Bar / Thanh giá
Là một cách diễn tả bằng đồ thị của một biến động giá và đồ thị này thường biểu diễn giá mở cửa, giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa trong một khung thời gian xác định. Ví dụ, nếu một nhà giao dịch theo trường phái phân tích kỹ thuật sử dụng với dữ liệu ngày, một thanh giá là một tập hợp những giá đã được đưa ra trong một ngày. Trong trường hợp dữ liệu phút, một thanh giá là dữ liệu giá của từng phút giao dịch. Bên cạnh đó, nếu dữ liệu được biểu diễn bởi đồ thị hình nến, một thanh giá tương đương với một nến hoặc trong trường hợp sử dụng đồ thị hình thanh, một thanh giá tương đương với một thanh.
Baptism of Fire / Lần chiến đấu đầu tiên
Một tình huống khó khăn mà một công ty hoặc cá nhân trải nghiệm sẽ dẫn đến thành công hoặc thất bại. Ví dụ bao gồm phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO), một CEO mới được thuê để quản lý một công ty đang gặp khó khăn và các nỗ lực tiếp quản thù địch. Một trận chiến đấu đầu tiên sẽ làm suy yếu hoặc củng cố các thực thể xung quanh.Cụm từ này ám chỉ Kinh thánh trong cả Công vụ 2: 3-4 và Matthew 3:11.
Baptism by Fire / Lần chiến đấu gay go đầu tiên
Là một cụm từ có nguồn gốc từ Châu Âu mô tả một nhân viên đang rất khó khăn để học một thứ gì đó, như đắm chìm vào công việc của họ. Lần chiến đấu gay go đầu tiên có nguồn gốc từ thuật ngữ chiến đấu, mô tả lần đầu tiên người lính ra chiến trường. Lần chiến đấu gay go đầu tiên được sử dụng mà cách tốt nhất cho ai đó được đào tạo là cho người đó được trải nghiệm các tình huống thực tế thay vì chỉ nghiên cứu những tình huống đó. Các công việc được yêu cầu chiến đấu gay go đầu tiên có thể bao gồm: sĩ quan cảnh sát, lính cứu hỏa, quân nhân, v.v.
Banner Advertising / Quảng cáo dải băng
Là một dạng quảng cáo thông thường trên mạng toàn cầu. Dải băng là một công cụ quảng cáo có độ phân giải 460x68ps và thường được đặt ở phần trên cùng của trang mạng. Ví dụ, chỉ cần nhìn vào phần trên cùng của trang mạng của bất kỳ website phổ biến nào.
Bankruptcy Financing / Tài trợ phá sản
Là một sự tài trợ được sắp đặt bởi một công ty chịu sự điều chỉnh bởi Chương 11 Quy trình Phá sản. Rõ ràng rằng một sự tài trợ như vậy rất rủi ro và đi kèm với đó lợi suất cao tương đối. Đôi khi tài trợ phá sản còn được gọi là tài trợ quay vòng. Việc cho một công ty đang rất cần tiền vay tiền có thể rất có lợi cho người cho vay, nhưng đồng thời, họ cũng phải chịu một mức rủi ro vỡ nợ tín dụng cao.
Bank-Owned Property / Tài sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng
Là những tài sản được đưa vào tồn kho của ngân hàng, sau khi tịch thu tài sản thế chấp. Tài sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng được mua lại bởi định chế tài chính khi chủ tài sản không thể trả được khoản vay có thế chấp. Những tài sản này được phát mãi tại giá chiết khấu, thấp hơn nhiều giá tài sản hiện tại. Tài sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng còn được gọi là bất động sản ngân hàng. Loại tài sản này được trả lại người cho vay trong quá trình tịch thu tài sản. Người cho vay và ngân hàng đưa ra mức giá mua cao nhất cho tài sản bị tịch thu để tăng quyền sở hữu tài sản. Tài sản thuộc sở hữu của ngân hàng thường có lãi suất thấp và giá xuống thấp. Những tài sản này có tìm thấy thông qua các dịch vụ RealtyTrac hoặc trực tiếp thông qua người cho vay. Những định chế cho vay lớn của quốc gia có các chi nhánh, được gọi là các chi nhánh hạn chế lỗ, để phát mãi những tài sản này.
Banknote / Giấy bạc ngân hàng
Một tín phiếu có thể chuyển nhượng được phát hành bởi ngân hàng và có thể được dùng để trả cho người thụ hưởng theo yêu cầu. Khoản tiền phải trả được ghi trên mặt tín phiếu. Giấy bạc ngân hàng là đồng tiền pháp định, và cũng như tiền xu, là dạng tiền hiện đại. Giấy bạc ngân hàng cũng được biết với tên gọi khác là tín phiếu ngân hàng. Về nguồn gốc, những thứ như vàng và bạc đã được sử dụng trong thanh toán hàng hóa & dịch vụ. Tuy nhiên về sau, những phương tiện thanh toán này đã được thay thế bởi tiền giấy và tiền xu được đảm bảo bằng các kim loại quý. Ngày nay, giấy bạc ngân hàng được đảm bảo chỉ bằng uy tín của Chính phủ. Mặc dù trước đây các ngân hàng thương mại có thể phát hành giấy bạc ngân hàng, nhưng ngày nay, chỉ Cục Dự trữ liên bang mới có được quyền này.
Banknet / Hệ thống ngân hàng Banknet
Là hệ thống toàn cầu vận hành bởi Mastercard nhằm tạo nên sự thuận tiện cho các giao dịch thẻ tín dụng được phép thực hiện từ bất cứ nơi nào trên thế giới. Là một hệ thống thông tin lớn nhất toàn cầu, Banknet liên kết các thành viên của MasterCard và trung tâm điều phối dữ liệu thành một hệ thống tài chính đơn nhất. Hệ thống này cho phép một giao dịch được quyền thông qua MasterCard được thực hiện trong giây lát. MasterCard giới thiệu Banknet từ năm 1984. Banknet được đặt tại Trụ sở Vận hành và Công nghệ toàn cầu của MasterCard ở St. Louis, Missouri.
Bankmail / Thỏa thuận chống tài trợ thâu tóm
Là một thỏa thuận được thực hiện giữa một công ty đang có kế hoạch thâu tóm và một ngân hàng nhằm tránh việc ngân hàng này tài trợ cho bất kỳ sự đấu giá nào từ một công ty đang muốn thâu tóm tiềm năng khác. Thỏa thuận chống tài trợ thâu tóm ngăn chặn một kẻ thâu tóm tiềm năng khác nhận được một thỏa thuận tài trợ tương tự từ ngân hàng đối tác.
Bank Of Central African States / Ngân hàng các quốc gia Trung Phi - BEAC
Ngân hàng trung ương phục vụ Cộng đồng kinh tế và tiền tệ của Trung Phi (CEMAC). CEMAC bao gồm sáu quốc gia: Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Guinea Xích đạo, Gabon và Cộng hòa Congo, và ngân hàng này là một thành viên của Cộng đồng kinh tế châu Phi (African Economic Community). Trách nhiệm của BEAC với tư cách là một ngân hàng trung ương bao gồm giám sát hệ thống tiền tệ và phát hành tiền tệ. Tiền tệ chính thức của BEAC là đồng CFA của Trung Phi, có tỷ giá hối đoái trước đây được cố định với đồng franc của Pháp nhưng giờ được cố định theo đồng euro. Được thành lập vào năm 1972, tên chính thức của ngân hàng này là Banque des Etats de l'Afrique Centrale (BEAC). Cuối năm 2010, Lucas Abaga Nchama, đến từ Guinea Xích đạo trở thành người đứng đầu mới của ngân hàng, sau vụ bê bối tham ô năm 2009 khiến ngân hàng chịu tổn thất 28 triệu đô la và phải sa thải giám đốc ngân hàng cũ là Philibert Andzembe, đến từ Gabon.
Bon Voyage Bonus / Phần thưởng cho chuyến đi tốt đẹp
Tiền mặt, chứng khoán hoặc các tài sản khác được trả cho một cá nhân hoặc nhóm để ngừng một hoạt động cụ thể. Phần thưởng cho chuyến đi tốt đẹp thường liên quan đến việc mua lại với thái độ thù địch, trong đó công ty mục tiêu phải trả tiền cho kẻ thu mua (raider) để người đó ngừng tiếp tục thúc đẩy hoạt động thâu tóm trong một khoảng thời gian nhất định. Đây thường được coi là thanh toán cho một người gửi thư xanh (greenmailer). Trả một khoản Bon voyage bonus cho một người gửi thư xanh (greenmailer) là một trong những chiến thuật mà công ty mục tiêu có thể sử dụng để chống lại sự thâu tóm, mặc dù chiến thuật này có thể rất tốn kém. Để chấm dứt việc chào mua công khai (takeover bid), một công ty đi thôn tính (corporate raider) rất có thể sẽ yêu cầu một khoản phí bảo hiểm cao hơn giá cổ phiếu hiện tại. Một số công ty có thể có điều khoản chống tống tiền (anti-greenmail) trong điều lệ của họ, để ngăn ngừa tình huống này phát sinh.
Bombay Stock Exchange (BSE) .BO / Sàn giao dịch chứng khoán Bombay (BSE)
Thị trường chứng khoán đầu tiên và lớn nhất tại Ấn Độ. Sàn giao dịch chứng khoán Bombay (BSE) được thành lập vào năm 1875 với tư cách là Hiệp hội môi giới chứng khoán và chứng khoán bản địa (Native Share and Stock Brokers' Association). Có trụ sở tại Mumbai, Ấn Độ, BSE đưa lên sàn hơn 6.000 công ty và là một trong những sàn giao dịch lớn nhất trên thế giới. BSE đã giúp phát triển thị trường vốn của đất nước, bao gồm thị trường nợ bán lẻ và giúp phát triển khu vực doanh nghiệp Ấn Độ. Năm 1995, BSE chuyển từ một sàn giao dịch mở sang một hệ thống giao dịch điện tử. Chứng khoán được lên sàn BSE bao gồm cổ phiếu, hợp đồng chứng khoán tương lai, quyền chọn cổ phiếu, hợp đồng kỳ hạn về chỉ số, quyền chọn chỉ số và quyền chọn hàng tuần. Hiệu suất tổng thể của BSE được đo bằng Sensex, một chỉ số gồm 30 cổ phiếu lớn nhất của BSE trong 12 lĩnh vực.
Bollinger Band / Dải Bollinger
Một dải được vạch thêm hai đường độ lệch chuẩn tính từ đường trung bình động đơn giản (SMA), được phát triển bởi nhà giao dịch kỹ thuật nổi tiếng John Bollinger. Trong ví dụ này về các dải bollinger, giá của cổ phiếu được vạch ra bởi một dải trên và dải dưới cùng với đường trung bình động đơn giản (SMA) 21 ngày. Bởi vì độ lệch chuẩn là thước đo độ biến động, các dải bollinger tự điều chỉnh theo điều kiện thị trường. Khi thị trường trở nên biến động hơn, các dải mở rộng (di chuyển ra xa mức trung bình) và trong thời gian ít biến động hơn, các dải sẽ co lại (tiến gần hơn đến mức trung bình). Việc các dải thắt chặt thường được các nhà giao dịch kỹ thuật sử dụng như một dấu hiệu sớm cho thấy sự biến động sắp sửa tăng mạnh. Đây là một trong những phương pháp phân tích kỹ thuật phổ biến nhất. Giá càng di chuyển lên dải trên, thị trường càng mua vào quá nhiều và giá càng di chuyển xuống dải dưới, thị trường càng bán ra quá mức.
Boilerplate / Bản mẫu
Việc tiêu chuẩn hóa cấu trúc và ngôn ngữ của một tài liệu pháp lý. Điều này dẫn đến việc thực hiện trong thực tế diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn về mặt điền và xử lý tài liệu. Thường được sử dụng trong các hợp đồng, bản cáo bạch và khế ước trái phiếu. Ví dụ như một ngân hàng có hợp đồng tiêu chuẩn cho tất cả những người đăng ký vay mua nhà. Các bản mẫu hiếm khi được thay đổi và do tính chất tiêu chuẩn của chúng, các bên liên quan đến thỏa thuận thường không bị nhầm lẫn.
Boiler Room / Phòng xông hơi
Một địa điểm mà những nhân viên bán hàng chịu áp lực cao sử dụng hệ thống điện thoại của ngân hàng (banks of telephones) gọi tới danh sách các nhà đầu tư tiềm năng (còn được gọi là "danh sách những kẻ rút tiền" (sucker lists)) để bán chứng khoán đầu cơ, thậm chí là lừa đảo. Từ phòng xông hơi được sử dụng để chỉ cách bán hàng với áp lực cao này. Một nhà môi giới sử dụng chiến thuật phòng xông hơi (boiler room) chỉ cung cấp cho khách hàng những thông tin tích cực về cổ phiếu và phản đối việc họ thực hiện thêm bất kỳ nghiên cứu bên ngoài nào khác. Nhân viên bán hàng trong một phòng xông (boiler room) hơi thường dùng các câu khẩu hiệu như "đó là điều chắc chắn" hoặc "cơ hội như thế này chỉ xảy ra một lần trong đời". Các phương pháp phòng xông hơi (boiler room), nếu không bất hợp pháp, rõ ràng vi phạm các quy tắc thực hiện công bằng của Hiệp hội quốc gia các nhà giao dịch chứng khoán (NASD). Hiệp hội quản lý chứng khoán Bắc Mỹ (North American Securities Administrators Association) ước tính rằng các nhà đầu tư mất đến 10 tỷ đô la mỗi năm - khoảng 1 triệu đô la một giờ - cho các gian lận đầu tư được quảng cáo qua điện thoại.
Boil The Ocean / Đun sôi đại dương
Việc thực hiện một nhiệm vụ hay dự án bất khả thi hoặc làm cho một nhiệm vụ hoặc dự án trở nên khó khăn không cần thiết. Boiling the ocean thường có nghĩa là quá nhiệt tình. Ví dụ, một người quản lý có thể bị buộc tội là cố gắng boil the ocean nếu anh ta chỉ đạo nhân viên của mình chuẩn bị một bài thuyết trình cho một khách hàng doanh nghiệp tại Houston, Texas, và anh ta cứ khăng khăng rằng các nhân viên phải chuẩn bị các phiên bản thuyết trình bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Nhật, Tiếng Trung và tiếng Ý, phòng trường hợp có ai đó tại buổi thuyết trình nói một ngôn ngữ khác, trong khi nhiều khả năng tất cả họ sẽ nói tiếng Anh. Một ví dụ khác về việc cố gắng boil the ocean có thể là khi một công ty khởi nghiệp sáu tháng tuổi cố gắng để nhận được vốn đầu tư mạo hiểm và lên sành chứng khoán vào cuối năm nay. Một mục tiêu như vậy nghe có vẻ tham vọng đối với người sáng lập công ty, nhưng trên thực tế, việc đặt ra một mục tiêu thiếu thực tế như vậy có thể dẫn đến sự thất vọng và chán nản cho những người liên quan.
Bogey / Bogey
Một thuật ngữ thông dụng đề cập đến tiêu chuẩn so sánh được sử dụng để đánh giá hiệu suất của quỹ. Tiêu chuẩn so sánh là một chỉ số phản ánh phạm vi đầu tư của các quỹ. So sánh hiệu suất của quỹ với chỉ số tiêu chuẩn so sánh sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư ý tưởng về việc quỹ hoạt động như thế nào so với thị trường. Thuật ngữ còn được gọi là "bogy". Ví dụ, hiệu suất của quỹ vốn hóa nhỏ có thể được so sánh với Russell 2000, đây là tiêu chuẩn so sánh cho các quỹ có vốn hóa nhỏ. Russell 2000 được ám chỉ như là bogey vốn hóa nhỏ, khi nói đến sự vượt trội hoặc kém hiệu quả của chỉ số này so với quỹ. Một trong những tiêu chuẩn so sánh phổ biến nhất là chỉ số S&P 500.
Body Of Knowledge - BOK / Bộ kiến thức cốt lõi - BOK
Các giáo lý, kỹ năng và nghiên cứu cốt lõi trong một lĩnh vực hoặc một ngành. Bộ kiến thức cốt lõi (BOK) tạo nền tảng cho các chương trình giảng dạy của hầu hết các chương trình hoặc định danh chuyên nghiệp. Đó là những năng lực thiết yếu mà các thành viên cần phải nắm vững để được cấp phép trước khi áp dụng các nguyên tắc này vào thực tế. Việc nắm vững bộ kiến thức cốt lõi thông thường được thể hiện bằng cách vượt qua các kỳ thi nghiêm ngặt ở một hoặc nhiều cấp độ. Vì năng lực cốt lõi và bộ kỹ năng cần thiết cho hầu hết mọi ngành nghề đều phát triển và thay đổi qua từng năm, bộ kiến thức cốt lõi phải linh động, để có thể kết hợp thêm các thông tin và kỹ thuật mới, cũng như duy trì sự hợp lý của chương trình giảng dạy. Trong giới đầu tư, một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về bộ kiến thức cốt lõi là Chứng chỉ chuyên gia phân tích tài chính, hay chương trình CFA. Bộ kiến thức cốt lõi cho các ứng viên của chương trình CFA (CBOK) được xác định bằng cách lấy thông tin đầu vào từ các thành viên và nhà tuyển dụng của Viện CFA, về các thực tiễn tốt nhất hiện nay và dự đoán các xu hướng tương lai trong công việc đầu tư. CBOK gồm 10 lĩnh vực kiến thức được nhóm lại thành bốn lĩnh vực lớn: tiêu chuẩn đạo đức và chuyên nghiệp, công cụ đầu tư, phân loại tài sản, và quản lý danh mục đầu tư và hoạch định tài sản.
Boardroom / Phòng họp
Bên cạnh định nghĩa chung là phòng họp trong một văn phòng, trong cộng đồng đầu tư, phòng họp (boardroom) có thể đề cập cụ thể hơn đến một căn phòng được sử dụng trong văn phòng môi giới chứng khoán. Phòng họp là nơi khách hàng và các thành viên của một công ty trên sàn chứng khoán có thể gặp gỡ với những người đại diện chính thức. Họ gặp nhau ở đây để thảo luận về việc đầu tư, nhận báo giá cổ phiếu và đặt giao dịch. Phòng họp thường có các thiết bị công nghệ mới nhất, chẳng hạn như thiết bị đầu cuối Bloomberg (Bloomberg terminals) hoặc các hệ thống báo giá hiện đại khác. Các phòng họp tại các công ty lớn cũng thường có TV màn hình lớn và các thiết bị cung cấp tin tức kinh doanh đa phương tiện khác. Một số công ty hoàn toàn không sử dụng các phòng họp này, nhưng cho phép khách hàng gặp gỡ các nhà môi giới tại văn phòng cá nhân của họ.
Board Of Directors - B Of D / Hội đồng quản trị - BOD
Một nhóm các cá nhân được bầu, hoặc ứng cử để trở thành đại diện của các cổ đông nhằm thiết lập các chính sách liên quan đến quản lý doanh nghiệp và đưa ra quyết định về các vấn đề lớn của công ty. Những vấn đề này bao gồm việc thuê / sa thải giám đốc điều hành, chính sách cổ tức, chính sách hợp đồng quyền chọn và thù lao của ban giám đốc. Mỗi công ty đại chúng đều phải có một hội đồng quản trị. Nhìn chung, hội đồng quản trị đưa ra quyết định thay mặt các cổ đông. Quan trọng nhất, hội đồng quản trị phải là đại diện công bằng cho lợi ích của cả người quản lý và các cổ đông; có quá nhiều thành viên thuộc ban giám đốc nghĩa là hội đồng quản trị sẽ có xu hướng đưa ra quyết định có lợi hơn cho nhà quản lý. Mặt khác, việc sở hữu quá nhiều giám đốc độc lập có thể làm ban quản lý bị loại khỏi quá trình ra quyết định và khiến cho các nhà quản lý giỏi rời đi trong thất vọng.






