Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bulge / Làm giá

Sự gia tăng nhanh chóng trong giá giao dịch của chứng khoán hay hàng hóa của. Làm giá là một từ không chính thức có ý nghĩa tương tự như thuật ngữ bong bóng. Một sự làm giá xảy ra khi giá một công cụ đầu tư tăng lên một cách nhanh chóng, thường đi kèm với sự gia tăng về khối lượng giao dịch. Việc tăng giá có thể tiếp tục trong một khoảng thời giờ, ngày hoặc tuần, nhưng một sự làm giá thường diễn ra trong thời gian ngắn. Một sự làm giá tương tự như một cuộc biểu tình trên sàn giao dịch chứng khoán. Giá cho một công cụ hoặc lĩnh vực cụ thể có thể có sự hỗ trợ mạnh mẽ và tiếp tục tăng một cách nhanh chóng, dẫn đến một "sự làm giá" tạm thời trong giá cả. Làm giá có đặc trưng biến động nhanh và tồn tại trong thời gian ngắn. Việc mua vào có thể tiếp tục cho đến khi các chứng khoắn được mua quá nhiều, và giá cả giảm xuống, đôi khi là rất lớn. Nhà đầu tư nhảy vào muộn, hy vọng rằng giá sẽ tiếp tục tăng, thường bỏ lỡ sóng chính tính chất ngắn hạn của nó.

Budget Variance / Chênh lệch ngân sách

Một biện pháp định kỳ được sử dụng bởi các chính phủ, các công ty, cá nhân để định lượng sự khác biệt giữa số liệu ngân sách và thực tế cho một đối tượng kế toán cụ thể. Chênh lệch ngân sách thuận lợi liên quan đến sự chênh lệch tích cực hoặc có lãi; chênh lệch ngân sách không thuận lợi mô tả sự chênh lệch tiêu cực, có nghĩa là tổn thất và thiếu hụt. Chênh lệch ngân sách xảy ra bởi vì dự toán không thể dự báo chính xác hoàn toàn. Kết quả là, luôn tồn tại một số chênh lệch khi dự toán ngân sách. Chênh lệch ngân sách có thể là kết quả của hai nguyên nhân - những thứ có thể kiểm soát và không thể kiểm soát. Ví dụ, một dự toán ngân sách kém là một yếu tố kiểm soát được. Tương tự như vậy, những thứ như chi phí lao động có thể được kiểm soát bằng các biện pháp như cấm làm thêm giờ. Các nhân tố không thể kiểm soát được thường là nhân tố bên ngoài và phát sinh từ bên ngoài công ty, chẳng hạn như thiên tai.

Budget Planning Calendar / Lịch trình dự toán ngân sách

Một lịch trình gồm các hoạt động cần phải hoàn thành để tạo ra và phát triển một ngân sách. Lịch trình dự toán ngân sách là cần thiết cho việc tạo ra ngân sách phức tạp được sử dụng bởi các tổ chức lớn. Các tổ chức này thường phải thu hoạch một lượng lớn dữ liệu từ một số bộ phận, do đó đòi hỏi một lịch trình để phối hợp khi các con số cuối cùng của từng bộ phận được cung cấp. Lịch trình dự toán ngân sách có thể trong khoảng thời gian vài tháng trong một số trường hợp. Trong đó bao gồm các ngày cụ thể khi các phòng ban phải gửi dữ liệu của họ đến bộ phận kế toán. Những lịch trình này cũng có thể mất vài tháng để chuẩn bị.

B-Share / Cổ phiếu B

Một phân loại trong các quỹ tương hỗ đa lớp. Loại này được đặc trưng bởi một cơ cấu không thu phí bán trả sau mà chỉ được thanh toán khi quỹ được bán ra. Quỹ loại B nói chung sẽ có tỷ lệ chi phí quản lý cao hơn so với các quỹ không thu phí bán trả trước trong cùng một quĩ. Công ty quỹ cố gắng để tăng lợi nhuận của họ trong khi việc không thu phí trả sau là hiệu quả bởi vì nó thường giảm giá trị theo thời gian. Không phải tất cả các công ty quỹ theo loại này, nhưng nó là phương pháp chính để phân biệt.

Broker-Dealer / Nhà môi giới - đại lý

Là một người hoặc công ty kinh doanh chứng khoán, hoạt động như một người môi giới hoặc người kinh doanh phụ thuộc vào việc giao dịch. Nói một cách chính xác, môi giới chỉ là một đại lý thực hiện các đơn đặt hàng thay cho khách hàng, trong khi người kinh doanh lại hoạt động như một người chủ và kinh doanh trên cơ sở tài khoản của anh ta. Bì phần lớn nhà môi giới có cả hoạt động môi giới lẫn kinh doanh, nên thuật ngữ môi giới-kinh doanh thường được dùng để chỉ họ.

Brokerage Fee / Phí môi giới

Phí đưa ra bởi một đại lý, hoặc công ty đại lý để thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán. Phí môi giới được tính cho các dịch vụ như đàm phán, mua bán, giao hàng hoặc tư vấn về giao dịch. Có rất nhiều loại phí môi giới được thêm vào trong các lĩnh vực như bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ chuyển phát hoặc chứng khoán. Phí môi giới thường sẽ dựa trên một tỷ lệ phần trăm của các giao dịch hoặc một khoản phí cụ thể. Chúng cũng có thể là một sự kết hợp của cả hai. Đây là một ví dụ của phí môi giới từ một công ty môi giới chứng khoán tiêu biểu: Giá cổ phiếu hơn $ 2: $ 28 cho số lượng lên đến 999 cổ phiếu, 3 cent thêm vào với mỗi cổ phiếu thứ 1000 trở lên. Giá cổ phiếu ít hơn hoặc bằng $ 2: 1,4% giá với tối thiểu là 28 $.

Broker / Môi giới

1. Một cá nhân hoặc công ty tính một khoản phí hoặc hoa hồng để thực hiện lệnh mua và bán cho chủ đầu tư. 2. Vai trò của một công ty khi nó hoạt động như một đại lý cho một khách hàng và lấy từ khách hàng một khoản hoa hồng cho dịch vụ của mình. 3. Một chuyên gia bất động sản được cấp phép, đại diện cho người bán một tài sản. Nhiệm vụ của một nhà môi giới có thể bao gồm: xác định giá trị thị trường, quảng cáo bất động sản để bán, giới thiệu tài sản cho người mua tiềm năng, và tư vấn cho khách hàng liên quan đến cung cấp và các vấn đề liên quan. Thường thì chỉ có những người giàu mới có thể đủ khả năng thuê một nhà môi giới và tiếp cận thị trường chứng khoán. Internet đã khiến cho giá môi giới đồng loạt giảm, cho phép nhà đầu tư giao dịch với một chi phí thấp hơn, nhưng nhà môi giới không cung cấp tư vấn cá nhân. Bởi vì dịch vụ môi giới giảm giá nên hầu như ai cũng đủ khả năng để đầu tư vào thị trường.

Bribe / Hối Lộ

Một khoản tiền bất hợp pháp từ một bên cho bên khác, thường để đổi lấy một lợi ích pháp lý hay tài chính. Hối lộ thường được thực hiện với công chức, thủ trưởng cơ quan quản lý để thoát khỏi sự buộc tội về măt pháp lý hoặc các quyết định không thuận lợi, hoặc như là một sự khuyến khích cho người nhận hối lộ để bẻ cong hoặc bỏ qua những quy định hợp lý, những thứ sẽ kìm hãm đối tượng hối lộ. Hối lộ và lại quả của bất cứ hình thức nào là, rõ ràng, không được khấu trừ. Hối lộ mà mang hình thức lại quả để bảo hiểm hay bảo vệ khách hàng được biết tới như trợ cấp, và có thể dẫn đến hành động xử phạt của cơ quan quản lý.

Breakup Fee / Khoản phí hủy bỏ hợp đồng

Một chi phí thông thường được sử dụng trong các hợp đồng mua lại nếu người bán phá vỡ một thỏa thuận để bán cho người mua. Một khoản phí hủy bỏ hợp đồng, hoặc phí hủy bỏ , phải bồi thường cho người mua tiềm năng cho thời gian và các nguồn lực được sử dụng để tạo điều kiện cho thỏa thuận này. Giá trị của khoản phí này thường ở mức 1-3% giá trị hợp đồng. Một công ty có thể trả một khoản phí hủy bỏ hợp đồng nếu họ quyết định không bán cho người mua ban đầu và thay vào đó bán cho một nhà thầu cạnh tranh hơn với một lời đề nghị hấp dẫn hơn. Đôi khi một khoản phí hủy bỏ hợp đồng có thể ngăn cản các công ty khác đấu thầu với công ty vì họ sẽ phải đặt một mức giá bao gồm cả phí hủy bỏ hợp đồng.

Breakeven Price / Giá hòa vốn

1. Mức giá mà tại đó một tài sản phải được bán để trang trải được các chi phí phát sinh từ việc mua và sở hữu tài sản đó. 2. Mức giá mà tại đó một sản phẩm hay dịch vụ phải được bán để trang trải các chi phí sản xuất hoặc cung cấp nó. 3. Trong giao dịch quyền chọn, đó là giá cổ phiếu mà nhà đầu tư lựa chọn để thực hiện giao dịch mà không bị thua lỗ. Giá hòa vốn có thể được thực hiện trong hầu hết các giao dịch. Ví dụ, giá hòa vốn của một căn nhà là mức giá bán mà chủ căn nhà cần để trang trải giá mua nhà, lãi suất trả cho các nhà cho vay thế chấp, bảo hiểm rủi ro, thuế nhà đất, bảo trì, nâng cấp, chi phí đóng cửa và tiền hoa hồng cho các công ty bất động sản. Tại mức giá này, chủ căn nhà sẽ không thu được lợi nhuận, nhưng cũng không phải chịu bất kỳ khoản lỗ nào.

Breakeven Point - BEP / Điểm hòa vốn BEP

1.Nhìn chung, là một điểm mà tại đó lãi bằng lỗ.2.Trong hợp đồng quyền chọn, là mức giá thị trường mà cổ phiếu phải đạt được để người mua quyền chọn tránh được lỗ nếu họ thực hiện. Đối với quyền chọn mua, nó là giá thực hiện cộng mới phần bù. Đối với quyền chọn bán, nó là giá thực hiện trừ đi phần bù.Cũng có thể gọi là “hòa vốn”. Đối với doanh nghiệp, việc đạt được điểm hòa vốn được coi như là bước đầu gặt hái lợi nhuận.

Break Fee / Phí phá vỡ hợp đồng

1. Phí mà công ty mục tiêu trả cho các nhà thầu (trong một vụ mua lại) nếu những thỏa thuận mua bán chưa được thực hiện bị chấm dứt.2. Phí thanh toán bởi một bên của hợp đồng cho một bên khác để chấm dứt hoặc hủy bỏ nghĩa vụ pháp lý. 1. Coi như được dùng để bồi thường những chi phí và lệ phí liên quan đến sự mẫn cán cần thiết trong suốt thời gian mua lại. Phí hủy bỏ hợp đồng dường như được sử dụng ngày càng nhiều với mục đích khôi phục lại danh tiếng sau khi các thỏa thuận mua bán chưa được thực hiện. 2. Thường gặp trong các hợp đồng cho thuê, những phí phá vỡ hợp đồng này được xem như hình phạt đối với bên thực hiện nghĩa vụ của mình.

Breach Of Contract / Vi phạm hợp đồng

Sự vi phạm bất kỳ điều khoản đã thỏa thuận và điều kiện của một hợp đồng ràng buộc. Vi phạm này có thể là bất cứ điều gì, từ một khoản thanh toán muộn đến một vi phạm nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như không giao hàng như đã hứa. Một hợp đồng có tính ràng buộc và nếu quan trọng thì sẽ được đưa ra tòa, tuy nhiên, bằng chứng về hành vi vi phạm là bắt buộc. Đôi khi điều khoản về quá trình xử lý vi phạm hợp đồng được ghi trong hợp đồng ban đầu. Ví dụ, các hợp đồng có thể nói rằng trong trường hợp chậm nộp một khoản lệ phí là $ 25 thì phải được thanh toán cùng với việc thanh toán bị mất. Nếu các hậu quả đối với hành vi vi phạm cụ thể không được nhắc đến trong hợp đồng, hai bên có thể tự mình giải quyết, điều này thường dẫn đến một hợp đồng mới, hoặc thực hiện một hành động pháp lý mới.

Vi Phạm Hợp Đồng (Breach Of Contract) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Brand / Nhãn Hiệu

Một sự phân biệt về biểu tượng, nhãn hiệu, logo, tên, từ, câu hoặc một sự kết hợp của chúng mà công ty sử dụng để phân biệt sản phẩm của họ với các công ty khác trên thị trường. Khi một nhãn hiệu đã tạo ra tâm lý tích cực với các đối tượng mục tiêu của mình, công ty được cho là đã xây dựng được giá trị thương hiệu. Một số ví dụ về các công ty có giá trị thương hiệu – nắm giữ thương hiệu sản phẩm được biết đến nhiều - là Microsoft, Coca-Cola, Ferrari, Sony, The Gap và Nokia. Sự bảo vệ pháp lý cho một tên nhãn hiệu được gọi là một thương hiệu.

Brain Drain / Chảy Máu Chất Xám

Một từ lóng về một sự di dân đáng kể của các cá nhân có học vấn hay tài năng. Một sự chảy máu chất xám có thể là kết quả của tình trạng hỗn loạn trong một quốc gia, những cơ hội nghề nghiệp tốt hơn ở các nước khác hoặc từ những người tìm kiếm một mức sống tốt hơn. Chảy máu chất xấm khiến đất nước mất đi các chuyên gia có giá trị. Thuật ngữ này thường được sử dụng để mô tả sự ra đi của các tiến sĩ, các nhà khoa học, các kỹ sư hay chuyên gia tài chính. Khi những người này rời đi, đất nước của họ bị tổn hại theo hai cách. Đầu tiên, chuyên môn bị mất đi với mỗi người di cư, làm giảm nguồn cung của lĩnh vực đó. Thứ hai, nền kinh tế của quốc gia đó bị tổn hại vì mỗi chuyên gia đại diện cho những đơn vị chi tiêu thặng dư. Các chuyên gia thường kiếm được mức lương lớn, do đó sự ra đi của họ làm mất đi chi tiêu tiêu dùng đáng kể của đất nước.

Book-To-Market Ratio / Chỉ số giá trị ghi sổ trên giá trị thị trường (B/M)

Một chỉ số dùng để xác định giá trị của một công ty bằng cách so sánh giá trị ghi sổ của công ty đó với giá trị của thị trường. Giá trị ghi sổ được tính bằng giá trị lịch sử của công ty hoặc giá trị kế toán. Giá trị thị trường được xác định bởi thị trường chứng khoán thông qua sự vốn hóa thị trường.Công thức:Chỉ số B/M= Giá trị sổ sách của công ty/Giá trị thị trường của công ty Chỉ số B/M cố gắng xác định các chứng khoán được định giá cao hay thấp bằng cách lấy giá trị ghi sổ chia cho giá trị thị trường.Về cơ bản, nếu chỉ số này lớn hơn 1 thì cổ phiếu đang được định giá thấp, còn nếu nhỏ hơn 1 thì cổ phiếu được định giá cao.

Book Value / Giá trị sổ sách

1. Giá trị mà tại đó một tài sản được thực hiện trên một bảng cân đối kế toán. Được tính bằng cách lấy giá trị một tài sản trừ đi khấu hao lũy kế. 2. Giá trị tài sản ròng của một công ty, tính bằng tổng tài sản trừ đi tài sản vô hình (bằng sáng chế, lợi thế thương mại) và nợ phải trả. 3. Các kinh phí ban đầu cho một khoản đầu tư. Con số này có thể là tổng chi phí hoặc chi phí ròng như chi phí giao dịch, thuế doanh thu, chi phí dịch vụ, v.v. Còn được gọi là "giá trị thuần (NBV)". Tại Anh, giá trị sổ sách được gọi là "giá trị tài sản ròng". Giá trị sổ sách là giá trị kế toán của một công ty. Nó có hai công dụng chính: 1. Nó là tổng giá trị tài sản của công ty mà cổ đông sẽ nhận được về mặt lý thuyết, nếu một công ty được thanh lý. 2. Bằng việc so sánh với giá trị thị trường của công ty, giá trị sổ sách có thể cho biết một cổ phiếu là cao hơn hay thấp hơn giá trị nội tại. 3. Trong tài chính cá nhân, giá trị sổ sách của một khoản đầu tư là giá phải trả cho một cổ phiếu hoặc nợ đầu tư. Khi một cổ phiếu được bán, giá bán ít hơn giá trị sổ sách chính là lãi vốn (hoặc lỗ) từ việc đầu tư.

Book / Sổ sách

Bản ghi chép của tất cả các vị thế mà nhà đầu tư nắm giữ. Bản ghi chép này chỉ ra tổng số lượng đoản vị và trường vị mà nhà đầu tư đã trải qua. Ví dụ, nhà đầu tư với một sổ ghi chép đơn giản có thể nắm giữ 2 vị thế: một trường vị với cổ phiếu XYZ có giá trị 1.500 USD và một đoản vị có giá trị 2.500 USD. Giữ một sổ ghi chép mới nhất cho phép nhà đầu tư nhận thức được vị thế của anh ta, và là một bước để ngăn ngừa nhà đầu tư khỏi việc tiết lộ bất kì một vị thế nào trong một thời gian dài.

Bonus Depreciation / Khấu hao tiền thưởng

Một khoản bổ sung của khấu hao có thể khấu trừ được cấp ở trên và vượt quá mức thường có sẵn. Khấu hao tiền thưởng luôn được thực hiện ngay lập tức, trong năm đầu tiên, mục hàng khấu hao được đặt trong dịch vụ. Loại ưu đãi này được cung cấp dưới dạng khuyến khích bổ sung hoặc là biện pháp cứu trợ cho các doanh nghiệp nhỏ muốn mua thêm thiết bị. Số tiền khấu hao tiền thưởng thực tế thay đổi từ năm này sang năm khác, nhưng nó được cung cấp trên mức giới hạn tối đa cho phép của Mục 179 và khấu hao năm đầu tiên tiêu chuẩn. Khấu hao tiền thưởng không thể được thực hiện đối với tài sản được yêu cầu sử dụng Biểu mẫu khấu hao thay thế, nhưng được miễn các điều chỉnh thuế tối thiểu thay thế (AMT). Khấu hao tiền thưởng được phân loại là khấu hao khấu hao Mục 1245 khi xử lý tài sản và có thể bị thu hồi như thu nhập thông thường.

Bondholder / Người nắm giữ trái phiếu

Chủ sở hữu của một trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp. Sở hữu một trái phiếu thường được xem là an toàn hơn là sở hữu một cổ phiếu bởi vì nếu một công ty phá sản, nó phải trả nợ cho chủ sở hữu trái phiếu trước khi nó trả cổ tức cho các cổ đông. Nếu trái phiếu trả lãi suất (thường nửa năm hoặc một năm một lần), người sở hữu trái phiếu sẽ nhận được khoản thanh toán lãi định kỳ, cũng như trả toàn bộ gốc khi trái phiếu đáo hạn. Trái phiếu thường được coi là có rủi ro thấp, nhưng mức độ rủi ro phụ thuộc vào loại trái phiếu. Ví dụ, nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn so với nắm giữ trái phiếu chính phủ, nhưng luôn đi kèm với rủi ro cao hơn. Trái phiếu cũng phải chịu rủi ro lãi suất, rủi ro tái đầu tư, rủi ro lạm phát, rủi ro tín dụng (vỡ nợ), rủi ro thanh khoản và hạ thấp xếp hạng. Một lợi thế là sở hữu trái phiếu là một số trái phiếu được miễn thuế thu nhập tại tiểu bang, liên bang hoặc địa phương.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55