Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Basing Point Pricing System / Hệ thống định giá điểm cơ sở

Đây là một hệ thống định giá trong đó người mua trả sẽ giá cơ bản cộng với giá vận chuyển được đặt tùy thuộc vào khoảng cách địa lý giữa 2 nơi vận chuyển. Hệ thống định giá điểm cơ sở sẽ xác định trước địa điểm của người bán hay còn được gọi là điểm cơ sở, sau đó cộng thêm phí vận chuyển tùy thuộc vào khoảng cách từ chỗ của người mua đến vị trí đó. Thông thường thì điểm cơ sở chính là nơi sản xuất và phí vận chuyển được xác định từ vị trí đó mặc cho vị trí bắt đầu vận chuyển thực tế của người bán có thể khác vị trí đó. Nói tóm lại thì giá bán của sản phẩm sẽ gồm có giá vận chuyển từ điểm cơ sở mà không cần quan tâm đến việc vị trí vận chuyển thực sự là ở đâu. Kể từ khi bắt đầu được đi vào sử dụng, hệ thống định giá điểm cơ sở đã gặp phải sự phản đối do tính chất có thể thông đồng, bản chất các-ten của nó. Khi một điểm cơ sở được thiết lập thì nó khó có thể thúc đẩy mọi người lập lên các nhà máy sản xuất tại các địa điểm thuộc khu vực bên ngoài so với điểm cơ sở. Do đó mà cạnh tranh sẽ chỉ co cụm trong một khu vực với rất ít sự khác biệt về giá. Ví dụ: điểm cơ sở được đặt tại vị trí Alpha vì than được sản xuất ở đó. Công ty X hoạt động ở Alpha và Công ty Y cách Alpha 100 dặm về phía tây. Nếu vị trí của khách hàng cách Alpha 50 dặm về phía đông thì giá của than theo hệ thống điểm cơ sở sẽ là 1,000 Đô cộng với 300 Đô chi phí vận chuyển. Cả hai công ty phải đều phải chịu tổng chi phí là 1.300 Đô nhưng trong khi Công ty X chỉ phải vận chuyển trên một quãng đường là 50 dặm thì với Công ty Y là lên đến 150 dặm.

Basing Point / Điểm cơ sở

Đây là một vị trí đã được xác định được sử dụng trong hệ thống định giá điểm cơ sở. Thông thường thì điểm cơ sở là nơi diễn ra quá trình sản xuất sản phẩm hoặc sản xuất hàng hóa của nhà cung cấp. Ngay khi có đơn đặt hàng nhà sản xuất sẽ báo giá cơ sở cộng với chi phí vận chuyển từ vị trí sản xuất đó dù là hàng hóa được thực sự vận chuyển từ nơi khác đi chăng nữa. Điểm cơ sở có thể được sử dụng để xác định giá cơ sở của hàng hóa. Ví dụ, nếu điểm cơ sở là ở Chicago, thì chi phí một lô hàng được vận chuyển đến Chicago sẽ chỉ có giá cơ sở còn chi phí cho lô hàng được vận chuyển đến những nơi ở bên ngoài Chicago sẽ bao gồm giá cơ sở cộng với giá vận chuyển thêm đến khu vực đó. Bằng cách này người ta có thể xác định được giá khi mua bán một mặt hàng cụ thể nào đó ở một địa điểm khác. Các nhà kinh tế từ lâu đã lập luận rằng việc thiết lập giá theo cách này thực sự tạo điều kiện cho các công ty đối thủ cạnh tranh thiết lập thỏa thuận các-ten và vì vậy mà cách thiết lập giá này đã gặp phải một vài phản đối chủ yếu dưới hình thức ngăn cản việc thiết lập các nhà máy sản xuất cách xa điểm cơ sở.

Basic Earnings Per Share / Thu nhập trên cổ phiếu cơ bản

Là một phương pháp đo lường sự phân bổ lợi nhuận của công ty trên một đơn vị cổ phiếu. Thu nhập trên cổ phiếu cơ bản (EPS cơ bản) không tính đến hiệu ứng pha loãng của chứng khoán có thể chuyển đổi. EPS cơ bản được tính như sau: EPS cơ bản = (Thu nhập thuần - cổ tức ưu đãi) / bình quân gia quyền cổ phiếu đang lưu hành Nếu một công ty có cấu trúc vốn giản đơn, thì có nghĩa là công ty đó không phát hành bất kỳ một chứng khoán có khả năng pha loãng tiềm năng nào, EPS cơ bản bản thân nó là một thước đo hữu ích. Với những công ty có cấu trúc vốn phức tạp (tức là, có phát hành các chứng khoán có khả năng pha loãng), EPS pha loãng được coi là một thước đo chính xác hơn EPS cơ bản. EPS pha loãng bao gồm trong công thức tính tất cả các chứng khoán pha loãng có thể được thực hiện (như quyền chọn, cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi) và cho thấy sự pha loãng ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập trên cổ phiếu. Các công ty với cấu trúc vốn phức tạp phải báo cáo cả EPS cơ bản và EPS pha loãng để cung cấp cái nhìn chính xác hơn về thu nhập trên từng cổ phiếu; EPS cơ bản sẽ luôn có giá trị cao hơn trong 2 cách tính EPS. Nếu một công ty có cấu trúc vốn đơn giản, nó chỉ cần báo cáo EPS cơ bản.

Base-Year Analysis / Phân tích theo năm cơ sở

1. Việc phân tích các xu hướng kinh tế liên quan đến một năm cơ sở cụ thể. Phân tích năm cơ sở thể hiện các biện pháp kinh tế trong giá cả năm cơ sở để loại bỏ các tác động của lạm phát. 2. Phân tích báo cáo tài chính của công ty bằng cách so sánh dữ liệu hiện tại với dữ liệu của năm trước hoặc năm gốc. Phân tích năm cơ sở cho phép so sánh giữa hiệu suất hiện tại và hiệu suất trong quá khứ. 1. Phân tích năm cơ sở thường được sử dụng khi thể hiện tổng sản phẩm quốc nội và được gọi là GDP thực tế khi được đề cập theo cách này. Bằng cách loại bỏ lạm phát, xu hướng tăng trưởng kinh tế chính xác hơn, vì sự thay đổi mức giá được tính đến. $$ (Năm cơ sở) = $$ (Năm được chọn) x Chỉ số giá (Năm cơ sở) / Chỉ số giá (Năm được chọn) 2. Phân tích năm cơ sở báo cáo tài chính của một công ty rất quan trọng để có thể xác định liệu một công ty đang phát triển hay thu hẹp lại. Ví dụ, nếu một công ty có lãi hàng năm, thì thực tế là doanh thu của công ty đang bị thu hẹp hàng năm có thể không được chú ý. Bằng cách so sánh doanh thu và lợi nhuận với những năm trước, sẽ xuất hiện một bức tranh chi tiết hơn.

Baseline / Đường cơ sở

Một điểm chuẩn được sử dụng làm nền tảng để đo lường hoặc so sánh các giá trị hiện tại và quá khứ. Ví dụ, một công ty muốn đánh giá sự thành công của một trong những dòng sản phẩm của mình có thể sử dụng số lượng đơn vị được bán trong năm đầu tiên làm cơ sở để đánh giá sự tăng trưởng doanh số tiếp theo. Trong kinh doanh, đường cơ sở và điểm chuẩn phục vụ một mục đích tương tự.   Đường cơ sở là một giá trị ban đầu có thể được sử dụng để so sánh các giá trị trong quá khứ, hiện tại và dự kiến trong tương lai. Đường cơ sở có thể được coi là điểm bắt đầu mà tất cả các giá trị trong tương lai được đánh giá. Trong lập ngân sách, đường cơ sở là điểm tham chiếu để đánh giá hiệu quả ngân sách của những thay đổi dự kiến về doanh thu và chi tiêu.

Basel III / Hiệp ước vốn Basel III

Một tập hợp các biện pháp cải cách toàn diện được thiết kế để cải thiện quy định, giám sát và quản lý rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã công bố phiên bản đầu tiên của Basel III vào cuối năm 2009, cho các ngân hàng khoảng ba năm để đáp ứng tất cả các yêu cầu. Để đối phó với cuộc khủng hoảng tín dụng, các ngân hàng được yêu cầu duy trì tỷ lệ đòn bẩy thích hợp và đáp ứng các yêu cầu về vốn nhất định. Basel III là một trong những nỗ lực liên tục của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng nhằm tăng cường khung pháp lý ngân hàng. Nó dựa trên các tài liệu Basel I và Basel II, và tìm cách cải thiện năng lực của ngành ngân hàng để đối phó với căng thẳng tài chính và kinh tế, cải thiện quản lý rủi ro và tăng cường tính minh bạch của ngân hàng. Trọng tâm của Basel III là thúc đẩy khả năng phục hồi cao hơn ở cấp ngân hàng bán lẻ nhằm giảm rủi ro của các cú sốc trên toàn hệ thống.

Basel II / Hiệp ước vốn Basel II

Một bộ các quy định ngân hàng được ban hành bởi Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, nơi điều chỉnh tài chính và ngân hàng quốc tế. Basel II cố gắng tích hợp các tiêu chuẩn vốn Basel với các quy định quốc gia, bằng cách đặt ra các yêu cầu vốn tối thiểu của các tổ chức tài chính với mục tiêu đảm bảo thanh khoản của tổ chức. Basel II là ủy ban thứ hai của Ủy ban Basel về các khuyến nghị của Giám sát Ngân hàng và không giống như hiệp định đầu tiên, Basel I, nơi tập trung chủ yếu vào rủi ro tín dụng, mục đích của Basel II là tạo ra các tiêu chuẩn và quy định về số lượng số vốn thiểu mà tổ chức tài chính phải có. Các ngân hàng cần phải bỏ vốn để giảm rủi ro liên quan đến hoạt động đầu tư và cho vay.

Basel I / Hiệp ước vốn Basel I

Là một bộ các quy định giao dịch ngân hàng quốc tế được đưa ra bởi Hội đồng giám sát hoạt động ngân hàng Basel. Hiệp ước này đặt ra mức vốn tối thiểu mà các định chế tài chính cần để tối thiểu hóa rủi ro tín dụng. Những ngân hàng hoạt động trong môi trường quốc tế được yêu cầu phải đảm bảo được một mức vốn tối thiểu 8% tài sản rủi ro.  Hiệp ước Basel I được ban hành vào năm 1988 và tập trung chủ yếu vào rủi ro tín dụng bằng việc tạo ra một hệ thống phân loại tài sản ngân hàng. Hệ thống phân loại này nhóm tài sản ngân hàng thành 5 loại:0%- bao gồm tiền, nợ chính phủ và ngân hàng trung ương và bất cứ khoản nợ chính phủ là thành viên OECD. 0%, 10%, 20% hoặc 50% - nợ công20% - nợ ngân hàng phát triển, nợ ngân hàng thành viên OECD, nợ chứng khoán công ty OECD, nợ ngân hàng không thuộc OECD (dưới 1 năm kỳ hạn) và nợ công thành viên không thuộc OECD, tiền mặt đang trong quá trình thu.100% - nợ tư, nợ ngân hàng không thuộc OECD (hơn 1 năm kỳ hạn), bất động sản, nhà máy và thiết bị, các công cụ vốn phát hành tại các ngân hàng khác. Ngân hàng phải đảm bảo vốn (Cấp 1 và Cấp 2) ở mức tối thiểu 8% tài sản rủi ro. Ví dụ, nếu một ngân hàng có tài sản rủi ro có giá trị $100 triệu, nó phải đảm bảo an toàn vốn ít nhất là $8 triệu.

Basel Committee On Bank Supervision / Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)

Là một ủy ban được thành lập bởi các thống đốc ngân hàng trung ương của Nhóm mười quốc gia G-10 vào năm 1974 nhằm tìm cách cải thiện các hướng dẫn giám sát mà các ngân hàng trung ương hoặc các cơ quan tương tự áp đặt cho cả ngân hàng bán buôn và bán lẻ. Ủy ban đưa ra các hướng dẫn chính sách ngân hàng cho cả các quốc gia thành viên và không phải thành viên và giúp các cơ quan chức năng thực hiện các đề xuất của mình. Mặc dù bản thân ủy ban không có bất kỳ quyền lực cao nào đối với chính phủ và ngân hàng trung ương mà họ đưa ra khuyến nghị, các hướng dẫn của ủy ban này được tuân thủ rộng rãi và được đánh giá cao trong cộng đồng tài chính ngân hàng trung ương quốc tế.

Base Year / Năm cơ sở

Là năm đầu tiên trong chuỗi thời gian để tính một chỉ số tài chính hay chỉ số kinh tế. Giá trị của năm cơ sở thường được đặt ở mức 100. Bất cứ năm nào cũng có thể được chọn để làm năm cơ sở, nhưng thường sẽ là các năm gần với thời điểm hiện tại. Năm cơ sở được làm mới, cập nhật định kỳ để giữ một chỉ số nhất định luôn hợp lý với thời điểm hiện tại.  Năm cơ sở là năm được sử dụng để so sánh các mức độ của một chỉ số kinh tế nhất định. Mức 100 được chọn để dễ dàng xem xét mức độ phần trăm thay đổi (lên hoặc xuống) của chỉ số. Ví dụ, để tính chỉ số lạm phát (hoặc bất cứ chỉ số kinh tế nào khác) giữa năm 2005 và 2010, nhà phân tích có thể dùng năm 2005 làm năm cơ sở hay làm năm đầu tiên tính mốc thời gian.

Base Period / Thời kỳ cơ sở

Một khoảng thời gian cụ thể mà dữ liệu được thu thập và sử dụng làm tiêu chuẩn so với dữ liệu kinh tế từ các giai đoạn khác được đánh giá. Thuật ngữ này còn được gọi là "thời gian tham khảo." ("reference period.") Điều này như một thước đo cho dữ liệu kinh tế. Ví dụ: nếu chỉ số giá có năm gốc là năm 1990, giá hiện tại đang được so sánh với giá trong khoảng thời gian đó.

Base Pay / Mức lương cơ bản

Mức bồi thường ban đầu của một nhân viên, không bao gồm khoản bồi thường một lần hoặc tăng mức lương. Mức lương cơ bản của một nhân viên có thể được biểu thị bằng mức lương cơ bản hàng giờ hoặc như một mức lương hàng năm. Các hình thức bồi thường bổ sung được loại trừ khỏi mức lương cơ bản thường bao gồm: trả chênh lệch ca, trả theo cuộc gọi, trả cho chuyển nhượng đặc biệt hoặc trả thưởng và thưởng dựa trên ưu đãi. Theo nguyên tắc chung, lương cơ bản của nhân viên là mức lương họ sẽ nhận được ở mức tối thiểu, trong khi các hình thức có thể trả thêm hoặc có thể làm tăng tổng số tiền trả trên mức này.

Base Metals / Kim loại cơ bản

Kim loại bị ôxi hóa, xỉn màu hoặc bị ăn mòn tương đối dễ dàng khi tiếp xúc với không khí hoặc độ ẩm. Kim loại cơ bản được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động thương mại và công nghiệp. Chúng có nhiều trong tự nhiên và do đó rẻ hơn nhiều so với các kim loại quý như vàng, bạc và bạch kim. Kim loại cơ bản bao gồm nhôm, đồng, chì, niken, thiếc và kẽm. Thời gian mà thuật ngữ "kim loại cơ bản" có thể xuất hiện bởi vì những vật liệu này rẻ tiền và thường được tìm thấy dễ dàng hơn so với kim loại "quý" như vàng và bạch kim, kim loại cơ bản là vô giá đối với nền kinh tế toàn cầu vì tính tiện dụng và phổ biến của chúng. Đồng, một kim loại cơ bản hàng đầu, thường được gọi là kim loại có chữ Ph.D. trong kinh tế học vì được sử dụng rộng rãi nên giá của nó rất nhạy cảm với xu hướng kinh tế toàn cầu.

Base II / Hệ thống xử lý dữ liệu Base II

Là một hệ thống xử lý dữ liệu được vận hành bởi tổ chức VISA USA để thanh toán bù trừ các giao dịch ngân hàng giữa các ngân hàng thương mại được quyền phát hành thẻ và các nhà phát hành thẻ thực sự. Hệ thống này cung cấp dịch vụ thanh toán tài khoản hàng ngày giữa các định chế thành viên của VISA. Hệ thống xử lý dữ liệu vận hành bởi VISA, Base I, cho phép các giao dịch được thực hiện, trong khi các Base II bù trừ và thanh toán các giao dịch. Base II được tạo ra cùng tiêu chuẩn với Base I vào năm 1976 bởi đội ngũ Chuyên viên Công nghệ Thông tin của Ngân hàng Hoa Kỳ. Base là công trình kỹ thuật hệ thống của Ngân hàng Hoa Kỳ. Hệ thống được đặt tên như vậy vì trước năm 1973, VISA đã từng được biết đến với tên BankAmericard.

Base I / BASE I

Mạng xử lý dữ liệu được sử dụng bởi Visa Hoa Kỳ để xử lý và cung cấp các dịch vụ ủy quyền và ủy quyền liên quan đến giao dịch thẻ tín dụng diễn ra thông qua các ngân hàng được kết nối với Visa Hoa Kỳ. Base I được tạo ra vào năm 1976 bởi các nhân viên CNTT của Ngân hàng Mỹ. BASE là viết tắt của Bank of America System Engineering (hệ thống kĩ thuật ngân hàng Mỹ). Hệ thống được đặt tên này bởi trước năm 1973, Visa đã từng được biết đến như thẻ của ngân hàng Mỹ.

Base Effect / Hiệu ứng cơ bản

Hậu quả của mức lạm phát cao hoặc thấp bất thường trong một tháng trước làm sai lệch số lạm phát trong tháng gần đây nhất. Một hiệu ứng cơ sở có thể gây khó khăn cho việc đánh giá chính xác mức lạm phát theo thời gian. Nó biến mất theo thời gian nếu mức lạm phát tương đối ổn định. Lạm phát được tính từ năm gốc trong đó chỉ số giá được gán số 100. Ví dụ: nếu chỉ số giá năm 2010 là 100 và chỉ số giá năm 2011 tăng lên 110, tỷ lệ lạm phát sẽ là 10%. Nếu chỉ số giá tăng lên 115 trong năm 2012, cách tốt nhất để đánh giá lạm phát là gì? Một mặt, giá chỉ tăng 5% so với năm trước, nhưng chúng đã tăng 15% kể từ năm 2010. Tỷ lệ lạm phát cao trong năm 2011 khiến tỷ lệ lạm phát năm 2012 trông tương đối nhỏ và không thực sự cung cấp một bức tranh chính xác về mức độ tăng giá mà người tiêu dùng đang trải qua. Sự biến dạng này là hiệu ứng cơ bản.

Base Currency / Đồng tiền định giá

Là đồng tiền đứng trước được yết trong một cặp tỷ giá hối đoái. Nó còn được coi là đồng tiền nội tệ hoặc đồng tiền kế toán. Vì mục đích kế toán, một công ty có thể sử dụng đồng tiền cơ sở để báo cáo lãi/lỗ.Đồng tiền định giá đôi khi được gọi là đồng tiền cơ sở. ("primary currency") Ví dụ, nếu bạn đang quan sát cặp tiền tệ CAD/USD, đồng đô la Canada sẽ là đồng tiền định giá và đồng đô la Mỹ sẽ là đồng tiền yết giá. Tỷ giá cho biết bạn cần bao nhiêu đồng tiền yết giá để có được một đơn vị đồng tiền định giá.

Barry Diller / Barry Diller

Giám đốc điều hành kiêm chủ tịch lâu năm của công ty truyền thông InterActiveCorp (IAC). Mạng lưới các trang web của IAC bao gồm Expedia, Hotels.com, Match.com, Ask.com, Ticketmaster Online, Citysearch, Lending Tree, Evite, Vimeo, Shoebuy.com và ServiceMagic.Diller gia nhập thế giới truyền thông khi ông gia nhập ABC vào năm 1966, nơi ông lên làm phó chủ tịch truyền hình thời kỳ đầu năm 1973. Ông đã giúp ABC cạnh tranh với các mạng lớn khác bằng cách giới thiệu bộ phim "Movie of the Week" của ABC vào năm 1969 với các đạo diễn như Aaron Spelling và Steven Spielberg. Phim sản xuất cho truyền hình đã trở thành một cách thông thường trong ngành công nghiệp vì chúng không tốn kém và nhanh chóng để sản xuất. Diller sinh năm 1942 tại San Francisco và không tốt nghiệp đại học. Ông bắt đầu sự nghiệp của mình trong phòng thư tín tại một cơ quan tài năng của Hollywood, William Morris Agency, vào năm 1961. Diller tiếp tục trở thành chủ tịch của Paramount năm 1974 và CEO và chủ tịch của 20th Century Fox vào năm 1984.Tại Fox, ông đã ra mắt Fox Broadcasting Company để cạnh tranh với ABC, CBS và NBC. Đài phát sóng các chương trình ăn khách như COPS và The Simpsons. Ông rời Fox năm 1992 để trở thành CEO của QVC Network, nơi ông đã đấu thầu không thành công để tiếp quản Paramount. Sau khi rời QVC, ông trở thành chủ tịch và CEO của Silver King Communications vào năm 1995, Mạng mua sắm tại nhà (HSN) năm 1996, IAC năm 1998 và Vivendi Universal Entertainment vào năm 2002.

Barron's Confidence Index / Chỉ số tin cậy Barron

Một chỉ số độ tin cậy được tính bằng cách chia lợi suất trung bình của các trái phiếu thứ hạng cao cho lợi suất trung bình của trái phiếu thứ hạng thấp. Sự khác biệt giữa lợi suất là biểu hiện cho niềm tin của nhà đầu tư.Tỷ lệ tăng cho thấy các nhà đầu tư đang yêu cầu mức phí bảo hiểm thấp hơn cho rủi ro gia tăng và do đó đang thể hiện niềm tin vào nền kinh tế. Lý thuyết là nếu các nhà đầu tư lạc quan, họ có nhiều khả năng đầu tư vào loại trái phiếu đầu cơ hơn, thúc đẩy lợi suất giảm và chỉ số tin cậy tăng lên. Điều ngược lại là đúng nếu các nhà đầu tư bi quan.

Barriers To Exit / Rào cản rút lui

Là những sự cản trở hay ngăn cản một công ty rút lui khỏi thị trường. Một rào cản rút lui điển hình bao gồm tài sản có tính đặc tính cao, khó bán hoặc phân bổ lại, chi phí thoái lui lớn ví dụ như một sự ghi giảm giá tài sản và chi phí đóng, và một mối quan hệ liên kết kinh doanh, làm cho việc bán một phần doanh nghiệp trở nên khó khăn. Một rào cản rút lui thông thường là sự mất mát giá trị thương hiệu trong lòng khách hàng.    Một công ty có thể quyết định rút lui khỏi thị trường vì nó khó có thể chiếm lĩnh được thị phần hoặc khó có thể tạo ra lợi nhuận hoặc vì những lý do khác. Một rào cản rút lui cao có thể khiến một công ty tiếp tục cạnh tranh trên thị trường làm tăng cạnh tranh trong ngành. Sản xuất chuyên môn hóa là một ví dụ của một ngành công nghiệp có rào cản rút lui cao, vì nó đòi hỏi sự đầu tư thiết bị sản xuất lớn cho một công việc duy nhất.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55