Allocated Funding Instrument / Công Cụ Tài Trợ Được Phân Bổ
Allocated Funding Instrument là một loại bảo hiểm hoặc hợp đồng niên kim cụ thể mà các chương trình hưu trí sử dụng để mua trợ cấp hưu trí tăng dần. Các công cụ tài trợ được phân bổ được tài trợ với sự đóng góp của người lao động được trả theo kế hoạch. Những lợi ích được mua bởi các công cụ tài trợ sẽ được đảm bảo cho nhân viên khi nghỉ hưu. Các chương trình hưu trí không sử dụng các công cụ tài trợ được phân bổ sẽ thay bằng việc sử dụng các công cụ chưa được phân bổ. Trong các chính sách này, không có đóng góp có sẵn của người lao động để mua lợi ích trước khi nghỉ hưu. Điều này có nghĩa là không có lợi ích nào được thanh toán tại thời điểm thanh toán phí bảo hiểm thực sự được thực hiện.
Agency Costs / Chi Phí Đại Diện
Agency Costs là một loại chi phí nội bộ phải được chi trả cho người đại diện của chủ sở hữu. Chi phí đại diện phát sinh từ các vấn đề cốt lõi như xung đột lợi ích giữa các cổ đông và các nhà điều hành. Các cổ đông mong muốn các nhà điều hành lại muốn phát triển công ty theo cách tối đa hóa năng lực cá nhân và nguồn thu nhập của họ, mà đây là điều có thể không mang lại lợi ích tốt nhất cho các cổ đông. Một số ví dụ phổ biến về mối quan hệ giữa người đại diện và chủ sở hữu được đưa ra, bao gồm: nhà điều hành (người đại diện) và cổ đông (chủ sở hữu), hoặc các chính trị gia (người đại diện) và cử tri (người ủy thác). Chi phí đại diện là chi phí không thể tránh trong một tổ chức, nơi mà chủ sở hữu không phụ trách hoàn toàn; chi phí này nên được trích cho mục đích cung cấp các khoản tiền thưởng trọng yếu (như tiền thưởng theo năng suất và quyền được mua cổ phiếu) và tiền thưởng cho người đại diện để thực hiện đúng nhiệm vụ của họ, từ đó điều chỉnh lợi ích của người ủy thác (chủ sở hữu) và người đại diện.
Agency Cost Of Debt / Chi Phí Nợ Do Đại Diện (Học Thuyết Vấn Đề Ông Chủ Và Người Đại Diện)
Agency Cost Of Debt là một vấn đề có thể xảy ra từ xung đột về lợi ích được tạo ra bởi khoảng cách giữa các nhà quản lý và các nhà sở hữu (hay còn gọi là các cổ đông) trong một công ty đại chúng (publicly owned company). Cơ chế vận hành doanh nghiệp như ban giám đốc và việc phát hành nợ, được sử dụng để nỗ lực làm giảm xung đột giữa các bên. Tuy nhiên, các khoản nợ này lại tạo ra một xung đột lợi ích tiềm năng khác bởi vì ba bên liên quan là chủ sở hữu, người quản lý và người cho vay (người nắm giữ trái phiếu - bondholders), mỗi một bên này sẽ hướng đến một mục tiêu khác nhau. Ví dụ, các nhà quản lý có thể muốn tham gia vào các hành động có tính rủi ro mà họ hy vọng sẽ mang lại lợi ích cho các cổ đông, những người đi tìm kiếm khoản lợi tức cao. Người nắm giữ trái phiếu là những người thường quan tâm đến một khoản đầu tư an toàn hơn, muốn đặt mức độ hạn chế cho những khoản tiền đầu tư của họ để giảm thiểu rủi ro. Các chi phí phát sinh từ những xung đột này được gọi là chi phí nợ do đại diện
After-Tax Return On Sales / Lợi Nhuận Trên Doanh Thu Sau Thuế
After-Tax Return On Sales là công cụ đo lường lợi nhuận cho biết hiệu suất của một công ty sử dụng doanh thu bán hàng của mình. Lợi nhuận trên doanh thu sau thuế bằng thu nhập ròng sau thuế của công ty chia cho tổng doanh thu bán hàng của công ty đó, sau đó nhân với 100 (kết quả tính theo tỷ lệ phần trăm). Tỷ lệ phần trăm càng cao, công ty càng sử dụng hiệu quả doanh thu bán hàng của mình. Các chỉ số lợi nhuận như chỉ số lợi nhuận trên doanh thu sau thuế và hệ số thu nhập sau thuế trên tài sản rất hữu ích cho việc so sánh các công ty khác nhau trong cùng một ngành. Tuy nhiên, bởi vì các tiêu chuẩn lợi nhuận biên có thể khác nhau theo từng ngành, nên việc so sánh chỉ số lợi nhuận trên doanh thu sau thuế của một nhà sản xuất xe hơi với chỉ số này của một cửa hàng quần áo sẽ không hợp lý. Ngoài ra, một chỉ số lợi nhuận đơn lẻ chỉ cung cấp một phần nhỏ trong bức tranh tổng thể về tình hình hoạt động tài chính của một công ty; các nhà đầu tư nên sử dụng các chỉ số khác nhau để xây dựng một bản phân tích chính xác.
All-In-One Mortgage / Thế Chấp Trọn Gói
All-In-One Mortgage là khoản vay thế chấp kết hợp các tính năng của tài khoản séc (ATM), khoản vay vốn chủ sở hữu nhà và thế chấp để cho phép người gửi tiền giảm số tiền lãi phải trả cho khoản thế chấp của họ. Bất kỳ khoản tiền gửi nào được thực hiện trong phần tài khoản tiết kiệm của khoản thế chấp trọn gói đều được đưa vào để trả tiền thế chấp, nhưng vẫn có thể đạt được tính thanh khoản tức thời, bởi vì tiền mặt có thể được rút ra dưới dạng cho vay vốn chủ sở hữu. Thế chấp trọn gói cố gắng bắt chước cấu trúc của một thế chấp bù đắp. Mặc dù loại hình thế chấp này có thể giúp chủ nhà giảm chi phí lãi vay, nhưng chỉ những cá nhân có thể kiểm soát được ngân sách mới nên sử dụng thế chấp trọn gói. Đối với những người thiếu kỷ luật để kiểm soát ngân sách, sự sắp xếp này có thể khiến nợ leo thang nếu họ rút quá nhiều vốn chủ sở hữu ra khỏi nhà.
All-Inclusive Income Concept / Khái Niệm Thu Nhập Toàn Bộ
All-Inclusive Income Concept là phương pháp báo cáo thu nhập bao gồm tổng số thay đổi của chủ không sở hữu trên các báo cáo tài chính của công ty. Nó không bao gồm các khoản đầu tư của chủ sở hữu và khoản phân phối cho chủ sở hữu. Theo khái niệm thu nhập toàn bộ, tất cả các khoản mục, bao gồm cả các khoản lãi và lỗ bất thường hay không thu được, đều được đưa vào báo cáo thu nhập. Vì tất cả các khoản lãi và lỗ đều được báo cáo trên báo cáo thu nhập nên loại báo cáo thu nhập này dẫn đến kết quả đôi khi được gọi là thu nhập tổng hợp (comprehensive income). Khái niệm thu nhập toàn bộ bao gồm việc báo cáo tất cả các khoản lãi và lỗ trên báo cáo thu nhập của công ty. Bằng cách tổng hợp tất cả các mục liên quan đến lãi và lỗ như thay đổi chính sách kế toán hay một bức tranh toàn diện hơn về công ty. Ủy ban Nguyên tắc Kế toán của Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) bắt đầu áp dụng khái niệm thu nhập toàn bộ vào năm 1966.
Agency Matching Contributions / Khoản Đóng Góp Đối Ứng Đại Diện
Agency Matching Contributions là một lợi ích mà các nhân viên chính phủ liên bang nhận được theo chương trình tiết kiệm của Hoa Kỳ. Cụ thể hơn, điều này thể hiện cách các cơ quan nơi mà các nhân viên đang làm việc, sẽ kết nối 100% khoản đóng góp của các cá nhân với 3% ban đầu trong khoản lương của họ và đóng góp 0,5 đô la cho mỗi đô la từ 2% tiếp theo của khoản phải trả, khoản mà được sủ dụng để đóng góp cho chương trình tiết kiệm. Ví dụ, một nhân viên chính phủ liên bang làm việc cho Bộ Lao động kiếm được 1.500 đô la mỗi kỳ trả lương và đóng góp 5% (hoặc 75 đô la) vào chương trình tiết kiệm. Sau đó, Bộ Lao động sẽ đối ứng tổng cộng 60 đô la (hoặc 3% của 1.500 đô la + (0,5 x 2%) của 1.500 đô la) vào quỹ hưu trí của người này ngoài 75 đô la ban đầu, dẫn đến tổng lượng đóng góp cho mỗi kỳ trả lương là 135 đô la. Nhân viên chính phủ liên bang có khả năng đóng góp cho một chương trình tiết kiệm nên tận dụng khoản đóng góp đối ứng đại diện này.
Agency Debentures / Trái Khoán Đại Diện
Agency Debentures là các khoản nợ được phát hành bởi một cơ quan liên bang hoặc một doanh nghiệp được chính phủ tài trợ (GSE) cho mục đích tài chính (Hòa Kỳ). Những khoản trái khoán này không được hỗ trợ bởi tài sản thế chấp, mà bởi độ tín nhiệm và khả năng thanh toán nợ của các tổ chức phát hành. Các trái khoán đại diện được phát hành chính thức bởi một Cơ quan Liên bang, chẳng hạn như Cơ quan Thung lũng Tennessee, được chống lưng bởi sự tin tưởng hoàn toàn và khoản tiền gửi của chính phủ Hoa Kỳ. Các trái khoán đại diện được ban hành bởi GSE chỉ được bảo đảm bởi khả năng thanh toán của GSE. Thị trường thương mại xuất hiện để chứng minh rằng các trái khoán GSE mang một sự đảm bảo ngầm từ chính phủ Hoa Kỳ. Điều này bắt nguồn từ khả năng cho vay trực tiếp của GSE từ Kho bạc Hoa Kỳ và tầm quan trọng của các điều lệ cũng như nhiệm vụ của Quốc hội của GSE.Thị trường trái khoán đại diện là rất lớn. Tại một thời điểm vào cuối những năm 1990, nợ đại diện quá hạn bao gồm phần lớn các khoản nợ do Fannie Mae và Freddie Mac phát hành với số lượng gần như vượt qua số nợ do Kho bạc Hoa Kỳ phát hành.Một số người cảm thấy các GSE có lợi thế không công bằng trong việc gây quỹ so với các tập đoàn thuộc khối hoặc tư, và số nợ GSE và các danh mục đầu tư tương ứng của họ gây ra quá nhiều rủi ro cho toàn bộ hệ thống tài chính của Hoa Kỳ. Một số khác lại tin vào vai trò của các GSE trong một số lĩnh vực như nhằm biện minh cho lợi thế gây quỹ của chúng.
Admiralty Court / Tòa Án Hàng Hải
Bất kỳ tòa án nào bị chi phối bởi luật hàng hải, cho dù tòa án này có chính thức được mang danh tòa án hàng hải, hay được cấp quyền pháp lý chính thức đối với các trường hợp thuộc chủ quyền trên mặt biển. Thẩm quyền chính thức cho các trường hợp trên biển này ở Hoa Kỳ, ví dụ, đã được trao cho các tòa án quận liên bang, trong khi Anh có một hệ thống tòa án riêng. Các vấn đề chính phát sinh trong tòa án hàng hải liên quan đến vận chuyển hàng hóa, di chuyển bằng tàu, các vấn đề bảo hiểm, va chạm trên biển, các vấn đề dân sự liên quan đến thủy thủ, hành khách và hàng hóa, yêu cầu cứu hộ và ô nhiễm biển. Hành động phổ biến nhất của một tòa án hàng hải là việc ban hành một thế chấp hàng hải đối với một con tàu, điều này nghĩa là tòa án hoặc những người được chỉ định có quyền bắt giữ và tịch thu con tàu để đáp ứng yêu cầu bắt giữ này. Việc con tàu có thể bị tịch thu ở các quốc gia khác hay không được kiểm soát bởi các tòa án hàng hải của chính quốc gia đó và bất kỳ hiệp ước nào có hiệu lực ở nơi đó.
Agency Cross / Giao Dịch Môi Giới
Agency Cross là một giao dịch trong đó một cố vấn đầu tư đóng vai trò là nhà môi giới cho cả khách hàng của mình và một bên khác tham gia giao dịch. Các nhà cố vấn đầu tư không bắt buộc phải được sự đồng ý của khách hàng đối với từng giao dịch chéo, nhưng phải có sự đồng ý trước của khách hàng để tham gia vào các giao dịch này. Hầu hết trong tất cả các giao dịch, các nhà cố vấn được yêu cầu đưa ra mức giá và cách thực hiện tốt nhất đối với các giao dịch môi giới. Nếu một giao dịch nhỏ hơn được tiến hành theo quy tắc này, nó vẫn được coi là một giao dịch môi giới, được xem như người cố vấn đã thực hiện giao dịch này. Các giao dịch môi giới được ban hành bởi Luật 206 (3) -2 của Đạo luật Cố vấn Đầu tư năm 1940 (Hoa Kỳ).
Actuarial Life Table / Bảng Tính Bảo Hiểm
Actuarial Life Table là một bảng hoặc bảng tính cho thấy xác suất một người có thể tử vong trước sinh nhật tiếp theo của mình ở một độ tuổi nhất định. Ngoài ra, các bảng tính này cho phép tính toán tuổi thọ con người ở các độ tuổi khác nhau và khả năng sống sót trong một năm nhất định. Do đàn ông và phụ nữ có tỷ lệ tử vong khác nhau, một bảng thông kê tuổi thọ được tính riêng cho từng giới tính. Bảng này còn được biết đến với tên gọi là bảng tỷ lệ tử vong (mortality table), bảng tuổi thọ (life table) hay bảng tính bảo hiểm (actuarial table). Các công ty bảo hiểm sử dụng những bảng tính bảo hiểm để hỗ trợ định giá sản phẩm và dự đoán sự kiện được bảo hiểm trong tương lai. Các bảng tính này hỗ trợ trên cơ sở toán học và thống kê bằng cách hiển thị xác suất của những sự kiện như tử vong, bệnh tật và khuyết tật. Một bảng tính bảo hiểm cũng có thể bao gồm các yếu tố để phân biệt các rủi ro biến động như hút thuốc, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế xã hội và thậm chí cả cờ bạc và các khoản nợ đang phải gánh. Mô hình tính toán và dự đoán ở đây được thực hiện trên máy tính cho phép chuyên gia có khả năng tính toán cho rất nhiều tình huống khác nhau cũng như dự đoán được những kết quả có thể xảy ra.
Annual Premium Equivalent - APE / Cân Bằng Doanh Số Hàng Năm - APE
Annual Premium Equivalent (viết tắt là APE) là một kỹ thuật đo lường doanh số bán hàng thông thường được sử dụng bởi các công ty bảo hiểm tại Anh Quốc, nơi doanh số bán hàng của một chủ thể nhất định được ước tính bằng cách lấy giá trị của phí bảo hiểm thường xuyên, cộng với 10% của bất kỳ phí bảo hiểm mới nào bằng văn bản cho năm tài khóa. Phí bảo hiểm thu được của một công ty có thể được mở rộng để bao gồm tất cả các khoản thu của một công ty đó. Khi ước tính số liệu bất kỳ nào đó trong tương lai, điều quan trọng là phải xem xét tới những sự kiện không lường trước được, và làm thế nào những sự kiện này có thể tác động tới kết quả ước tính của bạn. Ví dụ, khi dự báo doanh thu bán hàng của một công ty, bạn sẽ muốn xem xét các đối thủ cạnh tranh, những dòng sản phẩm và chiến lược giá cả sẽ ảnh hưởng tới kì dự báo ra sao. Điều này sẽ cho phép bạn điều chỉnh ước tính của bạn, với hy vọng sẽ nó sẽ trở nên thiết thực hơn cũng như cung cấp cho bạn với một biên độ an toàn hơn.
Annual Percentage Yield - APY / Tỉ Suất Thu Nhập Năm - APY
Annual Percentage Yield (viết tắt là APY) tỉ suất lợi nhuận thực tế hàng năm, có tính đến tác động của lãi suất ghép. APY được tính toán theo công thức sau: APY = (1 + r)n - 1 (Trong đó r là tỉ suất lợi nhuận định kì; n là số kì tính toán trong 1 năm). Phần trăm tính được giả định rằng quỹ sẽ duy trì trong công cụ đầu tư trong vòng 365 ngày. APY cũng tương tự như tỷ suất lợi nhuận năm. Tính hữu dụng của nó là khả năng tiêu chuẩn hóa các hợp đồng lãi suất khác nhau thành một con số tỷ lệ phần trăm hàng năm. Ví dụ, giả sử bạn đang xem xét liệu có nên đầu tư vào trái phiếu không trả lãi định kì một năm mà trả lãi suất 6% khi đáo hạn hoặc một tài khoản thị trường tiền tệ có tỉ suất cao - 0,5% lãi kép hàng tháng. Thoạt nhìn, tỉ suất là bằng nhau vì 12 tháng nhân với 0,5% tương đương với 6%. Tuy nhiên, với những tác động của lãi kép trong khi tính APY, chúng tôi thấy rằng đầu tư thứ hai mang lại tỉ suất 6,17%, là 1,005 ^ 12-1 = 0,0617.
Annual Percentage Rate - APR / Lãi Suất Hàng Năm - APR
Annual Percentage Rate (viết tắt APR) là lãi suất hàng năm được tính phí cho khoản vay (hoặc dưới hình thức đầu tư), thể hiện dưới dạng phần trăm đại diện cho các chi phí thực tế hàng năm của quỹ trong thời hạn của khoản vay. Nó bao gồm bất kỳ khoản phí hoặc chi phí bổ sung liên quan đến giao dịch. Các thỏa thuận vay hoặc tín dụng có thể khác nhau về cơ cấu lãi suất, phí giao dịch, tiền phạt trễ và các yếu tố khác. Một tính toán tiêu chuẩn như APR cho người đi vay một con số thấp nhất mà họ có thể nhận được để dễ dàng so sánh với khác lãi suất của những người cho vay tiềm năng khác. Theo luật, các công ty thẻ tín dụng và tổ chức phát hành cho vay phải thông báo cho khách hàng về APR để họ hiểu rõ về giá thực tế áp dụng đối với các thỏa thuận của họ. Các công ty thẻ tín dụng được phép niêm yết lãi suất hàng tháng (ví dụ như 2% một tháng), nhưng cũng được yêu cầu phải ghi rõ lãi suất hàng năm cho khách hàng trước khi thoả thuận được ký kết. Ví dụ, một công ty thẻ tín dụng có thể tính phí 1% một tháng, nhưng APR là 1% x 12 tháng = 12%. Điều này khác với lợi tức hàng năm mà tính lãi kép vào tài khoản.
Annual Mortgage Statement / Báo Cáo Khoản Thế Chấp Hàng Năm
Annual Mortgage Statement là một bản báo cáo thường niên do bên dịch vụ của người cho vay thế chấp gửi cho người vay thế chấp ghi rõ chi tiết tổng số lãi và các thời điểm thanh toán trong năm vừa qua và khoản dư nợ gốc còn lại của khoản vay thế chấp. Nếu các khoản thuế và/hoặc bảo hiểm đã được lưu ký thì số thuế mà bên dịch vụ thay mặt bên cho vay trả trong năm qua cũng sẽ được ghi rõ như số dư ký quỹ cuối năm ở Hoa Kỳ, báo cáo khoản thế chấp hàng năm được biết đến như một báo cáo cuối năm hay mẫu 1098 được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ thuế.
Annual General Meeting - AGM / Cuộc Họp Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên
Annual General Meeting (viết tắt là AGM) là một cuộc họp hàng năm bắt buộc của các cổ đông cho phép những người tham gia nhận được thông tin và tham gia vào các quyết định và hoạt động của công ty. Cuộc họp hàng năm này là sự kiện độc lập mà các cổ đông có thể tụ họp và đặt ra cho ban giám đốc các câu hỏi về tình trạng vận hành và các chiến lược của công ty. Thông báo cụ thể được gửi cho các cổ đông về thời gian và lịch trình cuộc họp.
Annual Exclusion / Khoản Loại Trừ Hàng Năm
Annual Exclusion là khoản tiền được chuyển bằng quà tặng từ một người này đến một người khác mà không phải chịu thuế quà tặng hoặc không tác động đến khoản tín dụng thống nhất. Khoản này có thể được chuyển dưới dạng tiền mặt hoặc dưới dạng các tài sản khác. Khoản loại trừ hành năm không giới hạn số lượng người nhận mỗi năm. Ví dụn khoản loại trừ hàng năm cho năm 2011 là $13,000. Điều đó có nghĩa là một người giàu có có thể tặng khoản $13,000 đó cho 10 người khác nhau trong một năm mà không phải chịu thuế quà tặng. Thêm vào đó, các cặp vợ chồng có thể kết hợp khoản loại trừ hàng năm của mỗi người lại với nhau thành khoản quà tặng $26,000 mỗi người hoặc $52,000 mỗi cặp mỗi năm. Chiến lược tặng quà này thường được sử dụng để giảm quy mô của tài sản thừa kế chịu thuế.
Annual Equivalent Rate - AER / Lãi Suất Tương Đương Theo Năm - AER
Annual Equivalent Rate (AER) là lãi suất được tính toán với giả định mọi lãi suất đã trả được cộng vào số dư gốc và khoản lãi được trả tiếp theo sẽ tính trên số dư tài khoản cao hơn đó. Nói chung, điều đó có nghĩa là lãi suất sẽ được ghép một số lần trong một năm phụ thuộc vào số lần trả lãi được thực hiện.ở Anh, số tiền lãi nhận được từ tài khoản tiết kiệm được xếp vào nhóm AER.Công thức:AER=(1+1/n)^n -1Trong đó:n là số lần ghép lãir là lãi suất tính Ví dụ, một tài khoản tiết kiệm với lãi suất niêm yết là 10% trả lãi hàng quý sẽ có AER là 10.38%. Các nhà đầu tư cảm nhân thấy lãi suất tương đương theo năm sẽ có hơn lãi suất thực tế theo năm mà không ghép lãi.
Annual Dividend - Insurance / Lợi Tức Bảo Hiểm Thường Niên
Trong ngành bảo hiểm, Annual Dividend - Insurance là một khoản thanh toán hàng năm do công ty bảo hiểm chi trả cho một hợp đông bảo hiểm. Lợi tức hàng năm thường được phân phối dựa trên chính sách bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm trợ cấp thu nhập thương tật. Các công ty bảo hiểm có thể trả cho khách hàng lợi tức hàng năm khi tình hình lợi nhuận đầu tư, các yêu cầu bổi thường và chi phí vận hành của công ty khả quan hơn kỳ vọng. Lượng lợi tức chi trả thay đổi mỗi năm và không được bảo đảm.Việc tính toán lợi tức hàng năm dựa trên giá trị tiền đảm bảo, phí thường niên của từng hợp đồng bảo hiểm, chi phí cho chi tiêu và chi trả thực tế cũng như tỷ lệ lợi tức. Các công ty bảo hiểm cần dảm bảo rằng họ có thể thu đủ phí bảo hiểm hàng năm để trang trải tất cả chi phí, dự trữ và dự phòng, nhưng họ cũng phải lựa chọn phương án chia sẻ thặng dư với khách hàng của mình. Các khoản lợi tức thường niên có thể được áp dụng cho phí bảo hiểm để giảm chi phí thực hiện hợp đòng của khách hàng. Chúng có thể được sử dụng để tăng giá trij hợp đồng, để mua thêm bảo hiểm khác, được phân chia như tiền mặt hoặc được sử dụng để trả cho các khoản vay theo hợp đồng. Trong một số ngoại lệ, Lợi tức thường được cho là khoản doanh thu từ phí bảo hiểm nên không bị đánh thuế thu nhập
Annual Convention Blank / Bản Kê Khai Định Kỳ Thường Niên
Annual Convention Blank là bản báo cáo thường niên mà các công ty bảo hiểm phải nộp lên ủy viên hội đồng bảo hiểm nhà nước. Báo cáo này sẽ phác thảo khoản dự trữ hiện tại của công ty, số nhân viên tạo ta hơn $40,000 một năm, các chi phí, tài sản và những vấn đề khác. Bản kê khai định kỳ thường niên phải được đệ trình để cho thấy khả năng tài chính trong hoạt động kinh doanh của một công ty trong nước. Bản kê khai định kỳ thường niên phải được nộp lên ủy viên hội đồng ở nước mà công ty thực hiện giao dịch kinh doanh. Về vơ bản, văn bản này cho phép nhà nước xác định được liệu một công ty bảo hiểm có lượng dự trữ đầy đủ để chi trả các khoản trợ cấp khi đến hạn hay không.






