Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Asset Value Per Share / Giá trị tài sản trên số cổ phiếu

Tổng giá trị các khoản đầu tư của quỹ chia cho số lượng cổ phiếu lưu hành. Đây là loại giá trị tài sản trên cổ phiếu thường được gọi là "giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu" (net asset value per share) hoặc đơn giản là "giá trị tài sản ròng" (net asset value) hoặc "NAV." Giá trị tài sản trên mỗi cổ phiếu cũng có thể liên quan đến tổng tài sản của một công ty đại chúng trừ đi tổng nợ phải trả, chia cho số lượng cổ phiếu lưu hành của nó. Trong trường hợp này, giá trị tài sản trên mỗi cổ phiếu có thể được gọi là "giá trị tài sản ngắn hạn ròng trên mỗi cổ phiếu." (net current asset value per share) Đối với hầu hết các quỹ, giá trị tài sản trên mỗi cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu quỹ có thể được mua và bán. Đối với các công ty trên sàn chứng khoán, các nhà đầu tư có thể sử dụng giá trị tài sản trên mỗi cổ phiếu để so sánh giá cổ phiếu của công ty với giá trị tài sản cơ bản. Khác biệt đáng kể giữa hai con số này có thể chỉ ra thời điểm thích hợp để mua hoặc bán.

Asset Valuation Reserve - AVR / Định giá tài sản dự trữ - AVR

Là vốn được yêu cầu đặt sang bên để giúp công ty thanh toán những khoản nợ không ngờ tới. AVR phục vụ như là một bản sao lưu cho vốn chủ sở hữu và tổn thất mua chịu. Một khoản dự trữ sẽ thu lại lợi nhuận hoặc tạo ra các khoản lỗ được ghi lại trong tài khoản dự trữ. Thông thường các dự trữ tài sản bao gồm hai thành phần, một phần trích lập cho việc vỡ nợ và một phần cho vốn chủ sở hữu. Phần trích lập cho việc vỡ nợ dùng để bảo vệ tín dụng tương lai liên quan đến các khoản thua lỗ, và bao gồm các thỏa thuận đối với chứng khoán nợ của công ty, cổ phiếu ưu đãi, các chứng khoán thế chấp, trang trại, thế chấp thương mại và thế chấp dân sự. Ví dụ, Hiệp hội quốc gia của Ủy Ban Bảo Hiểm (NAIC) phải dự phòng một phần trách nhiệm tài chính để có thể giải quyết được các yêu cầu hoặc khiếu kiện trong bất động sản hoặc thế chấp bất động sản. Phần cho vốn chủ sở hữu có quy định đối với cổ phiếu phổ thông và bất động sản.

Asset Swapped Convertible Option Transaction - ASCOT / Giao dịch quyền chọn hoán đổi tài sản - ASCOT

Một quyền chọn trên một trái phiếu chuyển đổi được sử dụng để tách trái phiếu chuyển đổi đó thành hai thành phần: 1) trái phiếu và 2) quyền chọn để mua cổ phiếu. Khi trái phiếu bị loại bỏ tính năng chuyển đổi, người nắm giữ có một trái phiếu với lợi nhuận trên khoản nợ khá ổn định và một quyền chọn biến động, nhưng có khả năng rất giá trị. Càng ngày, ASCOT càng được mua bán nhiều bởi các quỹ tự bảo hiểm rủi ro sử dụng các chiến lược chênh lệch giá chuyển đổi để tăng đòn bẩy trong danh mục đầu tư của họ. Thông thường, một phần trái phiếu được chia thành các trái phiếu mệnh giá nhỏ và bán cho các nhà đầu tư cá nhân, trong khi phần quyền chọn được giữ lại nếu nhà đầu tư dự đoán giá cổ phiếu tăng.

Asset Swap / Tài sản hoán đổi

Cấu trúc tương tự như một thương vụ hoán đổi vanilla (plain vanilla swap), sự khác biệt chính là nền tảng của hợp đồng hoán đổi. Thay vì lãi suất cho vay cố định và thả nổi được hoán đổi, các khoản đầu tư cố định và thả nổi được trao đổi với nhau. Trong một thương vụ hoán đổi vanilla (plain vanilla swap), một LIBOR cố định được trao đổi với một LIBOR thả nổi. Trong một tài sản hoán đổi, khoản đầu tư cố định như trái phiếu với khoản thanh toán đảm bảo được hoán đổi cho một khoản đầu tư thả nổi ví dụ như một quỹ chỉ số.

Asset Substitution Problem / Vấn đề tài sản thay thế

Một vấn đề phát sinh khi một công ty trao đổi tài sản có rủi ro thấp với các khoản đầu tư rủi ro cao. Sự thay thế này chuyển giá trị từ những người nắm giữ trái phiếu của công ty sang các cổ đông Việc chuyển giao tài sản tạo ra nhiều rủi ro hơn cho chủ nợ mà không cung cấp cho họ những bồi thường bổ sung. Các dự án rủi ro cao có thể mang lại lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên nhiều rủi ro hơn được phát sinh bởi các công ty. Lợi nhuận gia tăng chỉ có thể có lợi cho các cổ đông, cũng như những người nắm giữ trái phiếu của công ty vì họ chỉ yêu cầu một khoản lợi tức cố định. Sự gia tăng mức độ rủi ro ảnh hưởng đến những người giữ trái phiếu khi công ty tăng khả năng vỡ nợ.

Asset Stripping / (Mua lại) Xé lẻ tài sản

Là quá trình mua một công ty định giá thấp với ý định bán đi tài sản của công ty đó để kiếm lợi nhuận. Tài sản cá nhân của công ty, chẳng hạn như thiết bị và vật tư của công ty đó, có thể có giá trị hơn tổng thể công ty do các yếu tố như quản lý kém hoặc điều kiện kinh tế kém. Ví dụ, hãy tưởng tượng rằng một công ty có ba bộ phận riêng biệt: vận tải đường bộ, câu lạc bộ golf và quần áo. Nếu giá trị của công ty hiện nay đang là 100 triệu $ nhưng một công ty khác tin rằng họ có thể bán mỗi một trong ba bộ phận trên cho các công ty khác với  50 triệu $. Công ty này sau đó sẽ mua lại công ty gồm ba bộ phận nói trên với giá 100 triệu USD và bán lẻ mỗi bộ phận để kiếm lợi nhuận tiềm năng là 50 triệu USD.

Asset Stripper / Người (mua lại) xé lẻ tài sản để bán

Một cá nhân hoặc công ty mua lại một công ty khác với ý định chia công ty đó thành các phần nhỏ và bán để kiếm lời. Một "asset stripper" sẽ xác định công ty có giá trị hơn khi bán riêng từng phần hoặc bán cả công ty. Thông thường "asset stripper" bán một số tài sản ngay lập tức sau đó sẽ bán các bộ phận chức năng của công ty sau. Đây là một người mua doanh nghiệp quyết định rằng bán từng phần của doanh nghiệp sẽ thu lợi nhiều hơn là thông qua hoạt động kinh doanh của nó. Ví dụ một "asset stripper" có thể mua một công ty pin với giá 100 triệu USD, chia ra và bán bộ phận R & D với giá 30 triệu USD, sau đó bán phần còn lại của công ty với giá 85 triệu USD, thu lợi nhuận 15 triệu USD. "asset stripper" cũng có thể chỉ bán một phần của doanh nghiệp để thanh toán các khoản nợ xảy ra khi mua công ty.

Asset Specificity / Tính đặc thù của tài sản

Việc sử dụng hàng hóa sản xuất cho một mục đích giới hạn. Tính đặc thù của tài sản áp dụng cho hàng hóa được thiết kế để có một chức năng duy nhất hoặc người lao động được đào tạo để thực hiện một nhiệm vụ duy nhất và có hạn chế về sử dụng do giới hạn cố hữu đối với các mục đích sử dụng khác. Một tài sản càng đặc thù, giá trị bán lại tiềm năng hoặc khả năng điều phối lại càng thấp. Các công ty có thể miễn cưỡng đầu tư vào các tài sản đó khi nền kinh tế đi xuống hoặc không chắc chắn. Khi một công ty mua một tài sản có tính chuyên biệt cao, việc mua hàng này được xem như là chi phí chìm, vì tài sản đó nhiều khả năng sẽ không thể bán được hoặc sử dụng được cho các mục đích khác ngoài mục đích mua ban đầu. Việc sử dụng hàng hóa sản xuất cho một mục đích giới hạn. Tính đặc thù của tài sản áp dụng cho hàng hóa được thiết kế để có một chức năng duy nhất, hoặc người lao động được đào tạo để thực hiện một nhiệm vụ duy nhất và có hạn chế về sử dụng do giới hạn cố hữu đối với các mục đích sử dụng khác. Một tài sản càng đặc thù, giá trị bán lại tiềm năng hoặc khả năng điều phối lại càng thấp. Các công ty có thể miễn cưỡng đầu tư vào các tài sản đó khi nền kinh tế đi xuống hoặc không chắc chắn. Khi một công ty mua một tài sản có tính chuyên biệt cao, việc mua hàng này được xem như là chi phí chìm, vì tài sản đó nhiều khả năng sẽ không thể bán được hoặc sử dụng được cho các mục đích khác ngoài mục đích mua ban đầu.Ví dụ: một tài sản có thể đang được đặt tại một địa điểm cụ thể và không thể hoặc rất tốn kém để di chuyển; dạng đặc thù của tài sản này được gọi là "đặc thù về vị trí." Nhà máy sản xuất là ví dụ về một tài sản có tính chuyên biệt cao, bởi vì rất khó hoặc không thể di dời và sửa đổi cho mục đích khác. Phần mềm máy tính theo đơn đặt hàng cũng là một ví dụ về một tài sản có tính chuyên biệt cao. Thông thường, các ngành công nghiệp dịch vụ có tính đặc thù của tài sản thấp hơn trong khi các ngành dầu khí, hàng không và sản xuất có tính đặc thù của tài sản cao nhất.Chủ nghĩa cơ hội là một vấn đề khác có thể xảy ra với các tài sản có tính chuyên biệt cao. Nếu một công ty phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất cho một trong các bộ phận thiết bị của mình, nhà cung cấp đó có thể lợi dụng cơ hội để tính cho công ty một mức giá rất cao đối với mặt hàng đó. Đồng thời, công ty có thể cố gắng trả giá thấp cho nhà cung cấp khi biết rằng nhà cung cấp đó không còn thị trường nào khác cho mặt hàng đó. Hợp đồng được viết và đàm phán tốt có thể giải quyết vấn đề tiềm năng này.

Asset Size / Quy mô tài sản

Là tổng giá trị thị trường của chứng khoán trong danh mục đầu tư của một quỹ tương hỗ. Tổng tài sản hoặc tổng tài sản ròng cũng được sử dụng để mô tả quy mô quỹ. Khi nói đến quy mô của một quỹ tương hỗ thì lớn hơn không có nghĩa là tốt hơn. Chìa khóa để quản lý quỹ hiệu quả, đặc biệt là quản lý tiền mặt, nằm ở sự phù hợp giữa quy mô tài sản của quỹ và phong cách đầu tư của nó. Cái gọi là "asset bloat" không phải là vấn đề đối với trái phiếu, chỉ số và các quỹ thị trường tiền tệ, thường hoạt động trong phân khúc thị trường lớn có tính thanh khoan cao và ít bị ảnh hưởng bởi các giao dịch lớn. Với các quỹ này, lớn hơn là thực sự tốt hơn bởi vì chi phí có thể được chia mỏng ra trên tống số tài sản đầu tư. Tuy nhiên, nếu một quỹ đầu tư chứng khoán có quá nhiều tiền mặt, các nhà quản lý đầu tư có thể cảm thấy khó khăn để đầu tư nó một cách hiệu quả. Khi tài sản của quỹ tăng lên, triển vọng về số lượng cổ phiếu mới thích hợp bị giảm đi cũng như chi phí giao dịch tăng, làm cho việc duy trì phong cách đầu tư của quỹ trở nên khó khăn.

Asset Sales / Bán tài sản

Việc bán các khoản phải thu của ngân hàng cho bên thứ ba. Bán tài sản thường được thực hiện thông qua việc bán các khoản vay cá nhân hoặc nhóm toàn bộ các khoản vay. Bán tài sản là khoản bán không truy đòi đôi khi cũng được thực hiện thông qua chứng khoán hóa các khoản phải thu của ngân hàng. Những loại giao dịch này được sử dụng để giảm thiểu rủi ro liên quan đến tài sản, thu về dòng tiền tự do và cho các yêu cầu thanh lý, ngoài một số lý do khác. Bán tài sản là một giao dịch phức tạp từ góc độ kế toán. Việc bán tài sản được phân loại như là việc người bán cho người mua quyền kiểm soát tài sản sau khi thanh toán được thực hiện. Không thể tiếp tục truy đòi người mua; đặc điểm này sẽ khiến giao dịch được xem như là đầu tư.

Asset Redeployment / Tái điều phối tài sản

Sự di chuyển chiến lược tài sản từ chỗ có ít giá trị sử dụng hơn hoặc có lợi nhuận thấp hơn sang có giá trị sử dụng cao hơn hoặc có lợi hơn. Tái điều phối tài sản lấy vốn nhàn rỗi hoặc vốn sử dụng không đúng mức, và thay đổi cách sử dụng của nó để tăng lợi tức đầu tư (ROI) hoặc lợi nhuận. Sử dụng chiến lược tái điều phối tài sản hợp lý sẽ cho phép công ty đạt được kết quả tốt hơn với cùng mức chi phí. Khi tài sản là hàng hóa, chẳng hạn như thiết bị hoặc máy móc, việc tái điều phối có thể là cách để tiết kiệm tiền thay cho việc mua một hàng hóa thay thế hoàn toàn mới. Một thay thế cho việc tái điều phối tài sản là bán tài sản (được gọi là "xử lý tài sản" (asset disposal)). Số tiền thu được từ việc bán tài sản làm tăng số dư tiền mặt của công ty. Tài sản mà một công ty cần điều phối lại hoặc bán được gọi là "tài sản thặng dư" (surplus assets).

Asset Rationalization / Hợp lí hóa tài sản

Là việc tổ chức lại các tài sản của công ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng thu nhập ròng. Hợp lý hóa tài sản có thể liên quan đến một loạt các hoạt động, bao gồm bán hàng hoặc tái phân phối một số tài sản nhất định, đóng cửa một số cơ sở vật chất hoặc mở rộng những nơi khác và sắp xếp hợp lý hóa sản xuất hoặc các hoạt động khác. Trong phần lớn các trường hợp, hợp lý hóa tài sản có thể dẫn đến việc hàng trăm người sẽ bị mất việc. Những người phản đối hợp lý hóa tài sản cho rằng chiến lược này chỉ đạt được lợi nhuận kinh doanh ngắn hạn mà làm mất đi nguồn vốn nhân lực, bởi vì khi hàng loạt nhân viên bị mất việc sẽ tạo nên cảm giác thiếu tin tưởng và dẫn đến năng suất thấp của những nhân viên còn lại trong tổ chức. Tuy nhiên trong thời buổi kinh tế khó khăn, các công ty có ít sự lựa chọn ngoài việc tiếp tục trên con đường hợp lý hóa tài sản để tiếp tục cạnh tranh trong thị trường toàn cầu.

Asset Quality Rating / Điểm chất lượng tài sản

Là sự xem xét hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của một loại tài sản cụ thể. Những tài sản này thường yêu cầu thanh toán lãi suất - ví dụ như các khoản nợ và các danh mục đầu tư. Việc quản lý hiệu quả trong kiểm soát và giám soát rủi ro tín dụng cũng có tác động đến điểm tín dụng. Có nhiều yếu tố được cân nhắc khi tính điểm chất lượng tài sản. Ví dụ, một danh mục đầu tư có đa dạng hay không, những quy định hoặc luật nào được áp dụng để hạn chế rủi ro tín dụng và hoạt động kinh doanh hiệu quả ra sao phải được cân nhắc kĩ. Thông thường, điểm một sao chỉ ra rằng chất lượng tài sản tốt và rủi ro tín dụng thấp, trong khi điểm năm sao nghĩa là có nhiều vấn đề lớn về chất lượng tài sản và nhiều khó khăn cần được giải quyết.

Asset Protection Trust / Quỹ tín thác bảo vệ tài sản

Một phương tiện để giữ tài sản cá nhân nhằm bảo vệ chúng khỏi các chủ nợ. Quỹ tín thác bảo vệ tài sản cho phép, nếu chủ nợ khó chiếm đoạt tài sản, thì họ phải giải quyết với con nợ theo các điều khoản có lợi thay vì tham gia vào vụ kiện tốn kém. Phương pháp này có các yêu cầu pháp lý phức tạp, chẳng hạn như không thể hủy ngang và có một điều khoản cấm người thụ hưởng sang nhượng tài sản cho chủ nợ. Một quỹ tín thác bảo vệ tài sản được phép cung cấp cho các phân phối không thường xuyên, nhưng các phân phối đó chỉ được xảy ra theo quyết định của người được tín thác độc lập. Chỉ một vài tiểu bang tại Hoa Kỳ cho phép quỹ tín thác bảo vệ tài sản hoạt động. Tính đến năm 2012, chúng bao gồm Alaska, Delaware, Rhode Island, Nevada và South Dakota. Tuy nhiên, người ta có thể thiết lập một quỹ tín thác bảo vệ tài sản ở các tiểu bang này mà không cần cư trú ở đó. Các trung tâm tài chính trên biển như Quần đảo Cook và Nevis cũng cho phép các cá nhân thiết lập quỹ tín thác bảo vệ tài sản. Các tài liệu dùng cho quản lý tín thác, cùng với một số hoặc tất cả tài sản tín thác, phải được đặt tại cùng khu vực pháp lý nơi tín thác được thiết lập.

Asset Performance / Hiệu suất tài sản

Khả năng của doanh nghiệp để có nguồn lực sản xuất và quản lý chúng trong hoạt động sản xuất để thu lại lợi nhuận sau đó. Hiệu suất tài sản thường được sử dụng để so sánh hiệu suất của một công ty theo thời gian hoặc đối với đối thủ cạnh tranh. Có hiệu suất tài sản cao là một trong những tiêu chí để xác định liệu rằng công ty đó có phải một khoản đầu tư tốt hay không. Các nhà phân tích sử dụng các số liệu như chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản và tỷ lệ tài sản cố định quay vòng để so sánh và đánh giá hiệu suất tài sản hàng năm của công ty. Thông thường, khi hiệu suất tài sản nâng cao có nghĩa là một công ty  có thể kiếm được lợi nhuận cao hơn khi sử dụng cùng một lượng tài sản hoặc đủ hiệu quả để tạo ra cùng  lợi nhuận từ một lượng tài sản ít hơn

Asset Mix / Cơ cấu danh mục tài sản

Phân loại của tất cả tài sản trong danh mục đầu tư hoặc quỹ. Tài sản được phân vào thành một trong những loại tài sản cốt lõi: cổ phiếu (chứng khoán), trái phiếu (thu nhập cố định), tiền mặt và bất động sản. Những mục khác đôi khi được coi là tài sản như là hàng hóa, đầu tư quốc tế, các quỹ đầu tư và lợi ích hợp tác giơi hạn. Cơ cấu danh mục tài sản thường được thể hiện như một tập hợp tỷ lệ phần trăm mỗi loại tài sản góp phần vào tổng giá trị thị trường của danh mục đầu tư. Nó là một yếu tố quyết định quan trọng quyết định mức rủi ro / lợi nhuận của quỹ, do đó phần lớn là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động lâu dài. Nhà đầu tư có thể phỏng đoán cơ cấu danh mục tài sản của các quỹ theo từng chiến lược - chẳng hạn như các quỹ tăng trưởng vốn , quỹ "cân bằng", các quỹ thu nhập và quỹ vòng đời - là tương tự như nhau. Nhà quản lý danh mục đầu tư sử dụng mức trung bình trước đó cho lợi nhuận của các loại tài sản khác nhau để xác định cấu trúc các loại tài sản trong quỹ, cho dù sự kết hợp có thể gồm một tỷ lệ rất cao của trái phiếu (các nhà đầu tư tìm kiếm thu nhập, người về hưu) hoặc đầu tư chủ yếu trong cổ phiếu vốn hóa nhỏ (quỹ quỹ tăng trưởng vốn/ quỹ đầu tư tăng trưởng rộng)Điều này cũng áp dụng đối với các nhà đầu tư cá nhân - sự kết hợp tài sản hợp lý phụ thuộc vào hoàn cảnh đặc thù của nhà đầu tư, bao gồm cả khả năng chịu rủi ro, mong muốn thu nhập, thời gian , Thuế và nhu cầu thanh khoản.

Asset Management Company - AMC / Công ty quản lý tài sản - AMC

Là loại công ty đầu tư vốn  của khách hàng vào các loại chứng khoán phù hợp với các mục tiêu tài chính của mình. Các công ty quản lý tài sản cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều sự đa dạng hóa và sự lựa chọn đầu tư hơn khi họ tự đứng ra đầu tư. Quỹ tương hỗ, quỹ đầu tư và kế hoạch lương hưu đều được thực hiện bởi các công ty quản lý tài sản. Các công ty này kiếm được thu nhập bằng cách thu phí dịch vụ từ khách hàng của họ. Các công ty quản lý tài sản cung cấp cho khách hàng của họ sự đa dạng hóa bởi vì họ có nguồn tài nguyên lớn hơn so với các nhà đầu tư cá nhân. Gộp các tài sản với nhau và trả lợi nhuận theo tỷ lệ cho phép các nhà đầu tư tránh các yêu cầu đầu tư tối thiểu thường được yêu cầu khi mua chứng khoán của chính mình, cũng như khả năng đầu tư vào một tập hợp cổ phiếu lớn hơn với vốn đầu tư nhỏ hơn.

Asset Ledger / Sổ (cái) theo dõi tài sản cố định

Một phần của các khoản ghi chép kế toán của công ty ghi lại các định khoản chỉ liên quan đến bên tài sản trong bảng cân đối kế toán. Sổ (cái) theo dõi tài sản cố định sẽ có nhiều tài khoản phụ, và công ty càng lớn thì Sổ (cái) theo dõi tài sản cố định càng nhiều và càng phức tạp. Các tài khoản phụ vào Sổ (cái) theo dõi tài sản cố định có thể được mở rộng. Tài sản cố định, ví dụ, có thể được chia thành vật tư, thiết bị, tài sản có thể chuyển thành chi phí, v.v.Sổ (cái) theo dõi tài sản cố định là một trong những tài khoản phụ nằm trong sổ cái kế toán chung của một công ty. Sổ cái chung được sử dụng để xây dựng báo cáo tài chính và thường được coi là "chứng từ kế toán chính thức" của công ty.

Asset Financing / Tài trợ tài sản

Sử dụng tài sản trong bảng cân đối kế toán (chẳng hạn như các khoản phải thu, các khoản đầu tư ngắn hạn hoặc hàng tồn kho) để có được một khoản vay hoặc đi vay tiền - người đi vay cung cấp lợi tức một loại tài sản trong các loại tài sản của mình cho bên cho vay. Điều này khác với phương pháp tài trợ truyền thống, chẳng hạn như phát hành trái phiếu hoặc chứng khoán vốn, các công ty chỉ đơn giản thế chấp một số tài sản của mình để đổi lấy một khoản vay bằng tiền mặt nhanh chóng. Đây là loại tài trợ thường được sử dụng cho vay ngắn hạn hoặc vốn lưu động. Công ty sử dụng tài trợ tài sản thường thế chấp các khoản phải thu, nhưng việc sử dụng hàng tồn kho đang trở nên thông dụng hơn.

Asset Earning Power - AEP / Khả năng phát sinh thu nhập của tài sản - AEP

Các khoản thu nhập được tạo ra bởi một doanh nghiệp dựa trên nguồn tài sản của doanh nghiệp đó. Khả năng phát sinh thu nhập của tài sản là một phương pháp chung trong tài chính doanh nghiệp, được sử dụng để xác định mức độ hiệu quả của công ty trong việc tạo ra thu nhập từ cơ sở tài sản của công ty đó. Khả năng phát sinh thu nhập của tài sản được tính như sau: Khả năng phát sinh thu nhập của tài sản = Lợi nhuận trước thuế (EBT) / Tổng tài sản. Thông thường, phần trăm thu nhập tài sản càng cao so với các doanh nghiệp khác cùng ngành thì mức độ hiểu quả của việc tạo ra dòng tiền từ cơ sở tài sản của công ty đó càng tốt. Ví dụ, một công ty báo cáo lợi nhuận trước thuế 75 triệu USD, trong khi tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán là 25 triệu USD, sẽ có một tỷ số thu nhập tài sản là 3,0 ( lần).

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55