Aspen Institute / Viện Aspen
Một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế có trụ sở tại Aspen, Colo., Washington, D.C.,và Wye River, Md.,có nhiệm vụ là "thúc đẩy giá trị -dựa trên khả năng lãnh đạo" và "cung cấp một địa điểm trung lập và cân bằng cho thảo luận và hành động về các vấn đề quan trọng." Nó tổ chức hội thảo, học bổng lãnh đạo trẻ ,các chương trình chính sách và các hội nghị và sự kiện công cộng để hỗ trợ các mục tiêu này. Viện Aspen thực hiện các công việc liên quan tới chính sách công trong nhiều lĩnh vực, bao gồm các vấn đề Trung Đông, an ninh Nội địa, sức khỏe, khoa học y sinh.. Nó cũng xuất bản các báo cáo và bán niên san. Hội đồng quản trị bao gồm các nhân vật nổi bật như Madeline Albright, Michael Eisner và David Koch. Viện Aspen có tài sản trị giá 153 triệu đô la trong năm 2008 và được tài trợ bởi các cá nhân, tập đoàn và viện.
Ask Size / Số lượng chào bán
Số lượng cổ phiếu mà một nhà tạo lập thị trường đang chào bán với mức giá yêu cầu. Số lượng chào bán càng lớn thì càng có nhiều cổ phiếu muốn được bán. Khi một người muốn mua một loại cổ phiếu, họ có thể chấp nhận số lượng chào bán tại mức giá đó. Nếu người mua muốn mua nhiều hơn số lượng chào bán hiện tại, họ có thể phải trả mức giá cao hơn một chút cho người bán kế tiếp. Những nhà tạo lập thị trường là những người muốn bán hoặc mua cổ phiếu. Một nhà tạo lập phải nêu rõ giá bán và số lượng chào bán đối với một loại cổ phiếu nhất định. Tương tự một nhà tạo lập thị trường phải nêu rõ giá mua và số lượng hỏi mua cố phiếu. Khi một giao dịch xuất hiện, nó sẽ được thực hiện bởi giá bán thấp nhất (đối với lệnh mua) hoặc giá mua cao nhất (đối với lệnh bán).
Ask / Giá bán
Giá một người bán sẵn sàng chấp nhận cho một loại cổ phiếu, còn được gọi là giá chào bán (offer price). Cùng với giá, giá bán thông thường cũng quy định số lượng cổ phiếu sẵn sàng được bán ở mức giá đó. Đôi khi được gọi là "the ask". Điều này hoàn toàn ngược với giá mua, là giá mà người mua sẵn sàng trả cho một loại cổ phiếu, và giá bán sẽ luôn luôn cao hơn giá mua. Các thuật ngữ "mua" và "bán" được sử dụng trong hầu hết các thị trường tài chính trên thế giới bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ và phái sinh. Một ví dụ về giá bán trong thị trường chứng khoán sẽ là $ 5,24 x 1000 có nghĩa là ai đó đang chào bán 1.000 cổ phiếu với giá 5,24 $.
Asian Productivity Organization - APO / Tổ chức Năng suất châu Á - APO
Là một sự liên hiệp của 20 quốc gia châu Á được thành lập vào năm 1961 để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội giữa các thành viên. Các thành viên của Tổ chức Năng suất châu Á bao gôm Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc, Fiji, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam . Vai trò của APO bao gồm nghiên cứu nhu cầu của các nước thành viên, thúc đẩy các liên minh kinh tế giữa các thành viên, xây dựng mối quan hệ giữa các quốc gia là thành viên và không là thành viên của tổ chức, phát triển các phương pháp giúp các nước thành viên tăng năng suất và khả năng cạnh tranh, tăng cường tổ chức năng suất quốc gia trong các nước thành viên, tạo điều kiện trao đổi thông tin giữa các nước thành viên. Nó cũng liên quan đến việc giúp đỡ các nước thành viên trở thành nền kinh tế tri thức, thúc đẩy phát triền xanh và giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ trở nên cạnh tranh hơn.
Asian Option / Quyền chọn châu Á
Một quyền chọn mà số tiền nhận được phụ thuộc vào giá trung bình của tài sản cơ bản trong một thời gian nhất định thay vì vào lúc đáo hạn. Còn được gọi là một quyền chọn trung bình. Đây là loại hợp đồng quyền chọn hấp dẫn vì nó có xu hướng ít tốn chi phí hơn quyền chọn Mỹ thông thường.Một quyền chọn Châu Á có thể bảo vệ nhà đầu tư khỏi biến động theo thị trường.
Asian Financial Crisis / Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á
Còn được gọi là "Sự lây nhiễm châu Á" (Asian Contagion), đây là do một loạt các đồng tiền mất giá và những sự kiện khác trải dài khắp thị trường châu Á bắt đầu từ mùa hè năm 1997. Thị trường đầu tiên chịu ảnh hưởng là ở Thái Lan khi chính phủ quyết định không kiềm chế đồng nội tệ đối với đồng đô la Mỹ. Sự mất giá tiền tệ lan truyền nhanh chóng trên khắp Nam Á, lần lượt gây sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, giảm doanh thu nhập khẩu và thậm chí là sự bất ổn của chính phủ. Khủng hoảng tài chính châu Á đã được bắt nguồn phần nào bởi sự can thiệp tài chính từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới. Tuy nhiên, thị trường sụt giảm cũng xảy ở Hoa Kỳ, châu Âu và Nga khi nền kinh tế châu Á đổ vỡ. Do cuộc khủng tài chính, nhiều quốc gia đã thông qua các biện pháp bảo hộ để đảm bảo sự ổn định của đồng tiền nội địa. Thường thì điều này dẫn đến việc mua nhiều trái phiếu kho bạc Mỹ, một hình thức được sử dụng như là cách đầu tư toàn cầu bởi nhiều quốc gia trên thế giới. Khủng hoảng châu Á dẫn đến một số cải cách tài chính và chính phủ cấp thiết ở các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia. Nó cũng là một trường hợp nghiên cứu có giá trị cho các nhà kinh tế khi cố gắng tìm hiểu nền kinh tế thị trường đan xen hiện nay, đặc biệt là khi nó liên quan đến giao dịch tiền tệ và quản lý tài khoản quốc gia.
Asian Development Bank / Ngân hàng phát triền châu Á
Được thành lập năm 1966, trụ sở chính tại Manila, Philippin. Ngân hàng phát triền châu Á có nhiệm vụ chính là thúc đẩy tăng trưởng và hợp tác giữa các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Ngân hàng đã chịu trách nhiệm thực hiện nhiều dự án lớn trong khu vực, huy động vốn thông qua thị trường trái phiếu quốc tế. Hai cổ đông lớn nhất của Ngân hàng phát triển Châu Á là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Mặc dù đa số thành viên của Ngân hàng đến từ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nhưng các nước phát triển cũng đóng góp một phần quan trọng không kém. Các ngân hàng phát triển khu vực đều có sự hợp tác với cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong các hoạt động của họ.
Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (Asian Development Bank) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (Asian Development Bank) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Asian Currency Unit - ACU / Đơn vị tiền tệ châu Á - ACU
Một đề xuất thành lập giỏ tiền tệ châu Á, tương tự như các đơn vị tiền tệ châu Âu, tiền thân của Euro. Ngân hàng Phát triển Châu Á chịu trách nhiệm tìm hiểu tính khả thi và cách thực hiện đề xuất này. Những trở ngại chính đối với việc thành lập đơn vị tiền tệ châu Á bao gồm sự khác biệt sâu sắc giữa các đơn vị tiền tệ quốc gia và cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2008. Đã có một số công cụ tài chính sử dụng giỏ tiền tệ châu Á, nhưng đấy chỉ dựa trên những xây dựng mang tính cá nhân và không được tài trợ hoặc sử dụng như một phương tiện trao đổi giữa các quốc gia. Các phương tiện đầu tư nổi tiếng bao gồm giao dịch trao đổi các ghi chú (ETNs) và ghi chú có cấu trúc đều có lợi nhuận dựa trên giỏ tiền tệ châu Á.
Asian Century / Thời đại châu Á
Thuật ngữ này nói đến vai trò chi phối châu Á trong thế kỷ 21 nhờ vào sức mạnh kinh tế ngày càng tăng và xu hướng nhân khẩu học toàn cầu. "Thời đại châu Á" là một chủ đề được nhiều người tin sau sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc và Ấn Độ từ những năm 1980, điều đã đưa 2 nước này vào hàng ngũ những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Mặc dù thuật ngữ này được tin rằng ra đời lần đầu vào những năm 1980, nó đã đạt được sự chú ý sau khi báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) được phát hành tháng 8 năm 2011. Theo báo cáo của ADB, nếu châu Á tiếp tục quỹ đạo tăng trưởng gần đây, năm 2050 thu nhập bình quân đầu người có thể tăng lên sáu lần trong sức mua tương đương (PPP) để đạt đến mức thu nhập hiện tại của châu Âu. Sự gia tăng này sẽ cho phép thêm 3 tỷ người châu Á tận hưởng đời sống của giới thượng lưu. Báo cáo của ADB cũng cho rằng châu Á đang trên đà tăng gấp đôi thị phần trong GDP toàn cầu lên 52% vào năm 2050, châu lục này sẽ lấy lại vị trí chi phối kinh tế của mình vào 300 năm trước đây.
Asian Bond Fund - ABF / Quỹ trái phiếu Á châu - ABF
Là một loại quỹ trái phiếu được thành lập bởi Hội đồng giám đốc điều hành Ngân hàng Trung ương khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EMEAP), cho phép thành viên của mình được đầu tư vào những trái phiếu được phát hành bởi cấp cao nhất trong khối kinh tế EMEAP. Được quản lý bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, buổi khai mạc Quỹ trái phiếu Á châu gồm 1 tỷ USD được phát hành đã diễn ra vào tháng 6 năm 2013. Mặc dù lần đầu tiên ABF được phát hành bằng đô la Mỹ, lần phát hành thứ 2 dưới dạng tiền tệ của các nước thành viên. Nhìn chung, mục tiêu chính của quỹ trái phiếu này là để nâng cao hơn nữa thị trường trái phiếu vốn kém phát triển của các nước thành viên EMEAP bằng cách tăng cường hiệu quả của các trung gian tài chính và thúc đẩy sự ổn định tài chính. Một lý do khác cho việc thành lập quỹ trái phiếu này là để cung cấp cho một số quốc gia châu Á, những nước đã dự trữ một lượng ngoại tệ khổng lồ, cơ hội để đầu tư vào các tài sản tài chính mà mang lại lợi ích sau này cho quốc gia.
Asia Ex-Japan / Khu vực Châu Á không bao gồm Nhật Bản
Khu vực của các quốc gia nằm ở Đông Nam Á, không bao gồm Nhật Bản. Những quốc gia này thường được coi là các nền kinh tế đang nổi lên và được các nhà đầu tư quan tâm tìm kiếm cơ hội đầu tư với cơ hội tăng trưởng cao. Nhiều quốc gia ở khu vực châu Á không bao gồm Nhật Bản được xem là "những con hổ của nền kinh tế" vì tốc độ tăng trưởng tiềm lực mạnh như Thái Lan, Trung Quốc và Hàn Quốc. Các quỹ tương hỗ ở khu vực châu Á không bao gồm Nhật Bản chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế đang nổi lên có khả năng tăng trưởng cao này. Nhật Bản là một nền kinh tế phát triển cao, đó là lý do tại sao nó bị loại trừ.
A-Share / Cổ phần loại A
Trong một tập hợp các quỹ tương hộ đa dạng, đây là loại thường được đặc trưng bởi cơ cấu chi phí được tải vào .Các đơn vị quỹ tương hỗ loại A thường sẽ có tải trước hoặc sau, để bù cho hoa hồng của nhân viên bán hàng. Không phải tất cả các quỹ công ty theo cấu trúc loại này; tuy nhiên, đây là phương pháp phân biệt các quỹ thường dùng. Thông thường, quỹ hạng A có tỷ lệ chi phí quản lý thấp hơn so với các quỹ khác trong cùng một hệ thống. Điều này là do sự tăng thêm vào chi phí mua lại.
Ascending Triangle / Mô hình giá Tam Giác Tăng
Là một mô hình giá tăng dần được sử dụng trong phân tích kỹ thuật có thể dễ dàng nhận ra bởi hình dạng hình tam giác rõ ràng được tạo bởi hai đường xu hướng.Trong một mô hình giá tam giác tăng dần ,một đường xu hướng được vẽ theo chiều ngang tại một mức độ trong quá khứ đã ngăn cản giá tăng lên, trong khi đường xu hướng thứ hai kết nối một loại các đáy tăng. Các nhà giao dịch sẽ gia nhập vào vị thế mua khi giá cổ phiếu vượt ngưỡng kháng cự trên cùng. Biểu đồ bên dưới là một ví dụ về mô hình giá tam giác tăng dần. Một mô hình giá tam giác tăng dần hầu hết được xem như là một mô hình tăng trưởng liên tục, có nghĩa là nó thường tìm thấy giữa một giai đoạn ổn định giá trong một xu hướng tăng. Một khi giá bứt phá xảy ra,người mua sẽ tích cực đẩy giá cổ phiếu tăng lên , thường với số lượng lớn. Mức giá dự kiến thường bằng giá mở cửa cộng với chiều cao của hình tam giác. Mô hình giá tăng dần là bản sao tăng của mô hình tam giác giảm dần.
Ascending Tops / Những đỉnh tăng dần
Điều này đề cập đến một loạt các đỉnh, đỉnh này cao hơn đỉnh trước trên mẫu biểu đồ của cổ phiếu. Biểu đồ dưới đây minh họa một loạt bốn đỉnh tăng dần. Đây được coi là một chỉ số lạc quan cho thị trường đi lên.
Ascending Channel / Kênh tăng dần
Kênh tăng dần là hành động giá bao gồm các đường nằm giữa các đường song song dốc lên. Mức cao hơn của các trục cao và mức cao hơn của các trục thấp là tín hiệu kỹ thuật của một xu hướng tăng. Đường xu hướng loại bỏ kênh giá bằng cách vẽ đường dưới trên mức thấp của trục và đường trên là đường kênh được vẽ trên đỉnh cao của trục.Giá không phải lúc nào cũng hoàn hảo nhưng các dòng kênh cho thấy các lĩnh vực hỗ trợ và kháng cự lại giá mục tiêu. Một mức cao cao hơn trên kênh đi lên có thể báo hiệu sự tiếp tục. Một mức thấp thấp hơn dưới mức thấp của kênh đi lên có thể báo hiệu sự thay đổi xu hướng. Kênh giá hiển thị xu hướng. Một nhà giao dịch có xu hướng giao dịch trong một kênh hoặc chuyển giao dịch từ hỗ trợ sang kháng cự và quay lại hỗ trợ. Trong một xu hướng tăng, bắt đầu với đường xu hướng thấp hơn được vẽ trên các mức thấp của trục và thêm một đường kênh song song để hoàn thành kết cấu.
ASC X9 / Ủy ban Tiêu chuẩn được công nhận X9
Một cơ quan do Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) thành lập để phát triển, thiết lập, duy trì và thúc đẩy các tiêu chuẩn cho ngành dịch vụ tài chính với mục tiêu tạo thuận lợi cho việc cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài chính. Phạm vi hoạt động cho X9 ban đầu được ANSI phê duyệt vào năm 1974, và nó đã được công nhận chính thức vào năm 1984. ASC X9 hoạt động theo các quy trình riêng cũng như các quy trình do ANSI quy định và phê duyệt. Nó vận hành nhiều tiểu ban kỹ thuật và hàng chục nhóm kỹ thuật để phát triển các tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật cho ngành tài chính. ASC X9 đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển và áp dụng các công nghệ mới được sử dụng trong ngành ngân hàng, bảo hiểm và môi giới.
Articles Of Partnership / Điều lệ hợp tác
Là tài liệu chính thức hóa thỏa thuận giữa các bên, những người muốn gia nhập một thỏa thuận kinh doanh có sự góp vốn và nhân công, trong đó tất cả các chủ sở hữu đều chịu trách nhiệm về công nợ và tài sản của công ty theo tỷ lệ thỏa thuận. Ngoài việc là một tài liệu pháp lý quan trọng, Điều lệ hợp tác có thể hữu ích trong việc ngăn ngừa và giải quyết bất đồng giữa các đối tác bởi nó làm rõ các điều khoản của việc hợp tác. Điều lệ hợp tác thường cung cấp tên của đối tác, trụ sở kinh doanh, mục đích của doanh nghiệp, thời hạn hợp tác, vốn góp ban đầu, tỉ lệ phần trăm lợi nhuận, cách thức chi trả lợi nhuận, cách thức quản lý quan hệ hợp tác, cách thức chi trả tiền lương (nếu có), làm thế nào và dưới những điều kiện nào thì quan hệ đối tác có thể được chuyển nhượng hoặc bán, và các thông tin cần thiết khác đối với mối quan hệ làm ăn.
Articles Of Organization / Điều lệ tổ chức
Văn bản pháp lý chính thức được sử dụng ở cấp nhà nước để thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn (LLC). Tài liệu này bao gồm tên và địa chỉ của doanh nghiệp, của các thành viên trong công ty, tên và địa chỉ của người quản lý / người tổ chức / giám đốc, tên cơ quan đăng ký doanh nghiệp và tuyên bố về mục đích của doanh nghiệp. Nhà nước cũng sẽ yêu cầu các doanh nghiệp phải trả một khoản lệ phí khi nộp điều lệ tổ chức. Thay vì phải tự viết điều lệ tổ chức, doanh nghiệp có thể lấy các mẫu có sẵn trên trang web của cơ quan chính phủ để điền. Mặc dù hầu hết các bản Điều lệ tổ chức yêu cầu những thông tin cơ bản giống nhau nhưng vẫn có một vài thay đổi nhỏ ở nhiều nơi khác nhau.
Articles Of Incorporation / Điều lệ thành lập doanh nghiệp
Là một tập hợp tài liệu nộp cho cơ quan chính phủ với mục đích công nhận sự thành lập của một doanh nghiệpĐồng nghĩa với "corporate charter" Điều lệ thành lập doanh nghiệp thường bao gồm những thông tin cần thiết như địa chỉ, sơ lược tiểu sử, sự phân bổ quyền hạn của công ty và số lượng cổ phiếu công ty phát hành. Một vài bang sẽ tạo nên môi trường thuận lợi hơn nhằm thu hút nhiều hơn số lượng công ty được thành lập.
Articles Of Association / Điều lệ công ty
Là một văn bản nêu rõ những quy định cho các hoạt động của công ty. Điều lệ công ty xác định mục đích của công ty và đưa ra cách những nhiệm vụ được thực hiện trong tổ chức, bao gồm cả quy trình bổ nhiệm giám đốc và cách xử lý các hồ sơ tài chính. Điều lệ công ty thường xác định cách thức công ty phát hành cổ phiếu, trả cổ tức, kiểm toán hồ sơ tài chính và quyền biểu quyết. Văn bản này có thể coi là "cẩm nang sử dụng" đối với công ty bởi nó vạch ra phương pháp để hoàn thành những nhiệm vụ hàng ngày của công ty.
Điều Lệ Công Ty (Articles Of Association) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Điều Lệ Công Ty (Articles Of Association) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.






