệnh giá này kể từ khi Burundi giới thiệu loại tiền riêng của quốc gia này. Burundi bắt đầu phát hành tiền tệ riêng của mình (francs), vào năm 1964, trước đó Burundi đã sử dụng đồng rupi của Đông Phi nước Đức (trước năm 1916), đồng franc Congo của Bỉ (1916 - 1959), và Rwanda và Burundi francs (1960 - 1963). Các kế hoạch đang được tiến hành để thay đổi tiền tệ quốc gia một lần nữa vào cuối năm 2009 với một loại tiền tệ chung (đồng shilling của Đông Phi) cho 5 quốc gia thành viên của Cộng đồng Đông Phi.

Bid-to-Cover Ratio / Tỷ lệ giá đặt mua trúng thầu

Thuật ngữ này dùng để chỉ số giá đặt mua đạt được trong cuộc đấu giá công trái khi so sánh với số giá đặt mua được chấp nhận.  Tỷ lệ cao (trên 2,0) cho biết là việc đặt giá mua rất năng nổ và cuộc đấu giá coi như thành công. Còn tỷ lệ thấp cho biết Nhà nước có khó khăn trong việc bán trái phiếu, được đánh dấu bằng một mức chênh lệch lớn giữa giá đặt mua trung bình và giá đặt mua thấp nhất được chấp nhận.

Bid Wanted In Competition - BWIC / Đấu thầu cạnh tranh- BWIC

Đây là một tình huống mà một nhà đầu tư tổ chức nộp danh sách đấu thầu trái phiếu của mình cho các đại lý chứng khoán khác nhau. Trong tình huống cạnh tranh muốn có giá thầu, các đại lý được phép đặt giá thầu trên các chứng khoán niêm yết. Các đại lý có giá thầu cao nhất sau đó được liên lạc. Cách tiếp cận này hoạt động tốt nhất trên chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn. Đối với các tình huống có liên quan đến trái phiếu ít thanh khoản, một nhà đầu tư sử dụng một đại lý tương tự như một nhà môi giới. Một đơn đặt hàng với phạm vi trải rộng đã xác định trước được gửi đến đại lý và tùy thuộc vào đại lý để điền vào đơn hàng đó trong khoảng thời gian giới hạn.

Bid Tick / Thay đổi giá chào mua

Một dấu hiệu cho thấy giá chào mua mới nhất đang cao hơn, thấp hơn hay bằng với giá chào mua trước đó. Thay đổi giá chào mua (bid tick) theo dõi sự biến động giá mua của tất cả các chào mua được đặt trong một thị trường mở, cung cấp thông tin theo thời gian thực cho các nhà giao dịch và người tham gia thị trường về chiều hướng của giá mua ở bất kỳ khoảng thời gian nhất định nào. Ngược lại, thay đổi giá chào mua (ask tick) sẽ theo dõi các yêu cầu bán ra trong cùng khoảng thời gian.  Chiều hướng của bid tick rất quan trọng đối với các nhà giao dịch tổ chức, là những người di chuyển một số lượng lớn cổ phiếu trong một khoảng thời gian nhỏ. Các nhà giao dịch theo ngày cũng phụ thuộc rất nhiều vào chiều hướng của bid tick khi đưa ra quyết định giao dịch. Bằng cách theo dõi bid tick, các nhà giao dịch có thể tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy thị trường đang kỳ vọng giá sẽ di chuyển như thế nào và mức chênh lệch chung giữa giá chào mua và giá chào bán.

Bid Rigging / Gian lận thầu

Một kế hoạch trong đó nhiều doanh nghiệp thông đồng với nhau để một doanh nghiệp cạnh tranh có thể chắc chắn nhận được một hợp đồng cho hàng hóa hoặc dịch vụ ở mức giá được xác định trước. Gian lận thầu kìm hãm cạnh tranh trên thị trường tự do, vì mức giá gian lận sẽ cao một cách bất công. Đạo luật Sherman năm 1890 quy định, việc gian lận thầu là bất hợp pháp theo Đạo luật chống độc quyền của Mỹ. Gian lận thầu là một trọng tội có thể bị phạt tiền, đi tù hoặc cả hai. Có bốn loại gian lận thầu chính: triệt tiêu giá thầu (bid suppression), đấu thầu bổ sung (complementary bidding), luân chuyển giá thầu (bid rotation) và hợp đồng thầu phụ (subcontracting). Đấu thầu bổ sung là kế hoạch gian lận thầu phổ biến nhất, trong đó một số "đối thủ" gửi chào giá mà họ biết người mua sẽ từ chối vì giá quá cao hoặc các điều khoản không chấp nhận được để ngụy tạo sự đấu thầu hợp pháp trong khi vẫn đảm bảo rằng "đối thủ" được sắp xếp từ trước sẽ thắng thầu.

Bid Bond / Trái phiếu thầu

Một khoản nợ được đảm bảo bởi một nhà thầu cho công tác xây dựng hoặc cho một quy trình lựa chọn dựa trên đấu thầu tương tự, nhằm mục đích cung cấp sự đảm bảo tới chủ dự án rằng nhà thầu sẽ đảm nhận công việc nếu được lựa chọn. Sự tồn tại của trái phiếu thầu cung cấp cho chủ sở hữu đảm bảo rằng nhà thầu có các phương tiện tài chính để thực hiện công việc với mức giá được trích dẫn trong giá thầu. Trái phiếu thầu giúp quá trình lựa chọn hợp đồng diễn ra một cách suôn sẻ. Không có các trái phiếu này, chủ dự án sẽ có rất ít cách để đảm bảo rằng nhà thầu họ chọn cho dự án có thể hoàn thành công việc một cách chính xác mà không gặp phải các vấn đề về dòng tiền. Bằng cách đưa ra trái phiếu thầu cho các giá thầu tương ứng, mỗi nhà thầu có thể cung cấp một sự đảm bảo đầy đủ với chủ sở hữu rằng dự án nằm trong khả năng của họ.

Bid And Asked / Giá mua vào và bán ra

Báo giá hai chiều cho biết mức giá tốt nhất mà một chứng khoán được bán và mua tại một thời điểm nhất định. Giá mua biểu thị mức giá tối đa mà một hoặc nhiều người mua sẵn sàng trả để mua một chứng khoán. Giá bán biểu thị mức giá tối thiểu mà một hoặc nhiều người bán sẵn sàng nhận để bán một chứng khoán. Một giao dịch hoặc trao đổi xảy ra khi người mua và người bán đồng ý cùng mức giá của chứng khoán. Sự khác biệt giữa giá mua và giá bán, hoặc mức chênh lệch (spread), là một chỉ báo quan trọng về tính thanh khoản của tài sản - nói chung, mức chênh lệch càng nhỏ thì tính thanh khoản càng tốt. Thuật ngữ này còn được gọi là bid and ask, bid-ask hoặc bid-offer.  Nhà đầu tư trung bình phải chịu mức chênh lệch giá mua và bán (bid-ask spread) như một chi phí giao dịch. Ví dụ: nếu báo giá hiện tại cho chứng khoán A là 10,50 đô la / 10,55 đô la, nhà đầu tư X đang tìm mua A tại giá thị trường hiện tại sẽ trả 10,55 đô la, trong khi nhà đầu tư Y muốn bán A tại giá thị trường hiện tại sẽ chỉ nhận được 10,50 đô la. Mức chênh lệch giá mua và bán mang lại lợi thế cho nhà tạo lập thị trường. Tiếp tục với ví dụ trên, một nhà tạo lập thị trường đang báo giá là $ 10,50 / $ 10,55 cho chứng khoán A cho thấy người đó sẵn sàng mua A với giá $ 10,50 (the bid price) và bán với giá $ 10,55 (the asked price). Mức chênh lệch này biểu thị lợi nhuận của nhà tạo lập thị trường. Chênh lệch giá mua và bán có thể khác nhau tùy thuộc vào loại chứng khoán và thị trường. Các blue-chip cấu thành Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (Dow Jones Industrial Average) có thể có chênh lệch giá mua và bán chỉ vài cent, trong khi một cổ phiếu vốn hóa nhỏ có thể có chênh lệch giá mua và bán từ 50 cent trở lên. Trên cơ sở tỷ lệ phần trăm, sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán của cổ phiếu ban đầu có thể nhỏ hơn nhiều so với giá của cổ phiếu sau đó. Chênh lệch giá mua và bán có thể mở rộng đáng kể trong thời kỳ thiếu thanh khoản hoặc rối loạn thị trường, bởi các nhà giao dịch sẽ không sẵn lòng trả mức giá vượt quá một ngưỡng nhất định, trong khi người mua cũng không sẵn lòng chấp nhận mức giá dưới một ngưỡng nhất định.

Biased Expectations Theory / Lý thuyết kỳ vọng thiên vị

Một lý thuyết cho rằng giá trị tương lai của lãi suất bằng với tổng kết của kỳ vọng thị trường. Những người ủng hộ lý thuyết kỳ vọng thiên vị cho rằng hình dạng của đường cong lợi suất được tạo ra bằng cách bỏ qua các yếu tố hệ thống và cấu trúc thuật ngữ của lãi suất chỉ xuất phát từ kỳ vọng hiện tại của thị trường.  Hai thuyết kỳ vọng thiên vị phổ biến là Thuyết ưa chuộng tính thanh khoản (liquidity preference theory) và thuyết thói quen ưa thích (preferred habitat theory). Thuyết ưa chuộng tính thanh khoản cho rằng trái phiếu dài hạn yêu cầu phí bảo hiểm rủi ro và thuyết thói quen ưa thích cho thấy rằng cung và cầu đối với các chứng khoán có thời gian đáo hạn khác nhau là không đồng nhất và do đó yêu cầu phí bảo hiểm rủi ro khác nhau.Hai thuyết kỳ vọng thiên vị phổ biến là Thuyết ưa chuộng tính thanh khoản (liquidity preference theory) và thuyết thói quen ưa thích (preferred habitat theory). Thuyết ưa chuộng tính thanh khoản cho rằng trái phiếu dài hạn yêu cầu phí bảo hiểm rủi ro và thuyết thói quen ưa thích cho thấy rằng cung và cầu đối với các chứng khoán có thời gian đáo hạn khác nhau là không đồng nhất và do đó yêu cầu phí bảo hiểm rủi ro khác nhau.

Bhutan Ngultrum (BTN) / Đồng Bhutan Ngultrum (BTN)

Đồng tiền của Bhutan. Đồng Bhutan Ngultrum, viết tắt là BTN hoặc Nu, được giới thiệu vào năm 1974 và được phát hành dưới dạng tiền giấy nhiều màu với các mệnh giá 1, 5, 10, 20, 50, 100 và 500. Đồng BTN được chốt với đồng Rupee của Ấn Độ và Rupee cũng là đồng tiền được sử dụng rộng rãi ở Bhutan. Một Ngultrum được chia thành 100 Chhertum, dưới dạng 25 và 50 đồng chhertum. Vào năm 2011, khoảng 50 ngultrum có thể được đổi lấy 1 đô la Mỹ. Bhutan là một quốc gia nhỏ bị bao quanh bởi Trung Quốc ở phía bắc và Ấn Độ ở phía nam. Đây là một nước theo chế độ quân chủ lập hiến, giành được độc lập từ Anh vào năm 1907. Nền kinh tế nước này, dựa trên nền nông nghiệp tự cung tự cấp, chăn nuôi và lâm nghiệp, là một trong những nền kinh tế nhỏ nhất và kém phát triển nhất thế giới. Tính theo đầu người, GDP vào khoảng 6.000 đô la vào năm 2011. Bhutan phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ thương mại và tài chính tới từ Ấn Độ, và Quỹ Tiền tệ Quốc tế xem Bhutan là một con nợ ròng.

Betterment Insurance / Bảo hiểm nâng cấp nhà

Bảo hiểm nâng cấp nhà đề cập đến loại bảo hiểm mà người thuê bất động sản mua để bù đắp cho bất kỳ sự bổ sung hoặc sửa đổi nào được thực hiện với không gian thuê, và những hoạt động này là để đáp ứng nhu cầu cụ thể của người đi thuê, hoặc của doanh nghiệp. Chủ sở hữu bất động sản thường giữ một chính sách bảo hiểm về kết cấu ngôi nhà; còn người thuê nhà mua bảo hiểm để bù đắp cho việc cải tạo nhà ở. Các chính sách bảo hiểm nâng cấp nhà bù đắp cho hoạt động cải tạo được thực hiện bởi người thuê nhà đối với tài sản đi thuê, và hầu hết thường đề cập đến các bất động sản thương mại. Ví dụ, một công ty thuê một bất động sản thương mại để làm văn phòng cho mình. Chủ sở hữu bất động sản giữ một chính sách bảo hiểm về kết cấu ngôi nhà. Công ty thuê tòa nhà mua một chính sách bảo hiểm nâng cấp nhà để bù đắp bất kỳ sự cải tạo hoặc bổ sung nào đối với bất động sản, bao gồm giá đỡ, thiết bị, bàn, máy tính, v.v.

Betterment / Tăng giá trị

Một dạng hoạt động hoặc chi phí tiêu dùng nhằm góp phần cải thiện hiệu suất tài sản và / hoặc tăng giá trị của nó. Tăng giá trị (Betterment) không bao gồm các hoạt động liên quan đến việc bảo trì chung nhằm tìm cách duy trì giá trị hiện tại của tài sản. Ví dụ, sửa cửa nhà để xe sẽ không phải là tăng giá trị, nhưng thêm cửa tự động vào nhà để xe thì có, bởi vì cánh cửa mới sẽ làm tăng giá trị cho ngôi nhà. Một ví dụ về sự tăng giá trị trong kinh doanh là khi thay thế một thiết bị lỗi thời bằng một thiết bị mới, nhờ đó tăng năng lực sản xuất của một cơ sở sản xuất. Trong trường hợp này, giá trị tài sản tổng thể (của cơ sở sản xuất) lớn hơn giá trị của nó khi vẫn giữ lại thiết bị cũ.

Better Business Bureau - BBB / Văn phòng kinh doanh tốt hơn - BBB

Văn phòng kinh doanh tốt hơn (BBB) ​​nhằm mục đích thúc đẩy các hoạt động kinh doanh có đạo đức, tạo nên một môi trường nơi người mua và người bán có thể hoạt động dựa trên một niềm tin chung. Thông qua việc khuyến khích các tập quán tốt hơn về phía người tiêu dùng và doanh nghiệp, cũng như thiết lập các tiêu chuẩn thị trường phù hợp, BBB cung cấp tài liệu giáo dục về thực tiễn các hoạt động kinh doanh chung và cụ thể theo nhu cầu. Các công ty tuân thủ theo các nguyên tắc bắt buộc có thể đạt được Chứng nhận tình trạng doanh nghiệp bởi BBB (BBB accredited businesses status). Người tiêu dùng có thể nộp đơn khiếu nại một doanh nghiệp nếu họ cảm thấy không được đối xử công bằng. Trong quá khứ, BBB đã giải quyết thành công 70% các khiếu nại được đệ trình. Tổ chức này hoạt động nhằm tạo ra một mối quan hệ đáng tin cậy hơn giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Beta Risk / Rủi ro Beta

Xác suất mà một giả thuyết null sai sẽ được chấp nhận bởi một bài kiểm tra thống kê. Đây còn được gọi là lỗi Loại II. Yếu tố quyết định chính của lượng rủi ro beta là cỡ mẫu được sử dụng cho thử nghiệm. Mẫu thử nghiệm càng lớn, nguy cơ beta càng thấp. Một ứng dụng thú vị của kiểm tra giả thuyết trong tài chính có thể được thực hiện bằng cách sử dụng điểm số Altman Z. Điểm Z là một mô hình thống kê nhằm dự đoán sự phá sản trong tương lai của các công ty dựa trên các chỉ số tài chính nhất định. Các thử nghiệm thống kê về độ chính xác của Z-Score đã cho thấy độ chính xác tương đối cao, dự đoán phá sản trong vòng một năm. Các xét nghiệm này cho thấy rủi ro beta (các công ty dự đoán sẽ phá sản nhưng không) trong khoảng từ 15 đến 20%, tùy thuộc vào mẫu được thử nghiệm.

Beta Alpha Psi / Tổ chức Beta Alpha Psi

Một tổ chức danh dự dành cho sinh viên và các chuyên gia thông tin tài chính, nhằm khuyến khích và công nhận sự xuất sắc về học thuật và chuyên môn trong lĩnh vực thông tin kinh doanh. Tổ chức Beta Alpha Psi được thành lập vào năm 1919 và có trụ sở chính tại Durham, N.C. Tư cách thành viên của tổ chức Beta Alpha Psi được mở rộng ra cho những người có tính cách đạo đức tốt, là những người được công nhận xuất sắc về học thuật và / hoặc chuyên môn trong các lĩnh vực kế toán, tài chính hoặc hệ thống thông tin, được khởi xướng bởi chi hội (chapter) hiện tại của tổ chức, và vẫn ở trạng thái hoạt động tốt.

Best-Price Rule - Rule 14D-10 / Quy tắc giá tốt nhât - Rule 14D-10

Một quy định của SEC, trong đó quy định rằng giá chào mua (tender offer) của một chứng khoán phải được công bố cho tất cả các chủ sở hữu của loại chứng khoán đó và số tiền trả cho chủ sở hữu chứng khoán là khoản tiền cao nhất trả cho bất kỳ chủ sở hữu nào của loại chứng khoán tương tự. Dựa vào tiền đề tương tự như quy tắc tất cả các chủ sở hữu (all-holders rule), quy tắc giá tốt nhất tạo điều kiện bình đẳng cho các cổ đông và cổ phiếu họ đưa ra chào bán.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55