Appraisal Capital / Vốn thẩm định
Một hình thức điều chỉnh kế toán. Vốn thẩm định được tạo ra khi giá trị thẩm định của tài sản của công ty vượt quá giá trị sổ sách. Sự khác biệt giữa hai giá trị được ghi nợ so với tài sản thực tế và sau đó được ghi có vào tài khoản vốn chủ sở hữu thuộc về các cổ đông. Vốn thẩm định là khá hiếm thấy ở Hoa Kỳ và thường được thực hiện ở các nước khác như một hình thức của bản tường thuật. Giá trị vượt quá được tạo ra bởi thẩm định là những gì tạo ra vốn thực tế có liên quan.
Appraisal Approach / Phương thức định giá
Đây là một phương thức xác định giá trị của một tài sản. Phương thức định giá tài sản dựa trên một số yếu tố như giá mua, tổng doanh thu mà tài sản đó có thể đem lại và giá thị trường của tài sản so với những tài sản có tính chất tương tự. Những con số khác nhau về mặt giá trị sẽ được ấn định vào tài sản tùy vào việc một trong những yếu tố trên được người định giá dựa vào chủ yếu. Đôi khi định giá sẽ không bằng đúng giá thị trường và người mua đôi lúc sẽ phải trả giá cao hoặc thấp hơn so với định giá tùy thuộc vào việc tài sản đó có giá trị gì đối với họ. Việc sử dụng phương thức định giá nào không quan trọng, định giá chỉ là một dự đoán được dựa trên các cơ sở và nghiên cứu về giá bán mà tài sản sẽ bán được trên thị trường tự do. Định giá được sử dụng cho những loại tài sản có trị giá lớn như bất động sản, trang sức, doanh nghiệp hay phương tiện đi lại. Việc định giá thường được tiến hành chung với việc đem bán hoặc phục vụ mục đích bảo hiểm. Để cho kết quả được chính xác nhất, định giá buộc phải được thực hiện bởi những chuyên gia trong lĩnh vực thuộc tài sản đó. Một chiếc nhẫn kim cương cần được định giá bởi thợ kim hoàn và cả một doanh nghiệp phải được đánh giá bởi một công ty chuyên về định giá.
Appraisal / Định Giá
Giá trị của tài sản (có thể là bất động sản, một doanh nghiệp, một cổ vật) theo ước tính của một người có thẩm quyền. Để có một định giá hợp lệ, người có thẩm quyền sẽ được chỉ định từ một cơ quan quản lý có thẩm quyền mà thẩm định viên làm việc. Định giá thường được sử dụng cho mục đích tính thuế hoặc để xác định giá bán phù hợp cho việc điều tra. Các giám định viên có thể sử dụng rất nhiều phương pháp định giá để xác định giá trị thích hợp cho việc sang nhượng, bao gồm cả giá trị thị trường hiện tại của những tài sản có tính chất tương tự, chất lượng của tài sản và mô hình định giá.
Apportionment / Phân bổ
Việc phân bổ một khoản lỗ giữa tất cả các công ty bảo hiểm sẽ bảo đảm một phần tài sản. Phân bổ này được sử dụng để xác định tỷ lệ phần trăm trách nhiệm cho mỗi công ty bảo hiểm. Ví dụ: có ba công ty bảo hiểm, mỗi công ty bảo đảm 30.000 đô la trên một tài sản trị giá 90.000 đô la, mỗi công ty được phân bổ một phần ba yêu cầu nếu tài sản bị phá hủy. Phân bổ cũng có thể đề cập đến việc phân phối lợi ích kinh tế. Phân bổ có một sự áp dụng hơi khác đối với bất động sản. Trong trường hợp này, nó đề cập đến việc phân bổ chi phí tài sản như bảo hiểm và thuế giữa người mua và người bán. Phân bổ cũng có thể mô tả sự phân chia tài sản giữa những người thuê nhà chung.
Applied Economics / Kinh tế học ứng dụng
Việc áp dụng các lý thuyết và nguyên tắc kinh tế vào các tình huống thực tế với mục đích mong muốn là dự đoán các kết quả tiềm năng. Việc sử dụng kinh tế học ứng dụng được thiết kế để phân tích xem xét các kết quả tiềm năng không bị ảnh hưởng bởi các nội dung gây sao nhãng như các lời bao biện không được chứng minh bởi số học. Kinh tế học ứng dụng có thể liên quan đến việc sử dụng kinh tế lượng và nghiên cứu mô hình. Bởi vì kinh tế học dựa vào việc giải thích các sự kiện lịch sử trong lý thuyết của nó nên kinh tế học ứng dụng có thể dẫn đến các danh sách "phải làm" cho các bước có thể được thực hiện để đảm bảo sự ổn định trong các sự kiện trên thực tế. Mặc dù kinh tế học ứng dụng sử dụng lý thuyết và nguyên tắc kinh tế, nhưng bản thân nó không phải là một lĩnh vực kinh tế, như kinh tế học tân cổ điển hay trường phái kinh tế học Áo.
Applied Cost / Chi phí đã phân phối
Một thuật ngữ được sử dụng trong kế toán chi phí để biểu thị chi phí được gán cho một cái gì đó, có thể khác với chi phí thực tế. Kế toán chi phí làm công việc so sánh chi phí sản xuất với sản lượng sản xuất thường là một phần trong việc ra quyết định của công ty đối với nhiều quy trình bao gồm lập ngân sách và thực hiện kiểm soát chi phí. Trong sản xuất, ví dụ, chi phí đã phân phối của một chiếc ô tô sẽ bao gồm các chi phí không trực tiếp như khấu hao thiết bị vốn cho các máy móc được sử dụng để chế tạo xe. Phân tích chi phí đã phân phối có thể được sử dụng để cải thiện năng suất sản xuất và / hoặc giảm chi phí trên mỗi sản phẩm.
Chi Phí Đã Phân Phối (Applied Cost) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chi Phí Đã Phân Phối (Applied Cost) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Appleton Rule / Luật Appleton
Một quy định được khởi xướng vào năm 1901 bởi Henry D. Appleton, Phó Giám đốc Bảo hiểm New York. Luật Appleton tuyên bố rằng mọi công ty bảo hiểm nhân thọ kinh doanh tại New York đều phải tuân thủ luật pháp New York ngay cả khi họ kinh doanh ở các tiểu bang khác. Năm 1939, luật này được đưa vào luật bảo hiểm của New York. Mặc dù luật Appleton rất phổ biến ở New York, nhưng nó không được hoan nghênh ở các tiểu bang khác bởi vì bất kỳ quy định mới nào được đề xuất sẽ xung đột hoặc gây nguy hiểm cho giấy phép bảo hiểm của tiểu bang New York sẽ gặp phải sự phản đối. Các nhà ủy thác bảo hiểm khác cũng không thích luật này vì nó ngăn cản họ đưa ra các quy định khác nhau nếu nó tranh chấp với luật Appleton.
Appellate Courts / Tòa phúc thẩm
Một bộ phận của hệ thống tư pháp chịu trách nhiệm xét xử và xem xét kháng cáo từ các vụ án pháp lý đã được xét xử ở cấp xét xử hoặc tòa án cấp dưới khác. Những người hoặc tổ chức như các công ty có kết quả không thành công ở cấp xét xử hoặc tòa án cấp dưới khác có thể nộp đơn kháng cáo lên tòa phúc thẩm để xem xét lại quyết định. Tòa phúc thẩm có mặt ở cấp tiểu bang và liên bang. Các tòa phúc thẩm tồn tại như một phần của hệ thống tư pháp để cung cấp cho những người có bản án chống lại họ một cơ hội để xem xét lại vụ án của mình. Một công ty có phán quyết bất lợi đối với họ có thể sẽ thấy giá cổ phiếu giảm nhưng một kháng cáo có thể đảo ngược phán quyết trước đây. Nếu kháng cáo thành công, giá cổ phiếu thường sẽ nhảy vọt. Các tòa án ở cấp phúc thẩm xem xét các phát hiện và bằng chứng từ tòa án cấp dưới và xác định xem có đủ bằng chứng để hỗ trợ cho quyết định của tòa án cấp dưới hay không. Ngoài ra, tòa phúc thẩm sẽ xác định xem xét xử hay tòa án cấp dưới áp dụng đúng luật. Hình thức cao nhất của một phiên tòa phúc thẩm ở Hoa Kỳ là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ chỉ xét xử những ca kháng cáo có tầm quan trọng và hậu quả lớn.
Appeals Conference / Hội nghị kháng cáo
Một hội nghị mà người nộp thuế có thể yêu cầu Sở Thuế vụ (IRS) (Mỹ) nếu họ không đồng ý với kết quả kiểm toán của IRS trong quá trình kiểm toán. Hội nghị kháng cáo có thể được yêu cầu sau cuộc họp với người giám sát IRS nếu cuộc họp đó không giải quyết được vấn đề. Một sự kháng nghị chính thức bằng văn bản, một tuyên bố chi tiết, có chữ ký về sự không đồng tình của người nộp thuế, là không cần thiết cho một hội nghị nếu việc kiểm toán sơ bộ được thực hiện thông qua thư từ hoặc văn phòng IRS, hoặc liên quan đến số tiền dưới 25.000 đô la. Tuy nhiên, một tuyên bố ngắn gọn bằng văn bản, mà IRS gọi là "yêu cầu trường hợp nhỏ", nêu rõ lý do tại sao người nộp thuế không đồng ý với IRS, là cần thiết. Người nộp thuế đại diện cho chính họ tại hội nghị hoặc thuê một luật sư, kế toán hoặc đại lý đã đăng ký để đại diện thay thế cho họ. Hội nghị này thường không mấy chính tắc và người nộp thuế có thể tranh biện theo bất kỳ cách nào họ thấy phù hợp.
Appeal Bond / Phí bảo lãnh kháng cáo
Đây là một khoản tiền được nắm giữ trong thời gian chờ phán quyết kháng cáo. Phí bảo lãnh kháng cáo được nộp bởi bên nguyên kháng (người đăng đơn kiện) đang kháng cáo phán xét của tòa án. Thông thường thì phán xét này đang thuộc vòng sơ thẩm (mặc dù trên thực tế có thể là những vòng sau đó). Phí bảo lãnh kháng cáo có thể là một rào chắn an toàn giúp bảo vệ toà án khỏi những vụ kháng cáo vô bổ tốn thời gian và tiền bạc, bên đăng đơn kháng cáo luôn là bên thua kiện. Trong 1 vụ kháng cáo, vụ việc sẽ được giải quyết theo án lệ trước khi được đưa lên trên các toàn án tối cao. Các toàn án cấp cao sẽ chỉ xem xét những vấn đề bị từ chối giải quyết bởi các tòa án cấp thấp trong phiên xét xử ban đầu chứ không phải những bằng chứng gây ra tình tiết mới. Phí bảo lãnh kháng cáo được quy định bởi điều lệ Liên Bang về thủ tục kháng cáo số 7 (Hoa Kỳ). Bị cáo thua kiện cần phí bảo lãnh kháng cáo nhằm bảo về quyền lợi của họ trong việc kháng cáo được quy định bởi cả toàn án thuộc Bang và Liên Bang. Quy trình kháng cáo bao gồm việc thông báo về một vụ xét xử toàn bộ cùng với những quyền lợi của các bên. Phí bảo lãnh kháng cáo nên được đề cập và tranh luận sớm trong một vụ việc do chi phí cho nó là khá cao và bị cáo luôn được trả phí kháng cáo một vài tuần sau phiên xét xử. Phí bảo lãnh kháng cáo này cũng có thể được hiểu như một chi phí chuyển đổi
APICS Business Outlook Index / Chỉ số triển vọng kinh doanh APICS
Đây là một chỉ số sản xuất mang tầm cỡ quốc gia dùng để khảo sát hàng tháng một số công ty sản xuất. Nếu chỉ số đạt mức trên 50 nó cho thấy tín hiệu sản xuất mở rộng, thấp hơn 50 thì cho thấy tín hiệu của việc sản xuất đang co lại. Chỉ số được báo cáo hàng tháng vào ngày làm việc cuối cùng của thứ tư, thứ năm hoặc thứ sáu (tùy vào thời điểm cập nhật nhất) vào lúc 8:30 sáng ...
APB Opinion / Ý kiển của Hội đồng chuẩn mực kế toán
Một tuyên bố có thẩm quyền do Hội đồng chuẩn mực kế toán ban hành. Các ý kiến chính thức đã được đưa ra về các vấn đề kế toán khác nhau đòi hỏi phải làm rõ hoặc giải thích. APB liệt kê 31 ý kiến riêng biệt trong suốt quá trình tồn tại. Hội đồng chuẩn mực kế toán đã được thay thế bởi Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) vào năm 1973. Các ý kiến của APB cũng được thay thế bởi Nguyên tắc Kế toán được chấp nhận chung (GAAP) (Hoa Kỳ). Do đó, về cơ bản chúng đã lỗi thời.
Any-Occupation Policy / Chính sách bất kỳ nghề nghiệp
Thuật ngữ sử dụng trong ngành bảo hiểm để chỉ một định nghĩa cụ thể của khuyết tật khi viết các chính sách bảo hiểm tàn tật. Nếu bạn gặp tai nạn dẫn tới bất lợi trong việc tiếp tục lao động, bạn sẽ bị coi là tàn tật, nhưng các chính sách bảo hiểm tàn tật có các định nghĩa cụ thể để đủ điều kiện cho các khoản trợ cấp. Định nghĩa "bất kỳ nghề nghiệp" là định nghĩa nghiêm ngặt hơn về khuyết tật, nơi bạn không thể làm việc trong một công việc hợp lý phù hợp với bạn dựa trên những thứ như giáo dục, kinh nghiệm và tuổi tác. Định nghĩa chung khác về tàn tật là phân loại "nghề nghiệp riêng". Định nghĩa này xem bạn bị tàn tật nếu bạn không thể thực hiện cùng một công việc mà bạn đã làm trước vụ tai nạn. Ví dụ, nếu bạn là bác sĩ phẫu thuật và bạn bị thương tay, bạn sẽ bị coi là khuyết tật theo định nghĩa "nghề nghiệp riêng".
Any-Interest-Date Call / Lệnh mua lãi vay (trái phiếu)
Any-Interest-Date Call là một điều khoản được quy định trong trái phiếu đô thị cho phép người phát hành mua lại trái phiếu sau khi đã trả xong phần tiền lãi vay. Lệnh mua lãi vay không nhất thiết yêu cầu người phát hành trái phiếu phải trả phí nhưng thông thường sẽ yêu cầu người phát hành đợi cho đến khi ngày thu hồi đầu tiên đáo hạn. Những người đầu tư vào các loại chứng khoán có điều khoản này cần phải biết rằng 1 lệnh mua thường diễn ra và được thông báo trước thời điểm lệnh mua chính thức có hiệu lực. Khi 1 lệnh mua được ban hành, nhà đầu tư sẽ nhận được 1 số tiền tương ứng với khoản lãi trả trước và mệnh giá. Nếu nhà đầu tư không muốn thu hồi toàn bộ lượng chứng khoán phát hành, công ty có thể thu hồi 1 số lượng lô chứng khoán nhất định.
Any-and-All Bid / Phương pháp đầu thầu theo kiểu một phần hoặc tất cả
Any-and-All Bid là một giá thầu được thực hiện để mua tất cả các cổ phiếu đang được rao bán ở một mức giá cụ thể. Thêm - và tất cả giá thầu là lệnh thực tế được đưa ra cho việc mua cổ phiếu ở mức giá. Phương pháp đầu thầu theo kiểu một phần hoặc tất cả thường được sử dụng bởi các công ty cố gắng thu mua. Công ty mua lại sẽ đặt hàng để mua bất kỳ cổ phiếu nào được chào bán trong một thời gian nhất định hoặc lên đến một số lượng được đặt. Ví dụ: nếu công ty A muốn mua 50% cổ phần của công ty B, họ có thể sử dụng chiến lược đầu thầu theo kiểu một phần hoặc tất cả với giá $ 10. Điều này sẽ dẫn đến việc công ty A đầu thầu theo kiểu một phần hoặc tất cả trên các sàn giao dịch công khai với giá $ 10 trở xuống.
Antitrust / Chống độc quyền
Luật chống độc quyền áp dụng cho hầu hết tất cả các ngành và cho mọi cấp độ kinh doanh, bao gồm sản xuất, vận chuyển, phân phối và tiếp thị. Họ cấm một loạt các âm mưu hạn chế thương mại. Ví dụ về các hành vi bất hợp pháp là âm mưu cố định giá, sáp nhập doanh nghiệp có khả năng làm giảm sức mạnh cạnh tranh của các thị trường cụ thể và các hành động "săn mồi" được thiết kế để đạt được hoặc duy trì quyền lực độc quyền. Microsoft, ATT và J.D. Rockefeller Oil là những công ty đã từng bị kết án về hành vi chống độc quyền.
Anti-Takeover Statute / Đạo luật chống tiếp quản
Anti-Takeover Statute là một tập hợp các quy định của nhà nước ngăn chặn hoặc ngăn cản các công ty cố gắng thu mua doanh nghiệp thù địch. Các quy định này khác nhau giữa các tiểu bang và thường chỉ ảnh hưởng đến các công ty được thành lập trong tiểu bang đó Mặc dù các đạo luật này nhằm hạn chế các vụ mua lại thù địch, nhưng đôi khi chúng sẽ gây bất lợi cho các cổ đông bằng cách ngăn các công ty tham gia vào các vụ mua lại có lợi nhuận hoặc hợp lý.
Anti-Reciprocal Rule / Quy tắc chống đối ứng
Anti-Reciprocal Rule là một quy tắc được tạo ra bởi Cơ quan quản lý ngành tài chính (FINRA) để bảo vệ các nhà đầu tư cá nhân khỏi xung đột lợi ích có thể phát sinh khi các công ty môi giới và quỹ tương hỗ bắt tay với nhau. Những quy tắc này được thiết kế để ngăn chặn việc thỏa thuận g giữa một công ty môi giới và một quỹ tương hỗ, trong đó công ty môi giới sẽ đẩy khách hàng của mình đến công ty quỹ tương hỗ (tạo ra doanh số cho công ty này) và quỹ tương hỗ sẽ đáp lễ bằng cách gửi các giao dịch của mình thông qua công ty môi giới kể trên (tạo hoa hồng). Các công ty môi giới và quỹ tương hỗ có thể bị FINRA (trước đây là NASD) phạt nếu có bằng chứng cho thấy họ đã vi phạm các quy tắc chống đối ứng.
Anti-Martingale System / Hệ thống chống Martingale
Anti-Martingale System là một hệ thống xác định kích cỡ vị trí tương quan giữa mức đầu tư với rủi ro và quy mô danh mục đầu tư. Chiến lược chống Martingale liên quan đến việc giảm một nửa số tiền cược của bạn mỗi khi bạn thua một giao dịch và nhân đôi chúng mỗi khi bạn thắng một giao dịch. Giả định của hệ thống chống Martingale là bạn có thể tận dụng một chuỗi các chiến thắng bằng cách nhân đôi vị thế của mình. Ngược lại, chiến lược Martingale yêu cầu nhà giao dịch tăng gấp đôi số tiền đặt cược của mình mỗi lần thua, và hy vọng rằng đến màn cuối cùng họ có thể sẽ được phục hồi những khoản lỗ đó và kiếm lợi nhuận bằng những khoản đặt cược thuận lợi. Hệ thống chống Martingale chấp nhận rủi ro lớn hơn trong các giai đoạn tăng trưởng mở rộng và được coi là một hệ thống tốt hơn cho các nhà giao dịch trực tuyến, bởi vì sẽ có ít rủi ro hơn khi tăng quy mô giao dịch trong một chuỗi chiến thắng, so với một chuỗi thua lỗ. Hệ thống chống Martingale, cùng với hệ thống Martingale và đầu cơ, là một trong ba cách cơ bản để các nhà giao dịch ngoại hối đặt cược vào thị trường.
Anti-Greenmail Provision / Điều khoản chống (tống tiến) thư xanh
Anti-Greenmail Provision là một điều khoản đặc biệt nằm trong điều lệ công ty của một công ty hoạt động như một sự răn đe chống lại việc ban giám đốc phê duyệt việc mua lại cổ phần. Quy định này hoạt động như một biện pháp phòng ngừa, hạn chế các nhà quản lý mua lại cổ phiếu của công ty với mức phí bảo hiểm đáng kể do thư xanh. Một cổ đông nắm trong tay phần lớn cổ phần có thể tác động đến hội đồng quản trị để mua lại cổ phần với mức chênh cao , vậy nên điều khoản chống thư xanh yêu cầu phần lớn các cổ đông (không bao gồm các cổ đông chính) phải đồng ý thì mới được mua lại cổ phần.






