Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Article XII Company / Công ty theo điều khoản XII (Hoa Kỳ)

Đây là một công ty đầu tư được kiểm soát theo Điều XII của Luật Ngân hàng Nhà nước New York. Được thành lập để tài trợ cho các giao dịch ngân hàng quốc tế, chúng thường do các ngân hàng nước ngoài nắm giữ. Công ty theo điều khoản XII thường tham gia vào các doanh nghiệp như các ngân hàng thương mại định hướng quốc tế, chẳng hạn như cho vay đối với người vay nước ngoài, giao dịch ngoại hối và phát hành thư tín dụng.Sự khác biệt là các công ty theo điều khoản XII thường không mua cổ phiếu. Hơn nữa, công ty này không chấp nhận tiền gửi ở tiểu bang New York, và chỉ chấp nhận bên ngoài tiểu bang khi có sự chấp thuận của Hội đồng Ngân hàng tiểu bang New York( New York State Banking Board).Các công ty còn được miễn yêu cầu dự trữ của Hệ thống dự trữ liên bang. Công ty theo điều khoản XII được mô tả bởi Bộ Ngân hàng Nhà nước New York giống như " là độc nhất ở New York " .Các luật quy định cho các công ty đầu tư có từ năm 1890. Trong nhiều năm, chính sách của Bộ Ngân hàng Nhà nước là cho phép các ngân hàng nước ngoài thành lập công ty đầu tư chỉ khi không có phương tiện thực tế nào khác để gia nhập vào thị trường New York. Điều này giải thích sự tồn tại của nhiều công ty theo điều khoản XII hiện nay.

Arrow's Impossibility Theorem / Định Luật Bất Khả Thi Của Arrow

Một nghịch lý về lựa chọn của xã hội minh họa cho việc không thể có một cơ cấu bỏ phiếu phản ánh các tiêu chí công bằng cụ thể, chẳng hạn như tính hiệu quả của Pareto. Định lý bất khả thi của Arrow cho rằng một trật tự ưu tiên rõ ràng không thể được xác định trong khi vẫn phải tôn trọng các nguyên tắc bắt buộc của thủ tục bỏ phiếu công bằng. Ví dụ, phần sau đây cho thấy các loại vấn đề điển hình của một cuộc bầu cử. Hãy xem xét ví dụ phía dưới, trong đó các cử tri được yêu cầu xếp hạng ưu tiên của họ về các ứng cử viên A, B và C: - 45 phiếu A > B > C (45 người ưu tiên A hơn B và ưu tiên B hơn C)- 40 phiếu B > C > A (40 người ưu tiên B hơn C và ưu tiên C hơn A)- 30 phiếu C > A > B (30 người ưu tiên C hơn A và ưu tiên A hơn B) Ứng cử viên A có nhiều phiều bầu nhất, do đó A là người thắng cuộc. Tuy nhiên, nếu B không tranh cử, C có thể đã trở thành người thắng, vì có nhiều người thích C hơn A. (A sẽ có 45 phiếu và C sẽ có 70 phiếu). Kết quả này chứng minh cho định luật bất khả thi của Arrow.

Arrears / Nợ chưa trả

Là khoản nợ quá hạn hoặc bổn phận, nghĩa vụ chưa thanh toán. Một tài khoản bị cho là "chậm trả nợ" nếu thiếu một hoặc nhiều khoản thanh toán trong những giao dịch yêu cầu thanh toán thường xuyên như tiền thế chấp, tiền thuê hoặc hóa đơn điện thoại và các loại hóa đơn khác.  Thuật ngữ "chậm trả nợ" không phải lúc nào cũng mang ý nghĩa tiêu cực như là như trong công cụ thu nhập cố định điều này có nghĩa là lãi suất thanh toán được trả vào cuối kì hạn. Ví dụ, lãi suất thế chấp ở Mỹ được trả chậm, nghĩa là trong trường hợp thanh toán hàng tháng, khoản thanh toán bao gồm nợ gốc và lãi suất cho tháng đấy được trả đúng hạn.

Arrearage / Nợ chưa trả

Là một khoản vay, cổ phiếu ưu đãi tích lũy hoặc bất kì môt công cụ tín dụng nào quá hạn.Đồng nghĩa với "arrears" Trong trường hợp cố phiếu tích lũy, nếu công ty không trả cổ tức cho cổ đông, nó sẽ tích lũy dần. Điều này có nghĩa là trong tương lai số số nợ chưa trả đấy phải được trả trước cố tức của cổ phiếu phổ thông.

Aroon Oscillator / Chỉ số dao động Aroon

Đây là một chỉ báo theo xu hướng sử dụng các khía cạnh của chỉ báo Aroon ("Aroon Up " và "Aroon Down") để đánh giá sức mạnh của xu hướng hiện tại  và khả năng tiếp tục của xu hướng đó. Chỉ báo Aroon được tính bằng cách lấy Aroon Up trừ đi Aroon Down. Các giá trị dương của chỉ báo cho thấy xu hướng hiện tại đang tăng, và giá trị âm của chỉ báo cho thấy xu hướng hiện tại đang giảm. Chỉ báo Aroon bao gồm hai thành phần là Aroon up và Aroon Down. Khái niệm này chỉ một tài sản có xu hướng lên khi một cổ phiếu đang giao dịch gần mức cao nhất trong phạm vi của nó.Aroon up được sử dụng để đo lường sức mạnh của xu hướng tăng, trong khi Aroon down được sử dụng để đo lường sức mạnh của xu hướng giảm. Nhiều nhà giao dịch sẽ theo dõi một đường chéo trên đường 0 để hiểu là bắt đầu một xu hướng tăng mới.Ngược lại đường chéo đó dưới đường 0 sẽ chỉ ra sự bắt đầu của một xu hướng giảm. Các giá trị gần 0 cho thấy rằng chứng khoán này đang có xu hướng đi ngang và thời kỳ hợp nhất này có thể tiếp tục.

Aroon Indicator Ghi lại / Chỉ số Aroon

Một chỉ số phân tích kỹ thuật được sử dụng để xác định xu hướng của các chứng khoán cơ bản và khả năng đảo chiều của những xu hướng này. Chỉ số Aroon gồm có 2 đường: Đường đầu tiên được gọi là "Aroon lên", dùng để đo lường cường độ chiều hướng lên giá của chứng khoán, đường còn lại là "Aroon xuống" dùng để đo cường độ xu thế giảm giá. Chỉ số cho biết thời gian để giá đạt được từ điểm bắt đầu lên điểm cao nhất và xuống điểm thấp nhất trong một thời kỳ nhất định, mỗi điểm được báo cáo theo tỷ lệ phần trăm tổng thời gian. Chỉ số Aroon được Tushar Chande phát triển vào năm 1995. Cả đường Aroon lên và Aroon xuống đều dao động trong khoảng từ 0 đến 100, với các giá trị tiệm cận 100 thì nó cho thấy một xu hướng lên hoặc xuống mạnh và tiệm cận 0 biểu hiện xu hướng yếu. Đường Aroon lên càng ngắn, chiều hướng lên giá càng yếu, chiều hướng giảm giá càng mạnh và ngược lại. Giả thuyết chính làm nền tảng cho chỉ số này là việc giá cổ phiếu sẽ đóng cửa ở mức cao kỷ lục theo xu hướng tăng giá và mức thấp kỷ lục theo xu hướng giảm giá. Chỉ số này rất giống với chỉ số chuyển động định hướng DMI (directional movement index) được phát triển bở Welles Wilder, đây cũng là một chỉ số rất phổ biến được sử dụng để đo lường sức mạnh một xu hướng nhất định.

Arm's Length Transaction / Giao dịch mua bán ngoài

Giao dịch mua bán ngoài là giao dịch mà trong đó bên mua và bên bán hoạt động độc lập và không liên quan đến nhau. Giao dịch này nhằm đảm bảo cả 2 bên đều hoạt động dựa trên lợi ích của bản thân và không phải chịu bất kì áp lực nào từ bên kia. Khái niệm về giao dịch mua bán ngoài thường xuất hiện trong thị trường bất động sản. Giá thị trường của một khối tài sản phải được xác định thông qua cả người mua và người bán trong một giao dịch ngoài, nếu không, giá thỏa thuận có thể không giống với giá thị trường của khối tài sản.Ví dụ, nếu người mua và người bán của một ngôi nhà không liên quan đến nhau thì nhiều khả năng giá thỏa thuận cuối cùng sẽ sát với giá thị trường của ngôi nhà đấy (giả sử rằng cả hai bên đều có cùng năng lực mặc cả và thông tin như nhau). Điều này có thể xảy ra vì người bán sẽ muốn giá cao nhất có thể còn người mua sẽ muốn giá thấp nhất có thể.Điều này ngược với tình huống khi hai bên mua và bán có liên quan đến nhau. Ví dụ, kết quả của giao dịch trên sẽ khác khi người mua và bán là hai cha con vì người cha có thể sẽ muốn giảm giá cho người con.

Arm's Length Market / Thị trường mua bán ngoài

Một thị trường tài chính bao gồm các bên không liên quan hay liên hệ gì với nhau khi thực hiện giao dịch. Ở Mỹ, hầu hết các giao dịch được coi là mua bán ngoài, nơi mà cả người bán lẫn người mua chỉ được tiếp cận những thông tin giao dịch. Hai bên thường sẽ không thể biết được là họ có liên quan đến nhau. Thị trường mua bán ngoài dựa theo nguyên tắc các bên có tầm ảnh hưởng ngang nhau trong các giao dịch. Hơn nữa, nó loại bỏ các cơ hội giao dịch đến từ những mối quan hệ cá nhân mà có thể gây ra hiện tượng thao túng thị trường.

Arms Index - TRIN / Chỉ số Arms - TRIN

Đây là một chỉ báo dùng để phân tích kỹ thuật bề rộng thị trường trong ngắn hạn và được tính như sau: TRIN = (Số mã chứng khoán tăng giá/Số mã chứng khoán giảm giá) / (Khối lượng giao dịch của nhóm chứng khoán tăng giá/Khối lượng giao dịch của nhóm chứng khoán giảm giá) TRIN là viết tắt của TRaders' INdex (Chỉ số giao dịch) Chỉ số bằng 1 tức là thị trường đang ở trạng thái cân bằng; chỉ số lớn hơn 1 cho biết một khối lượng giao dịch đang tập trung vào nhóm các trái phiếu giảm giá; và nếu chỉ số nhỏ hơn 1 nghĩa là khối lượng các giao dịch đang tập trung vào nhóm các trái phiếu tăng giá. Chỉ số này được Richard Arms phát triển vào năm 1967.

ARM Margin / Phần bù khoản vay thế chấp điều chỉnh giá

Một tỷ lệ cố định tính theo phần trăm được thêm vào giá trị chỉ số nhằm xác định lãi suất được lập chỉ mục hoàn chỉnh của một khoản vay thế chấp giá điều chỉnh (ARM). Phần chênh này luôn không đổi trong suốt thời gian vay thế chấp, trong khi đó giá trị chỉ số lại là một biến số. Ví dụ, chỉ số có thể là lãi suất cơ bản thay đổi tùy theo tình hình thị trường với phần bù là 2%. Nếu lãi suất cơ bản là 5% và phần bù là 2% thì lãi suất chỉ mục đầy đủ sẽ là 7%. Nếu lãi suất cơ bản tăng lên thành 6% (phần bù vẫn giữ nguyên), thì lãi suất chỉ mục đầy đủ sẽ là 8%. Phần bù khoản vay thế chấp điều chỉnh giá là một phần rất quan trọng của lãi suất cho vay và thường không được xem như là một phần của lãi suất khoản vay. Phần bù này thường mang tính đàm phán với người cho vay. Các phần bù khác nhau nên được kỳ vọng đi kèm với các chỉ số khác nhau do có rất nhiều các chỉ số phổ biến khác nhau ở giá gốc khi đem ra so sánh lẫn nhau. Nói một cách khác, chỉ số càng thấp thì phần bù được kỳ vọng càng cao. Khi mà có quá nhiều sự lựa chọn chỉ số hay phần bù cho người đi vay thì việc phân tích cần phải được thực hiện để xác định xem đâu là lựa chọn tiết kiệm kinh tế nhất.

ARM Index / Chỉ số vay thế chấp điều chỉnh giá

Đây là lãi suất chuẩn mà một khoản vay thế chấp điều chỉnh giá được gắn với. Lãi suất này được tính bằng giá trị chỉ số cộng với phền chênh. Chỉ số cơ sở sử dụng trong khoản vay thế chấp điều chỉnh giá là khác nhau, trong khi phần chênh thì là một hằng số cố định. Có một vài các chỉ số phổ biến được sử dụng cho các khoản vay thế chấp điều chỉnh giá khác nhau.Thuật ngữ này còn được biết đến là " lãi suất được lập chỉ mục đầy đủ (fully indexed interest rate)" Khoản vay thế chấp điều chỉnh giá được gắn với chỉ số nào thì có ảnh hưởng đến vọng đời của khoản vay thế chấp đó. Ví dụ, một chỉ số thế chấp được dùng phổ biến là chỉ số lợi nhuận tín phiếu kho bạc (chỉ số MTA). Chỉ số này là một phép tính trung bình động (MA) và vì vậy nó có "hiệu ứng độ trễ (large effet)". Nếu lãi suất được kỳ vọng là sẽ tăng, tài sản thế chấp bị ràng buộc bởi chỉ số MTA có thể sẽ trở lên rẻ tiền hơn so với tài sản thế chấp bị ràng buộc bởi một chỉ số khác mà không tính toán đến chỉ số trung bình động, ví dụ có thể kể đến như là chỉ số LIBOR một tháng. Mặc dù vậy, người đi vay nên xem xét nhiều hơn là một chỉ số khi chọn lựa một khoản vay thế chấp giá điều chỉnh. Có nhiều biến số khác, ví dụ như là cấu trúc thời hạn của lợi nhuận biên hay lãi suất , đều là những yếu tố cần phải được cân nhắc.

Arithmetic Mean / Trung bình số học

Đây là một khái niệm số học đại diện cho giá trị điển hình của một loạt các con số, được tính bằng cách lấy tổng của toàn bộ các số trong dãy số đang xét đến chia cho số lượng tất cả các số trong dãy. Trung bình số học được gọi một cách phổ biến là "trung bình cộng" (average) hay chỉ đơn giản là "trung bình" (mean). Giả sử rằng bạn muốn biết trung bình số học giá đóng cửa của cổ phiếu trong tuần vừa qua. Nếu như tính theo 5 ngày 1 tuần cổ phiếu đóng cửa ở các mức 14.50USD, 14.80USD, 15.20USD, 15.50USD và cuối cùng là 14.00 Đô, giá đóng cửa trung bình số học của nó sẽ tương đương với tổng của 5 con số kể trên (74USD) chia cho 5 được 14.80USD.

Trung Bình Số Học (Arithmetic Mean) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Trung Bình Số Học (Arithmetic Mean) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Arithmetic Index / Chỉ số số học

Một chỉ số chứng khoán sử dụng phép toán số học nhằm xác định các thay đổi của chỉ số mà không tính đến giá trị tương đối của chứng khoán. Một chỉ số số học của các cổ phiếu không kết hợp trọng số dựa trên vốn hóa thị trường, giá cả hoặc bất kỳ số liệu nào khác, mà chỉ tính toán các thay đổi thô trong mỗi thành phần, sau đó chia tổng cho số thành phần chỉ số. Chỉ số số học còn được biết đến như là "chỉ số không trọng số" (unweighted index). Hầu hết các chỉ số chứng khoán đều tính đến trọng số của giá trị vốn hóa thị trường, điều đó có nghĩa là các công ty lớn nhất sẽ có ảnh hưởng lớn hơn so với những công ty nhỏ nhất. Chỉ số Standard & Poor's 500 và Nasdaq-100 đều có giá trị vốn hóa thị trường, trong khi Chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones (DJIA) là trọng số trên giá. Chỉ số Value Line được tính toán về phương diện số học, mặc dù một vài chỉ số lớn khác thì không xét đến giá trị của các thành phần theo một cách nào đó.

Area Of Mutual Interest - AMI / Khu vực quyền lợi chung - AMI

Đây là nơi có nhiều hơn một công ty dầu khí hoặc khí đốt sở hữu quyền lợi. Khu vực quyền lợi chung (AMI) được chỉ rõ trong một bản hợp đồng mà có vạch ra khu vực địa lý thuộc phạm vi AMI, quyền lợi mỗi bên trong AMI (bao gồm phần trăm lợi nhuận được phân chia cho mỗi công ty), thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, và cách thức các điều khoản hợp đồng được thi hành. Hợp đồng AMI cũng chỉ rõ cách các bên thỏa thuận để được cho phép thăm dò hoặc khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên tại các vùng đất thuộc sở hữu nhà nước. Nếu có bất kỳ bên nào đang trong một hợp đồng AMI muốn thi hành một dự án trên các khu vực đó, dự án đó cần phải làm chung với hoặc nhận được sự đồng ý của các bên còn lại có trong hợp đồng.

Archer MSA / Tài khoản tiết kiệm sức khỏe Archer (Hoa Kỳ)

Đây là một loại tài khoản tiết kiệm được hưởng lợi tức từ việc khấu trừ phần thuế phải nộp vào thu nhập của bạn, được sử dụng để chi tiêu cho các vấn đề về y tế. Các tài khoản tiết kiệm sức khỏe Archer thường được sử dụng bởi doanh nghiệp nhỏ hay các cá nhân lao động tự do để chi trả cho dịch vụ y tế cho nhân viên của mình. Loại tài khoản này được đặt tên theo Bill Archer, một nghị sĩ đã góp phần tạo ra một loại tài khoản tiết kiệm sức khỏe bằng cách kiến nghị những sửa đổi bổ sung cho tài khoản này. Một tài khoản tiết kiệm sức khỏe Archer không khác là mấy so với tài khoản hồi hưu cá nhân (IRA). Chủ sở hữu tài khoản sẽ đóng góp một phần tiền vào các quỹ rồi sau đó được hưởng lãi từ những quỹ này. Số tiền lãi bạn nhận được chính là khoản thuế thu nhập hoãn lại hay được miễn khi bạn rút tiền để chi trả cho các dịch vụ về y tế. Nếu số tiền trong các quỹ này bị rút ra để chi trả cho những mục đích khác, bạn sẽ phải chịu một khoản tiền phạt thông qua áp dụng hình thức đánh thuế.

Archangel / Nhà đầu tư thiên thần siêu cấp

Một nhà đầu tư thiên thần là người từng đầu tư vào rất nhiều dự án kinh doanh mà các dự án này đều đạt được danh tiếng và sự thịnh vượng tương đương những thành công về mặt thương mại. Một nhà đầu tư thiên thần với một mức độ thành công nào đó có thể được gọi là "super angel". Thuật ngữ cũng có thể mang ý nghĩa là một cố vấn được thuê ngoài bởi một nhóm các nhà đầu tư thiên thần để khảo sát tính khả thi và đưa ra những lời khuyên về các cơ hội của doanh nghiệp nhận được sự quan tâm của nhóm nhà đầu tư này. Các nhà đầu tư thiên thần là các cá nhân sở hữu số tài sản có giá trị lớn và họ sử dụng nguồn vốn của mình để cấp vôns khởi nghiệp cho cá doanh nghiệp tiềm năng tại điểm khởi đầu.. Thung lũng Silicon, nơi bắt nguồn của rất nhiều công ty công nghệ lớn nhất thế giới, là địa điểm tụ họp của rất nhiều nhà đầu tư thiên thần. Trong khi đa phần các nhà đầu tư thiên thần là những nhà đầu tư năng nổ và sát sao, có rất nhiều kinh nghiệm trong việc đầu tư, họ đôi khi vẫn cần dịch vụ của các cố vấn để phát triển thị trường.

Arc Elasticity / Độ co giãn hình cung

Đây là độ co giãn của một biến số đối với một biến số khác dựa trên 2 chỉ số được đưa vào so sánh. Nó được đưa vào sử dụng khi không có hàm số chung xác định mối quan hệ giữa 2 biến số. Độ co giãn hình cung cũng có thể được định nghĩa như là độ co giãn giữa 2 điểm trên 1 đường cong.  Độ co giãn theo giá của cầu đo lường mức độ thay đổi của lượng cầu về một hàng hóa khi giá cả của hàng hóa đó thay đổi. Độ co giãn hình cung tính toán tỷ lệ thay đổi giữa 2 điểm trong mối quan hệ giữa 2 mức giá và lượng cầu trung bình hơn là sự thay đổi từ điểm này đến điểm khác. Chỉ số này cho biết độ co giãn trung bình của đường cong hình cung giữa 2 điểm. Do vậy mà nó có thuật ngữ là "Độ co giãn hình cung".

Arbitration / Trọng tài

Một phiên điều trần không chính thức liên quan đến tranh chấp. Tranh chấp được đánh giá bởi một nhóm người (thường là ba) đã được lựa chọn bởi một hội đồng công bằng. Khi đã có quyết định, không có quy trình kháng cáo nào nữa. Chúng ta thường nghe thấy thuật ngữ này khi các đội thể thao chuyên nghiệp đang đàm phán những thỏa thuận với các vận động viên của họ. Thông thường, một bên có mục tiêu cao một cách phi thực tế và bên kia có mục tiêu thấp, và sự đồng thuận phải gặp nhau ở giữa các bên.

Arbitrageur / Nhà đầu cơ hưởng chênh lệch

Một loại nhà đầu tư cố gắng kiếm lợi nhuận từ sự thiếu hiệu qủa của thị trường dẫn đến giá cả bị sai lệch bằng cách thực hiện các giao dịch đồng thời bù trừ cho nhau và thu được lợi nhuận phi rủi ro. Ví dụ, một nhà đầu cơ hưởng chênh lệch sẽ tìm kiếm sự khác biệt về giá giữa các cổ phiếu được niêm yết trên nhiều sàn và mua cổ phiếu bị định giá thấp trên một sàn trong khi bán khống số lượng cổ phiếu được định giá quá cao trên một sàn khác, do đó thu được lợi nhuận phi rủi ro như giá trao đổi trên hai sàn hội tụ. Những nhà đầu cơ hưởng chênh lệch thường là những nhà giao dịch rất có kinh nghiệm vì cơ hội mua bán chênh lệch giá rất khó tìm và yêu cầu giao dịch tương đối nhanh. Những nhà đầu cơ hưởng chênh lệch cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của thị trường vốn, vì những nỗ lực của họ trong việc khai thác sự thiếu hiệu quả về giá giữ cho giá chính xác hơn.

Arbitrage-Free Valuation / Định giá hợp đồng tương lai

1. Đây là là một nghiệp vụ dựa trên lý thuyết nhằm xác định giá trị tương lai của các công cụ phái sinh hay hàng hóa thông qua mối quan hệ giữa giá giao ngay, lãi suất cho vay, chi phí giữ hàng, giá trị tiện ích, tỷ giá hối đoái, chi phí vận chuyển, vv. 2. Giá giao ngay lý thuyết của một công cụ phái sinh hay hàng hóa dựa trên lãi suất thị trường, chi phí giữ hàng, giá trị tiện ích, tỷ giá hối đoái, chi phí vận chuyển trong tương lai, vv. Trong tương lai nếu giá thực tế không bằng đúng giá lý thuyết, lợi nhuận kiếm được từ chênh lệch giá sẽ sinh ra. Các giao dịch bán hợp đồng tương lai cùng lúc với việc mua chứng khoán, phi bán hợp đồng tương lai và quay vòng Đô La đều là những ví dụ của các giao dịch được thực hiện bởi những người kinh doanh chênh lệch giá khi giá trên lý thuyết và thực tế không cùng trên một đường thẳng. Dĩ nhiên để chuẩn bị và thực hiện các giao dịch này là tương đối phức tạp. Đối với giao dịch mà thực sự không có rủi ro, các biến số phải được đo lường một cách chính xác và các chi phí giao dịch cần phải được tính toán một cách đầy đủ. Đa phần các thị trường đều có đủ năng lực để chấp nhận các giao dịch kinh doanh chênh lệch giá phi rủi ro.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55