Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bearish Engulfing Pattern / Mô hình nhận chìm suy giảm

Một mô hình biểu đồ gồm có một giá đỡ nến trắn nhỏ với phần bóng và đuôi ngắn được theo sau bởi một giá đỡ nến đen to che khuất hay "nhận chìm" cái nhỏ màu trắng. Như đã được bao hàm bởi cái tên của nó, một mô hình nhận chìm suy giảm có khả năng cung cấp dấu hiệu của xu hướng giảm giá trong tương lai. Loại mô hình này hay đi kèm với chiều hướng lên giá của một chứng khoán, có thể báo hiệu mức cao nhất hay sự chậm lại trong tiến trình của nó. Tuy nhiên thì mỗi khi một nhà giao dịch phân tích bất kì mô hình giá đỡ nến nào, điều quan trọng trước khi đưa ra quyết định là cân nhắc giá của các ngày trước và sau khi mô hình được hình thành.

Bear Steepener / Chu trình tăng trưởng

Sự mở rộng của đường cong lãi suất gây ra bới sự tăng trưởng nhanh hơn của lãi suất dài hạn so với ngắn hạn. Điều này gây ra sự chênh lệch lớn hơn giữa hai tỷ lệ khi lãi suất dài hạn càng di chuyển ra xa khỏi lãi suất ngắn hạn. Đường cong lãi suất mở rộng này tương tự như (bull steepener) ngoại trừ việc chu trình tăng trưởng được thúc đẩy bởi những thay đổi trong suất dài hạn trong khi với bull steepener thì lãi suất ngắn hạn lại có ảnh hưởng lớn hơn lên đường cong lãi suất.

Bear Position / Vị thế giá giảm

Thuật ngữ này thay thế cho một vị thế ngắn trong an ninh tài chính. Một vị thế giá giảm cố gắng kiếm lợi nhuận trong một thị trường bằng cách đặt cược rằng giá sẽ giảm cho một số chứng khoán nhất định. Người bán ngắn mượn chứng khoán với hy vọng giá sẽ giảm. Khi giá giảm, nhà đầu tư kiếm được lợi nhuận từ việc thay đổi giá. Khi giá tăng, nhà đầu tư mất tiền. Ngoài ra còn có nhiều cách khác để bắt đầu các vị thế giá giảm như mua quyền chọn mua hoặc mua các quỹ ETF nghịch đảo. Vị thế gía giảm đối diện với vị trí giá lên. Vị thế gía giảm là một giao dịch hoặc đầu tư được thực hiện với hy vọng rằng giá của chứng khoán sẽ giảm. Nếu một giao dịch bán ngắn dịch chuyển chống lại nhà đầu tư hoặc thương nhân, nhà giao dịch có thể phải chịu tổn thất không giới hạn do giá của chứng khoán có thể tiếp tục tăng. Điều này trái ngược với một vị thế dài mà giá của chứng khoán có thể dịch chuyển so với nhà đầu tư chỉ với một số tiền nhất định; nghĩa là bằng không. Việc sử dụng các chiến lược thay thế để bắt đầu một vị thế giá giảm có thể giảm thiểu một số rủi ro này.

Bear CD / Chứng chỉ tiền gửi giá xuống

Một loại chứng chỉ tiền gửi mà lãi suất của nó giao động ngược chiều với giá trị của một chỉ số thị trường chứng khoán cơ sở. Nói cách khác, lãi suất được trả trên chứng chỉ tiền gửi tăng khi mà giá trị chỉ số thị trường chứng khoán cơ sở giảm. Loại chứng chỉ tiền gửi này được sử dụng với 2 mục đích: Đầu cơ hoặc tự phòng hộ. Một nhà đầu tư có thể muốn có một rào chắn an toàn khi thị trường đi xuống bằng cách mua một chứng chỉ tiền gửi giá xuống. Chứng chỉ này sẽ hạ giá bởi nhà đầu tư đang đánh cược rằng thị trường sẽ đi xuống trong suốt quãng thời gian mà chứng chỉ tiền gửi này có hiệu lực. Loại công cụ này cũng được sử dụng để tự phòng hộ các vị thế hiện có trên thị trường. Nếu một nhà đầu tư đang ở vị thế giá lên mà có mối tương quan cao đối với chỉ số thị trường chứng khoán cơ sở, anh ta hay cô ta có thể đầu tư số tiền còn dư của mình vào một chứng chỉ tiền gửi giá xuống, mà nhờ đó có thể bù trừ các khoản lỗ khi đầu tư vào thị trường.

Beacon Score / Điểm Beacon

Một số điểm được đưa ra bởi tổ chức tín dụng Equifax nhằm xếp hạng uy tín về khả năng thanh toán nợ của một cá nhân. Điểm Beacon là điểm tín dụng, được xác định bằng một thuật toán phức tạp. Những con số này giúp người cho vay biết được khả năng trả nợ của người đi vay. Khi mà điểm NextGen FICO bắt đầu được sử dụng thì điểm Beacon đã bị thay thế bởi điểm Pinnacle. Các chỉ tiêu về mặt toán học được dùng để tính điểm Beacon bao gồm các khoản thanh toán trễ, các khoản nợ hiện tại, khoảng thời gian mà một tài khoản đã được mở, các loại tín dụng và đăng ký tín dụng mới. Beacon và các điểm tín dụng khác đều tác động đến lãi suất của một khoản vay. Nếu điểm của người đi vay là quá thấp, người cho vay sẽ đưa ra mức lãi suất cao hơn hoặc có thể từ chối cho vay. Mỗi tổ chức lại sử dụng một cái tên khác nhau cho điểm tín dụng của họ ngay cả khi họ cùng sử dụng thuật toán FICO để tính điểm tín dụng. Ví dụ:- Experian sử dụng thuật ngữ "FICO" hay "FICO II",- TransUnion sử dụng "Empirica"- Equifax sử dụng "Beacon" Đối với điểm NextGen FICO (tạo ra bởi tập đoàn Fair Isaac), những cái tên mới được sử dụng là:- Điểm rủi ro cấp tiến FICO, được sử dụng bởi Experian- Precision, dùng bởi TransUnion- Pinnacle, dùng bởi Equifax

Baycorp Advantage (Veda Advantage) / Baycorp Advantage (Veda Advantage)

Một tổ chức tín dụng được đặt tại Úc và New Zealand. Công ty này chuyên cung cấp công nghệ chấm điểm tín dụng và các dịch vụ liên quan đến nghiệp vụ lập báo cáo cũng như phân tích thị trường. Baycorp được thành lập vào năm 1956 và có trụ sở đặt tại thành phố Sydney, Úc. Baycorp Advantacge được đổi tên thành Veda Advantage khi nó sáp nhập với Data Advantage. Các bộ phận cung cấp dịch vụ do Baycorp xây dựng đều đã bị bán đi mặc dù công ty này vẫn giữ lại được cái tên Baycorp.

Bay Street / Phố Bay

1. Một khu phố ở Toronto nơi đặt sàn giao dịch chứng khoán Toronto (Toronto Stock Exchange - TSE). 2. Một tên gọi chung cho các tổ chức tài chính ở Toronto bao gồm các sàn giao dịch chứng khoán, ngân hàng, thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, v.v. Phố Bay là phố Wall phiên bản Canada.

Batting Average / Hệ số đánh trung bình

Một phương thức thống kê được dùng để đo lường khả năng của một nhà quản lý đầu tư trong việc đáp ứng hay vượt mức một chỉ số. Hệ số đánh trung bình được tính bằng cách lấy tổng số ngày (tháng, quý, v.v.) mà nhà quản lý thực hiện công việc vượt mức hoặc ngang bằng với chỉ số chia cho tổng số ngày (tháng, quý, v.v.) trong giai đoạn tính toán và nhân với 100. Một nhà quản lý đầu tư có số ngày thực hiện công việc vượt mức chỉ số thị trường là 15 trên tổng số 30 ngày sẽ có hệ số đánh trung bình là 50. Khoảng thời gian tính toán càng lâu, mức độ thống kê chính xác của phương pháp đo càng lớn. Nhiều nhà phân tích sử dụng phép tính đơn giản này để đánh giá một cách tổng quát các nhà quản lý đầu tư cá nhân.

Batch Trading / Giao dịch theo lô

Đây là một phương thức mua bán các loại chứng khoán khác nhau bao gồm việc tích lũy các lệnh và đồng thời thực hiện chúng. Ví dụ, một loại chứng khoán đang trải qua giai đoạn giao dịch với số lượng tương đối lớn có thể được mua theo lô và thực hiện cùng lúc khi nó đạt đến mức giá dự tính. Giao dịch theo lô hiệu quả hơn đối với các nhà tạo lập thị trường và các chuyên gia bởi lẽ một số lượng lớn các lệnh được tích lũy có thể được thực hiện với số lần giao dịch ít hơn. Ở Mỹ, mọi lệnh giao dịch được chuyển vào thị trường sau khi kết thúc giờ giao dịch đều có thể được giao dịch theo lô. Các lệnh này sẽ được tập hợp và giao dịch theo lô khi thị trường mở cửa, mà tại thời điểm đó thì chúng được giao dịch toàn bộ cùng một lúc.

Basket Of USD Shorts / Giỏ USD Shorts

Đây là chiến lược giao dịch ngoại hối liên quan đến việc bán đồng đô la Mỹ so với một nhóm tiền tệ, thay vì chống lại một loại tiền tệ đơn lẻ. Nhóm tiền tệ tham gia vào chiến lược giao dịch như vậy được gọi là một "giỏ". Chiến lược này thường được sử dụng bởi các nhà giao dịch đang giảm giá đồng đô la Mỹ và muốn có một vị thế giao dịch ngắn trên đó. Lý do cơ bản để sử dụng rổ để rút ngắn đô la Mỹ là giảm thiểu rủi ro thông qua đa dạng hóa. Trong trường hợp đồng đô la Mỹ mạnh lên đáng kể, do nó có thể tăng giá ở các mức giá khác nhau so với các loại tiền tệ khác nhau, tổn thất ở một vị trí ngắn có thể thấp hơn đáng kể nếu nhiều loại tiền tệ tham gia vào nó, trái ngược với một vị thế ngắn sử dụng một loại tiền tệ.

Basket / Rổ cổ phiếu

Một đơn vị bao gồm ít nhất 15 cổ phiếu được sử dụng để giao dịch. Các rổ cổ phiếu được giao dịch trên cả NYSE và CBOE cho các tổ chức và các nhà đầu cơ vào quỹ chỉ số. Cả hai công cụ đều cho phép mua tổng hợp tất cả các cổ phiếu được liệt kê trên chỉ số S&P 500 trong một giao dịch. Rổ cổ phiếu được tạo ra sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1987 nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho hoạt động giao dịch tổ chức vào quỹ chỉ số.   Rổ cổ phiếu cũng là biệt danh được đặt cho một loại công cụ tài chính cụ thể được giao dịch trong một thời gian ngắn trên Sàn giao dịch chứng khoán Philadelphia (PSE) vào năm 1989. Loại cổ phiếu này đã bị xóa khỏi hoạt động giao dịch do tranh cãi về quy định liên quan đến bản chất của nó. Các rổ cổ phiếu được giao dịch trên hai sàn giao dịch khác cuối cùng cũng ngừng giao dịch do có khối lượng kém.

Brokered Certificate Of Deposit / Chứng chỉ tiền gửi thông qua môi giới

Một chứng chỉ tiền gửi (CD) được mua thông qua một công ty môi giới, hoặc từ đại diện bán hàng không phải là ngân hàng. Ngân hàng vẫn là người đầu tiên phát hành CD, nhưng thuê các công ty bên ngoài tìm kiếm các nhà đầu tư tiềm năng. Các loại CD này được bán ở mức giá cao hơn, vì chúng được đưa vào một thị trường cạnh tranh hơn. Một chứng chỉ tiền gửi (CD) được mua thông qua một công ty môi giới, hoặc từ đại diện bán hàng không phải là ngân hàng. Ngân hàng vẫn là người đầu tiên phát hành CD, nhưng thuê các công ty bên ngoài tìm kiếm các nhà đầu tư tiềm năng. Các loại CD này được bán ở mức giá cao hơn, vì chúng được đưa vào một thị trường cạnh tranh hơn.

Brokerage Window / Cửa sổ môi giới

Khả năng giao dịch trực tiếp trong phạm vi cung cấp của công ty môi giới thông qua một chương trình hưu trí, chẳng hạn như 401 (k). Trái với việc bị giới hạn ở các lựa chọn đầu tư trong phạm vi chương trình hưu trí được tài trợ 401 (k), một số nhà đầu tư có quyền lựa chọn thiết lập một "cửa sổ", cho phép họ giao dịch hầu hết các cổ phiếu niêm yết, quỹ tương hỗ và quỹ hoán đổi danh mục. Cũng được gọi là "tài khoản tự định hướng" (self-directed account) hoặc "tài khoản môi giới tự định hướng" (self-directed brokerage account). Cửa sổ môi giới là một quy ước tương đối mới, nhưng nó lại nhanh chóng trở nên phổ biến khi nhiều công ty đưa ra lựa chọn này cho nhân viên của họ. Mặc dù quyền tự do của một cửa sổ môi giới được xem là quá lớn đối với một số nhà đầu tư, nó vẫn là lựa chọn khả thi cho những nhà đầu tư hiểu rõ các rủi ro gia tăng khi lựa chọn cổ phiếu cá nhân và phân bổ tài sản.

Brokerage Supervisor / Giám sát viên môi giới

Một nhân viên công ty môi giới làm công việc chỉ định, đào tạo và quản lý các nhà môi giới cũng như bán các sản phẩm của công ty cho những nhà môi giới đó, những người sau đấy sẽ bán các sản phẩm này cho khách hàng. Giám sát viên môi giới cũng phải đảm bảo các tiêu chuẩn dịch vụ của công ty và quản lý quy trình làm việc. Giám sát viên môi giới có thể làm việc trong một số lĩnh vực, bởi cũng có một số loại hình doanh nghiệp khác nhau áp dụng hình thức công ty môi giới, bao gồm bảo hiểm, bất động sản và các sản phẩm tài chính. Một giám sát viên môi giới giỏi sẽ cần sự tỉ mỉ đến chi tiết, kỹ năng toán học vững chắc, nền tảng kế toán, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng dịch vụ khách hàng tốt và từng có kinh nghiệm với hoạt động bán hàng có chia hoa hồng.Một số giám sát viên môi giới không thực hiện đúng cách việc giám sát các nhà môi giới mà họ chịu trách nhiệm (chẳng hạn thông qua việc thực hiện kiểm toán chính thức hàng năm) và không thiết lập và / hoặc thực thi các chính sách của công ty bảo hiểm sẽ phải chịu sự thực thi pháp luật của Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Hoa Kỳ (SEC), nếu nhà môi giới họ giám sát thực hiện hành vi gian lận . Những hành động thực thi theo pháp luật có thể bao gồm phạt tiền và cấm giữ vị trí giám sát viên trong ngành bảo hiểm và tài chính.

Brokerage General Agent / Tổng đại lý môi giới

Một công ty độc lập hoặc nhà thầu làm việc cho một công ty bảo hiểm, mà công ty đó có chức năng chính là bán một hoặc nhiều sản phẩm bảo hiểm, để lựa chọn người môi giới bảo hiểm. Các nhà môi giới sau đó lại bán các chính sách bảo hiểm cho khách hàng. Các tổng đại lý môi giới có thể chuyên về một phân khúc của ngành bảo hiểm hoặc bán các chính sách bảo hiểm của một loạt các công ty bảo hiểm khác nhau. Ngoài chính sách bán hàng, nhiều tổng đại lý môi giới cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các nhà môi giới cá nhân, bao gồm nhận đơn trực tuyến, theo dõi các trường hợp, cung cấp báo giá ngay lập tức và trả lời các câu hỏi về yêu cầu bảo lãnh phát hành. Có rất nhiều hiệp hội cùng ngành và nhóm lợi ích chung hỗ trợ các tổng đại lý môi giới, bao gồm Hiệp hội Cố vấn tài chính và bảo hiểm quốc gia (NAIFA), Cơ quan môi giới quốc gia (National Brokerage Agencies) và Hiệp hội Đại lý và môi giới bảo hiểm độc lập Hoa Kỳ (Independent Insurance Agents and Brokers of America). Các hiệp hội này vận động hành lang cho lợi ích của các thành viên, cung cấp các cơ hội đào tạo chuyên nghiệp và thúc đẩy thực tiễn hoạt động tốt nhất trong ngành. Các tổng đại lý môi giới cũng có thể thuộc các nhóm giao dịch tại thị trường ngách, nhắm vào một ngành cụ thể, chẳng hạn như Hiệp hội môi giới bảo lãnh phát hành (SUB) cho bảo hiểm nhân thọ hoặc Hiệp hội bảo lãnh y tế quốc gia (NAHU) cho bảo hiểm y tế. Nhiều hiệp hội quốc gia cũng có các văn phòng tại khu vực, tiểu bang hoặc địa phương.

Brokerage Department / Bộ phận môi giới

Một bộ phận trong một công ty bảo hiểm mà nhân viên đại diện tại bộ phận này chuyên mua bảo hiểm cho những khách hàng khó nhận được bảo hiểm, thông qua thị trường bảo hiểm thay thế hoặc bằng cách mua bảo hiểm với mức giá ưu đãi hơn so với mức giá mà khách hàng có thể tự mua được. Ví dụ như một người hút thuốc muốn mua bảo hiểm nhân thọ, một người đã phẫu thuật tim muốn mua bảo hiểm y tế cá nhân và các tình huống rủi ro cao hoặc tình huống bất thường khác. Trong khi những khách hàng có thể dễ dàng đáp ứng các tiêu chí về bảo lãnh của công ty bảo hiểm có thể nhận bảo hiểm trực tiếp từ công ty đó mà không cần sự trợ giúp của nhân viên đại diện, với những khách hàng có rủi ro cao, một nhân viên đại diện từ bộ phận môi giới sẽ phân tích nhu cầu của khách hàng, nghiên cứu và xem xét các lựa chọn bảo hiểm hiện có, đưa ra khuyến nghị và đảm bảo chính sách bảo hiểm cho khách hàng.

Brokerage Company / Công Ty Môi Giới

Một công ty mà trách nhiệm chính là làm trung gian kết nối người mua và người bán lại với nhau để giúp giao dịch giữa hai bên diễn ra thuận lợi. Các công ty môi giới thu lợi nhuận bằng khoản tiền hoa hồng sau khi giao dịch đã kết thúc thành công. Ví dụ, khi một lệnh giao dịch cho một cổ phiếu được thực hiện, một cá nhân thường trả một khoản phí giao dịch cho những nỗ lực thực hiện cuộc giao dịch này của công ty môi giới. Ngành bất động sản cũng hoạt động theo hình thức công ty môi giới, bởi sự hợp tác giữa các nhà môi giới bất động sản là việc thường thấy, mỗi công ty môi giới đại diện cho một bên đứng ra tiến hành giao dịch. Trong trường hợp này, tiền hoa hồng sẽ được chia cho hai công ty môi giới.

Brokerage Account / Tài khoản môi giới

Một thỏa thuận giữa nhà đầu tư và công ty môi giới được cấp phép cho phép nhà đầu tư gửi tiền tới công ty và đặt lệnh đầu tư thông qua môi giới, sau đó nhà môi giới sẽ thực hiện các giao dịch thay mặt nhà đầu tư. Nhà đầu tư sở hữu các tài sản nằm trong tài khoản môi giới và thường được yêu cầu phải xác nhận như là thu nhập bất kỳ khoản lãi nào mà họ nhận được từ tài khoản. Có nhiều loại tài khoản môi giới và công ty môi giới khác nhau; các nhà đầu tư có thể chọn loại tài khoản môi giới và nhà môi giới phù hợp nhất với yêu cầu tài chính của họ. Một số nhà môi giới cung cấp dịch vụ đầy đủ sẽ đưa ra tư vấn đầu tư khá chuyên sâu, và những người này cũng tính phí cao dựa trên nỗ lực mà họ bỏ ra, trong khi hầu hết các nhà môi giới trực tuyến chỉ cung cấp một giao diện an toàn mà thông qua đó, các nhà đầu tư có thể đặt lệnh giao dịch, vì vậy, họ tính phí khá thấp cho các dịch vụ này. Tài khoản môi giới cũng có thể khác nhau về tốc độ thực hiện lệnh, công cụ phân tích được sử dụng, phạm vi tài sản có thể giao dịch và mức độ mà nhà đầu tư có thể giao dịch ký quỹ.

Broker Price Opinion - BPO / Ý kiến về giá của nhà môi giới - BPO

Giá trị ước tính của một bất động sản được xác định bởi một nhà môi giới bất động sản hoặc một cá nhân hay công ty có đủ điều kiện đánh giá khác. Một ý kiến về giá của nhà môi giới được dựa trên các đặc điểm của tài sản đang được xem xét. Một số yếu tố mà nhà môi giới sẽ xem xét khi định giá bất động sản bao gồm: giá trị của các bất động sản tương tự ở xung quanh, xu hướng kinh doanh trong khu phố, ước tính bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc đưa bất động sản vào trạng thái sẵn sàng để bán hoặc bất kỳ chi phí sửa chữa cần thiết nào. Điều quan trọng cần lưu ý là một BPO không giống với một thẩm định.

Broker Of Record / Đại lý độc quyền

Trong bảo hiểm, đại lý độc quyền là một đại lý đã được chỉ định bởi chủ sở hữu đơn bảo hiểm để đại diện và quản lý đơn bảo hiểm của họ. Đại lý độc quyền có thể nhận được các bản sao về mọi thông tin liên lạc của chủ đơn bảo hiểm cũng như tất cả báo giá, đơn bảo hiểm và các thông báo đại diện cho người chủ hợp đồng. Họ cũng sẽ nhận và đánh giá các báo giá bảo hiểm, chính sách bảo hiểm và đưa ra các đề nghị thay đổi chính sách bảo hiểm hiện tại. Một đại lý độc quyền có thể phục vụ cho lợi ích của một cá nhân hoặc hỗ trợ một công ty, ví dụ như giải quyết các chính sách bảo hiểm y tế của nhân viên. Đổi lại, đại lý độc quyền có thể thu được một khoản hoa hồng hàng tháng từ công ty bảo hiểm y tế. Thư của một đại lý độc quyền được sử dụng để thiết lập một cách hợp pháp mối quan hệ giữa công ty môi giới, chủ đơn bảo hiểm và công ty bảo hiểm. Thư này còn có thể chỉ định một đại lý độc quyền lần đầu tiên hoặc để thay thế đại lý độc quyền hiện tại bằng một đại lý mới khác.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55