Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bear Squeeze / Thúc ép người đầu cơ giá xuống

Một sự thay đổi trong điều kiện thị trường mà bắt ép tiêu cực các nhà đầu cơ chiếm lấy lợi nhuận từ việc giảm giá thị trường để mua lại một khoản đầu cơ ở mức giá cao hơn khi họ bán chúng. Một sự thúc ép người đầu cơ giá xuống có thể là một sự kiện có chủ ý được gây nên bởi những người chơi chắc tay trong thị trường đầu cơ, thường là các ngân hàng trung ương hoặc những người nắm bắt thị trường. Một ngân hàng trung ương có thể tạo nên một sự thúc ép đầu cơ giá xuống bằng việc tăng tỉ giá hối đoái, trong khi những người nắm bắt thị trường có thể sử dụng biện pháp đẩy giá cổ phiếu lên cao. Một sự thúc ép đầu cơ giá xuống bắt buộc các nhà đầu cơ giá xuống, những người mà ‘bán trước, mua sau’, phải chịu tổn thất. Để thoát khỏi thế đoản vị, họ buộc phải mua lại cổ phiếu ở mức giá cao hơn. Đó cũng được gọi là hiện tượng ‘short squeeze’

Bear Spread / Mua bán theo chênh lệch trong thị trường hạ giá

1. Một chiến lược quyền chọn tìm mức lợi nhuận cao nhất khi giá thị trường chứng khoán giảm. Chiến lược này liên quan tới sự mua và bán đồng thời các quyền chọn; nhiều put hay call có thể được sử dụng. Một mức giá cố định cao hơn được mua và một mức giá cố định thấp hơn được bán đi. Các quyền chọn đều có ngày hết hiệu lực như nhau. 2. Một chiến lược đầu cơ được thực hiện bởi các nhà đầu cơ kỳ hạn, những người có ý định kiếm lợi nhuận từ sự giảm giá hàng hóa đồng thời hạn chế những rủi ro tổn thất có thể xảy ra. 1. Bạn sẽ kiếm được lợi nhuận nếu giá thị trường đi xuống và sẽ bị lỗ nếu giá thị trường tăng lên. 2. Một cuộc đầu cơ giá xuống được tạo ra thông qua sự mua và bán đồng thời hai hợp đồng kỳ hạn giống hoặc gần tương tự nhau. Điều này được hoàn thiện trong thị trường hàng hóa nông nghiệp bằng việc bán đi một hàng hóa giao sau và bù trừ nó bằng cách mua một hợp đồng tương tự cùng với gia tăng thêm thời hạn giao hàng.

Bear Raid / Đột kích của người đầu cơ giá xuống

Hành động bất hợp pháp nhằm mục đích đẩy giá cổ phiếu xuống thấp hơn bằng cách bán số lượng lớn các cổ phiếu không thuộc sở hữu (bán khống) và lan truyền những tin đồn bất lợi về mục tiêu của công ty. Trong cuộc đầu cơ giá xuống, lợi nhuận của những người thao túng thị trường chứng khoán là sự chênh lệch giữa giá gốc và mức giá thấp hơn (đã bị thao túng) của cổ phiếu. Đây là một hành động phổ biến ở những năm đâù 1900s.

Bear Put Spread / Đầu cơ giá xuống

Một dạng của những chiến lược quyền chọn (option) được sử dụng khi một nhà đầu cơ quyền chọn mong đợi giá thị trường đi xuống. Chiến lược đầu cơ giá xuống đạt được bởi quyền chọn mua các lựa chọn (put) ở một mức giá cố định đích danh trong hợp đồng trong khi bán đồng thời số put khác ở một mức giá cố định thấp hơn. Lợi nhuận cao nhất thu được khi sử dụng chiến lược này chính bằng sự chênh lệch giữa hai mức giá cố định khác nhau, trừ đi chi phí ròng của các quyền chọn. Ví dụ, chúng ta hãy cho rằng một cổ phiếu đang giao dịch ở mức 30$. Một nhà đầu cơ quyền chọn có thể sử dụng chiến lược đầu cơ giá xuống bằng việc mua một hợp đồng quyền chọn put với mức giá cố định 35$ với chi phí 475$ (4.75$* 100 cổ phiếu/ hợp đồng) và bán một hợp đồng quyền chọn với mức giá cố định là 30$ với chi phí 175$ (1.75$* 100 cổ phiếu/ hợp đồng). Trong trường hợp này, nhà đầu cơ cần phải trả tổng cộng 300$ là chi phí để thực hiện chiến lược này (475$ - 175$). Nếu giá thị trường niêm yết dưới mức 30$ theo như mong đợi, sau đó nhà đầu cơ sẽ thu được lợi nhuận là 200$ (( 35$ - 30$)* 100 cổ phiếu/ hợp đồng - (475$ -175$)).

Bear Market Rally / Thị trường giá xuống có tín hiệu tăng giá

Đây là một giai đoạn mà giá các chứng khoán bất ngờ tăng trở lại trong suốt thời kỳ giá xuống. Thị trường giá xuống có tín hiệu tăng giá thường là một tín hiệu tăng giá của thị trường diễn ra trong thời gian ngắn sau một giai đoạn sụt giảm thị trường và kéo theo một giai đoạn sụt giảm thị trường khác dẫn đến xu hướng giảm rõ rệt. Mặc dù không có những tín hiệu chính thức nào được quy định là cho thấy thị trường giá xuống đang có tín hiệu tăng giá thì đôi khi nó được xác định là tại mức tăng thị trường chung từ 10-20% trên toàn bộ thị trường giá xuống có nghĩa là đã xuất hiện tín kiệu kể trên. Có rất nhiều ví dụ về các tín hiệu tăng giá của thị trường giá xuống từng diễn ra trong lịch sử của thị trường chứng khoán hiện đại, trong đó có Dow Jones sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929 nhưng sau đó thì Dow Jones vẫn bị sụp đổ vào năm 1932.

Bear Flattener / Kẻ san phẳng sự xuống giá

Đây là một thuật ngữ nói về môi trường lãi suất mà ở đó lãi suất ngắn hạn đang tăng với tốc độ nhanh hơn lãi suất dài hạn. Điều này làm cho đường cong lợi suất bị san phẳng khi lãi suất ngắn hạn và dài hạn bắt đầu tập trung lại nhiều hơn. Bất kể khi nào thì đường cong lợi suất cũng đều chỉ có 2 trạng thái dốc hoặc phẳng. Những biến động này xảy ra do nhu cầu của nhà đầu tư, lãi suất thay đổi và các nhà đầu tư thuộc các tổ chức giao dịch các khối chứng khoán có mức lợi nhuận cố định lớn. Nếu đường cong bị san phẳng, điều này có nghĩa là sự chênh lệch giữa lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn đang dần bị thu hẹp. Kẻ san phẳng sự xuống giá sẽ xuất hiện khi chính phủ tăng lãi suất trong ngắn hạn. Việc tăng lãi suất sẽ khiến giá trái phiếu ngắn hạn giảm và nhanh chóng làm tăng lãi suất của chúng trong ngắn hạn và ảnh hưởng đến các chứng khoán dài hạn.

Bear Call Spread / Quyền mua chênh lệch do đầu cơ giá hạ

Đây là một kiểu chiến lược quyền chọn được sử dụng khi có những kỳ vọng về sự sụt giảm giá các tài sản cơ sở. Nó được thực hiện bằng cách bán các quyền chọn mua tại mức giá cố định được ghi trong hợp đồng đồng thời mua vào một số lượng tương tự các quyền chọn mua khác nhưng tại mức giá cao hơn. Lợi nhuận tối đa có thể có được khi sử dụng chiến lược này tương đương với chênh lệch giá mua và giá bán các quyền chọn.  Giả sử là một cổ phiếu đang được giao dịch tại mức giá 30 Đô. Một nhà chuyên đầu tư các quyền chọn mua một quyền chọn mua có giá trị hợp đồng là 35 Đô với phí quyền chọn là 0.50 Đô đồng thời bán một hợp đồng quyền chọn mua có giá trị hợp đồng là 30 Đô với mức phí là 2.50 Đô. Nếu giá trị tài sản cơ sở dừng ở mức 30 Đô cho đến ngày đáo hạn hợp đồng thì nhà đầu tư sẽ lãi được 200 Đô (($2.50-0.50)*100 cổ phiếu một hợp đồng)

Bear / Con gấu

Đây là một thuật ngữ nói về một kiểu nhà đầu tư chuyên đi đặt cược vào các cổ phiếu hay thị trường đang xuống giá nào đó. Những nhà đầu tư này sẽ cố thu lợi nhuận đến từ sự suy giảm của giá và thường họ hay bi quan về tình trạng của một thị trường nhất định. Ví dụ nếu một nhà đầu tư có khuynh hướng nghĩ đến việc giá chứng khoán sẽ giảm trên sàn S&P 500, họ sẽ cố gắng kiếm lợi từ sự sụt giảm các chỉ số đến từ thị trường rộng lớn. Quan điểm về việc chứng khoán xuống giá có thể được áp dụng cho tất cả các loại thị trường kể cả là thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu. Mặc dù bạn có thể thường xuyên được nghe tới việc thị trường chứng khoán đang trong tình trạng thay đổi liên tục bởi vì những con gấu và những người bên kia chiến tuyến nhưng lại vô cùng lạc quan, đó là "những con bò tót", đang cố gắng kiểm soát nó, hãy nhớ rằng trong 100 năm qua, thị trường chứng khoán Mỹ đã đạt được mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 11%. Điều này có nghĩa là mọi con gấu đơn độc trên thị trường dài hạn đều đã bị mất tiền.

BCG Growth Share Matrix / Ma trận tăng trưởng thị phần BCG

Đây là một phương pháp được biểu thị dưới dạng đồ thị dùng để phân bổ nguồn lực trong một doanh nghiệp kinh doanh đa phân khúc. Ma trận tăng trưởng thị phần chuyên dùng để phân tích các phòng ban khác nhau trong cùng một tập đoàn và so sánh mức độ tăng trưởng cũng như thị phần của các phòng ban này với các đối thủ cạnh tranh.

Bayes' Theorem / Định lý Bayes

Đây là một công thức được đặt theo tên của nhà toán học người Anh sống vào thế kỷ thứ 18 Thomas Bayes mà được dùng để tính xác suất có điều kiện. Định lý này hỗ trợ việc rà soát lại các dự đoán hoặc lý thuyết hiện có bằng cách đưa ra bằng chứng mới hoặc bằng chứng bổ sung. Trong tài chính, Định lý Bayes có thể được sử dụng để đánh giá rủi ro vay tiền cho những người đi vay. Công thức có dạng như sau: Định lý Bayes còn có thể gọi là "Quy tắc Bayes". Các ứng dụng của định lý là rất rộng và thậm chí là không có giới hạn trong lĩnh vực tài chính. Ví dụ, Định lý Bayes có thể được sử dụng để xác định tính chính xác của kết quả xét nghiệm y tế bằng cách tính toán khả năng một người nào là có bệnh và độ chính xác của xét nghiệm nói chung.

Batch-Level Activities / Hoạt động hàng loạt

Trong kế toán quản trị, chi phí sản xuất chỉ phát sinh khi một lô hàng mới được xử lý. Những chi phí này có thể bao gồm những thứ như thời gian lắp đạt hay điều chỉnh, chi phí phát sinh từ hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu và máy tải. Đối với các chi phí này, việc có bao nhiêu đơn vị được sản xuất theo lô là không quan trọng. Việc hiểu được cách thức chi phí phát sinh từ hai lý do chính sau đây mới quan trọng. Đầu tiên, khi các nhà quản lý tài chính hiểu rằng một vài chi phí nào đó được phát sinh theo lô thì họ có thể lựa chọn việc sản xuất các lô hàng lớn hơn để giảm thiểu chi phí. Thứ hai, hiểu được chi phí hàng loạt cho phép các nhà kế toán quản trị phân bổ chính xác hơn những chi phí sản xuất cho các sản phẩm cuối cùng. Điều này giúp cho việc phân tích lợi nhuận của từng sản phẩm được chính xác hơn.

Batch Processing / Xử lý hàng loạt

Đây là công việc xử lý các giao dịch theo một nhóm hoặc xử lý hàng loạt mà không cần có tương tác người dùng khi quá trình này được tiến hành. Điều này giúp phân biệt giữa xử lý hàng loạt với xử lý giao dịch mà ở đó việc xử lý từng giao dịch một cần có sự tương tác người dùng. Mặc dù xử lý hàng loạt có thể được thực hiện bất cứ lúc nào nhưng nó lại đặc biệt phù hợp khi xử lý vào cuối chu kỳ của quá trình, chẳng hạn như là xử lý các báo cáo của ngân hàng vào cuối ngày, hay là tạo ra bảng lương hàng tháng hoặc hai tuần một lần. Ví dụ: hóa đơn hàng tháng cho các tiện ích và các dịch vụ khác mà người tiêu dùng nhận được thường được tạo ra bằng cách xử lý hàng loạt. Xử lý hàng loạt có một số lợi ích, như cho phép chia sẻ tài nguyên máy tính và tạo điều kiện tốt hơn cho việc sử dụng các tài nguyên này.

Basket Trade / Giao dịch cả rổ

Đây là một lệnh mua hoặc bán một nhóm các chứng khoán cùng một lức. Giao dịch cả rổ cần thiết cho các nhà đầu tư đến từ các tổ chức hay các quỹ đầu tư mong muốn có được một số lượng lớn các chứng khoán với tỷ lệ nhất định. Giống như khi dòng tiền đi ra ngoài hoặc vào trong quỹ, các rổ chứng khoán lớn phải được mua hoặc bán cùng lúc để cho sự dịch chuyển về giá của từng chứng khoán không thay đổi cách phân bổ các danh mục. Để cho một giao dịch được coi như là "giao dịch rổ", nó phải có khối lượng mua bán chứng khoán vào mức 15 hoặc nhiều hơn. Ví dụ, một chỉ số quỹ hướng đến việc vạch ra những mục tiêu về chỉ số bằng cách nắm giữ hầu hết các chứng khoán có liên quan đến chỉ số. Bởi lẽ khi một dòng tiền đi vào có thể làm tăng giá trị của quỹ, để có thể quản lý chúng cần phải cùng một lúc mua một số lượng lớn các chứng khoán theo một tỷ lệ mà chúng được trình bày thông qua chỉ số. Nếu nó không có khả năng thực hiện giao dịch rổ toàn bộ những chứng khoán này thì một vụ dịch chuyển về giá diễn ra nhanh sẽ ngăn cho các quỹ chỉ số khỏi việc nắm giữ các chứng khoán sai tỷ lệ.

Basket Option / Quyền chọn cả rổ

Đây là một loại chứng khoán phái sinh tài chính nơi mà tài sản cở sở bao gồm một nhóm các loại hàng hóa, chứng khoán hay tiền tệ. Giống như những quyền chọn khác, quyền chọn cả rổ đem lại cho người nắm giữ chúng quyền (chứ không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một tài sản cơ sở với một mức giá nhất định vào đúng hoặc trước một ngày nào đó (người nắm giữ có quyền mua hoặc bán hoặc để cho quyền chọn hết hạn một cách vô giá trị). Đối với quyền chọn cả rổ mặc dù vậy thì người nắm giữ chúng có quyền (không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một nhóm các tài sản cơ sở. Một hợp đồng quyền chọn cả rổ thường bị coi là một hợp đồng quyền chọn ngoại lai. Một hợp đồng quyền chọn tiền tệ cả rổ đưa ra một phương pháp đem lại hiệu quả về giá hơn cho các tập đoàn đa quốc gia để hạn chế những rủi ro khi phải quản lý rất nhiều loại tiền tệ trên cơ sở hợp nhất. Ví dụ, một tập đoàn toàn cầu như là McDonald's có thể mua hợp đồng quyền chọn cả rổ mà có liên quan đến đông Rupee của Ấn Độ và đồng Bảng Anh để đổi lấy đồng Đô-la Mỹ. Hợp đồng quyền chọn tiền tệ cả rổ có tất cả những đặc điểm của một hợp đồng quyền chọn đạt chuẩn nhưng khi mà mức giá cố định của hợp đồng được dựa trên giá trị bình quân của toàn bộ các tiền tệ thành phần (được tính toán dựa trên tiền tệ của người nắm giữ). Một hợp đồng quyền chọn cả rổ tốn ít chi phí hơn so với rất nhiều quyền chọn đơn khác.

Basket Of Goods / Rổ hàng hóa

Một tập hợp gần như cố định của các sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ có giá trị và được sử dụng hàng năm để theo dõi lạm phát trong một thị trường hay quốc gia cụ thể. Hàng hóa trong rổ thường được điều chỉnh định kỳ vào tài khoản theo những thay đổi trong thói quen tiêu dùng. Rổ hàng hóa được sử dụng chủ yếu để tính toán chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Muốn định nghĩa một rổ hàng hóa thì tốt nhất là nên tưởng tượng một giỏ hàng mua sắm. Giỏ chứa các sản phẩm hàng ngày như đồ ăn, quần áo, đồ nội thất và dịch vụ tài chính. Khi các sản phẩm trong giỏ tăng hoặc giảm giá thì giá trị tổng thể của cả rổ cũng thay đổi theo. Chỉ số CPI so sánh giá trị của giỏ hàng năm và xác định mức độ lạm phát trong thời gian đó. Thành phần của rổ hàng hóa có thể thay đổi theo từng năm.

Basis Trading / Giao dịch cơ sở

Đây là một chiến lược giao dịch kiếm lợi nhuận từ chênh lệch từ việc định giá sai các chứng khoán có tính chất giống nhau. Giao dịch cơ sở có liên quan đến chiến lược giao dịch mà ở đó một nhà giao dịch tin rằng hai loại chứng khoán giống nhau bị định giá sai lẫn nhau và nhà giao dịch sẽ có được 2 loại chứng khoán với thế giá lên và thế giá xuống trái ngược nhau để kiếm lợi từ việc kết hợp các giá trị của chúng. Chiến lược này được gọi là giao dịch cơ sở, bởi vì nó thường nhằm mục đích thu lợi từ những thay đổi rất nhỏ của điểm cơ sở về giá trị của hai chứng khoán. Ví dụ, một nhà giao dịch cơ sở có thể xem xét hai trái phiếu tương tự bị định giá sai để có được cả thế giá lên từ trái phiếu được cho là bị định giá thấp và thế giá xuống từ cổ phiếu bị định giá cao. Nhà giao dịch sẽ hy vọng trái phiếu bị định giá thấp sẽ lên giá một cách tương đối so với trái phiếu được định giá cao, do đó thu được lợi nhuận từ các trái phiếu có các thế khác nhau. Để nhà giao dịch có thể kiếm được lợi nhuận, anh ta sẽ phải thực hiện một lượng lớn đòn bẩy để tăng quy mô về thế của các chứng khoán của mình. Việc sử dụng mức đòn bẩy lớn này có rủi ro lớn nhất liên quan đến giao dịch cơ sở.

Breakout Trader / Thương nhân đột phá

Đây là một loại nhà giao dịch sử dụng phân tích kỹ thuật để tìm cơ hội giao dịch tiềm năng, xác định các tình huống trong đó giá của một tài sản có khả năng trải qua một chuyển động đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn. Các nhà giao dịch đột phá thường tìm kiếm các mức hỗ trợ và kháng cự chính và sẽ thực hiện các giao dịch khi giá của tài sản vượt qua các mức này. Các vị trí dài được thực hiện khi giá của một tài sản vượt qua một mức kháng cự và các vị trí ngắn được thực hiện khi giá phá vỡ dưới một mức hỗ trợ. Nhiều nhà giao dịch đột phá tìm thấy cơ hội giao dịch bằng cách xác định các mẫu biểu đồ như kênh, tam giác tăng dần, tam giác giảm dần, đầu và vai, v.v. Những loại giao dịch này thường sẽ thiết lập giá mục tiêu bằng với khoảng cách giữa các mức hỗ trợ và kháng cự.

Breakout / Đột phá

Đây là một chuyển động giá thông qua một mức hỗ trợ hoặc kháng cự được xác định, thường được theo sau bởi khối lượng lớn và biến động tăng. Các thương nhân sẽ mua tài sản cơ bản khi giá phá vỡ trên một mức kháng cự và bán khi nó phá vỡ dưới mức hỗ trợ. Biểu đồ này cho thấy một cổ phiếu trong lịch sử đã gặp rất nhiều kháng cự gần $ 37, nhưng chú ý làm thế nào nó tăng mạnh sau khi phá vỡ. Trong thực tế, một đột phá thường được sử dụng nhất để chỉ tình huống giá phá vỡ trên một mức kháng cự và tăng cao hơn, thay vì phá vỡ dưới một mức hỗ trợ và hướng xuống thấp hơn. Khi mức kháng cự bị phá vỡ, nó được coi là mức hỗ trợ tiếp theo khi tài sản gặp phải sự thoái lui Hầu hết các nhà giao dịch sử dụng các mẫu biểu đồ và các công cụ kỹ thuật khác như đường xu hướng để xác định các ứng cử viên có khả năng vượt qua mức hỗ trợ / kháng cự. Một đột phá là đối tác tăng giá cho một sự cố.

Breaking The Syndicate / Phá vỡ tổ chức

Thuật ngữ này chỉ việc giải thể một nhóm các chủ ngân hàng đầu tư đã tạo ra một tổ chức để củng cố vấn đề bảo mật cụ thể. Trước khi chấm dứt thỏa thuận, các nhà bảo lãnh phải bán chứng khoán với giá chào bán. Tổ chức này thường chấm dứt 30 ngày sau ngày bán, nhưng có thể bị phá vỡ sớm hơn theo thỏa thuận chung của những người tham gia. Việc giải thể một nhóm các chủ ngân hàng đầu tư đã tạo ra một tổ chức để củng cố vấn đề bảo mật cụ thể. Trước khi chấm dứt thỏa thuận, các nhà bảo lãnh phải bán chứng khoán với giá chào bán. Tập đoàn thường chấm dứt 30 ngày sau ngày bán, nhưng có thể bị phá vỡ sớm hơn theo thỏa thuận chung của những người tham gia.

Breaking The Buck / Bẻ khóa

Thuật ngữ này thể hiện khi giá trị tài sản ròng (NAV) của một quỹ thị trường tiền tệ giảm xuống dưới 1 đô la. Bẻ khóa có thể xảy ra khi thu nhập đầu tư của quỹ thị trường tiền tệ không bao gồm chi phí hoạt động hoặc tổn thất đầu tư. Điều này thường xảy ra khi lãi suất giảm xuống mức rất thấp hoặc quỹ đã sử dụng đòn bẩy để tạo rủi ro vốn trong các công cụ không có rủi ro. Giá trị tài sản ròng của quỹ thị trường tiền tệ thường không đổi ở mức 1 đô la vì các sản phẩm đầu tư thường không tạo ra lãi hoặc lỗ vốn. Do đó, tiền gốc trong quỹ thị trường tiền tệ thường không đổi, khiến rủi ro không tồn tại so với cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ tương hỗ thị trường phi tiền tệ. Trường hợp đầu tiên của một quỹ thị trường tiền tệ phá vỡ sự cố xảy ra vào năm 1994, khi Quỹ Ngân hàng Cộng đồng Chính phủ Hoa Kỳ bị thanh lý ở mức 94 cent vì thua lỗ lớn trong các dẫn xuất.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55