Assignment Of Trade / Chuyển nhượng thương mại
Một giao dịch được sử dụng chủ yếu trong thị trường chứng khoán dựa vào thế chấp (mortgage-backed securities - MBS) được công bố (to be announced - TBA), trong đó nghĩa vụ thực hiện giao dịch kỳ hạn hiện tại được chuyển nhượng bởi một trong các đối tác cho bên thứ ba. Chuyển nhượng thương mại thường được sử dụng để tránh phải giao chứng khoán hoặc nhận giao chứng khoán từ một giao dịch được công bố (TBA). Quá trình này đã được chuẩn hóa bởi Hiệp hội thị trường tài chính và công nghiệp chứng khoán (Securities Industry and Financial Markets Association - SIFMA). Người tạo thế chấp sử dụng chuyển nhượng thương mại để tạo điều kiện thuận lợi cho việc định giá và mua toàn bộ khoản vay của bên thứ ba mà giao dịch TBA được chuyển nhượng, với thỏa thuận rằng bên thứ ba sau đó sẽ giao chứng khoán dựa vào thế chấp (MBS) vào giao dịch TBA ban đầu, được thực hiện bởi người tạo thế chấp như một sự đảm bảo. Nói cách khác, chuyển nhượng thương mại cho phép người tạo thế chấp nới lỏng vị thế phòng hộ bằng cách chuyển nhượng cho bên thứ ba và đồng thời bán một khoản vay tương đương cho bên thứ ba đó. Giá của toàn bộ các khoản vay được bán cho bên thứ ba được thiết lập bằng giá của giao dịch được chuyển nhượng.
At-Or-Better / Lệnh ngang bằng hoặc cao hơn
Một điều kiện khớp lệnh yêu cầu nhà môi giới chỉ tiến hành giao dịch ở một mức giá cụ thể hoặc cao hơn. Không như lệnh thị trường, một lệnh ngang bằng hoặc cao hơn sẽ hết hạn nếu mức giá mục tiêu không đạt được hoặc bị vượt quá. Tỷ lệ các lệnh giao dịch ngang bằng hoặc cao hơn trên thị trường so với tổng khổi lượng giao dịch phụ thuộc vào tính thanh khoản của nền kinh tế. Nếu giá một cổ phần của cổ phiếu giảm, nhà đầu tư ít khả năng có thể tiến hành giao dịch ngang bằng hoặc cao hơn bởi người mua thường đợi để mua được ở mức giá thấp hơn. Ví dụ, nếu một cổ phần được giao dịch ở mức $10, nhà đầu tư có thể đặt một lệnh ngang bằng hoặc cao hơn để bán cổ phiếu đó với giá $10.10. Bất cứ khi nào giá cổ phiếu bằng hoặc cao hơn $10.10 thì nó sẽ được bán ra.
Atmospherics / Không gian bán hàng
Các đặc tính có thể kiểm soát của một không gian bán lẻ nhằm lôi kéo khách vào cửa hàng, và được thiết kế để tác động tới tâm trạng của khách hàng nhằm tăng tỷ lệ mua hàng. Không gian bán hàng bao gồm bố cục của cửa hàng, mức độ tạp âm, nhiệt độ, ánh sáng và trang trí. Chúng được thiết kế để làm cửa hàng nổi bật hơn một cách tích cực so với các đối thủ. Nó là một phần trong toàn bộ thương hiệu và hình ảnh của công ty. Tất cả các cửa hàng bán lẻ đều có không gian bán hàng, cho dù chúng không dễ để nhận biết. Ví dụ, một phòng bán vé lớn có thể được biết đến với hệ thống chiếu sáng tốt trên lối đi và biển chỉ dẫn màu đỏ tươi. Một ví dụ khác là khi nhà bán lẻ quần áo nhắm vào giới trẻ bằng cách sử dụng ánh sáng tương phản và nhạc lớn. Hạn chế của việc lợi dụng quá mức không gian bán hàng là chúng có thể làm mất đi những khách hàng thích một môi trường có sắc thái mềm mại hơn.
Atlas Options / Quyền chọn theo mô hình Atlas
Một quyền chọn vốn không quá phổ biến thuộc họ các quyền chọn dựa trên mô hình các dãy núi. Quyền chọn theo mô hình Atlas thu hồi vốn dựa trên hiệu quả hoạt động của các chứng khoán cơ sở, chính là cổ phiếu. Vào thời điểm đáo hạn, một số cổ phiếu hoạt động tốt và kém hiệu quả nhất sẽ bị loại bỏ khỏi nhóm chứng khoán cơ sở này, và lúc này lợi tức thu hồi sẽ được tính toán dựa trên các chứng khoán còn lại. Quyền chọn theo mô hình Atlas thường chỉ được giao dịch bởi các nhà đầu tư tổ chức lão làng, những người có nguồn lực và chấp nhận rủi ro đối với loại chứng khoán cực kỳ phức tạp này. Khi thời gian đáo hạn tới gần, giá hoặc giá trị của quyền chọn Atlas có thể trở nên rõ ràng hơn nhiều bởi những người thực hiện quyền chọn ở đỉnh và đáy tách biệt hẳn chúng ra khỏi phần còn lại của nhóm. Những quyền chọn này được giới thiệu lần đầu vào cuối những năm 1990s, và xây dựng dựa trên quyền chọn vốn theo kiểu Châu Âu. Phần lớn chúng được lập dưới dạng quyền chọn mua, với thời gian đáo hạn dài.
Atlantic Spread / Mua bán chênh lệch kiểu Atlantic
Một chiến lược giao dịch quyền chọn về việc mua cả hai loại quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểu Châu Âu, nhằm giữ cả hai vị thế. Mỗi quyền chọn được xem như là một "chân" của chênh lệch (spread); các giá trị Delta, Vega và Theta có thể được dùng để đánh giá rủi ro của Spread này. Tên gọi "Mua bán chênh lệch kiểu Atlantic" được dựa trên vùng biển ngăn cách Hoa Kỳ và Châu Âu. Tuy nhiên, thuật ngữ "quyền chọn kiểu Mỹ" và "quyền chọn kiểu Châu Âu" không thực sự liên quan đến đất nước mà chúng được đặt tên theo. Quyền chọn kiểu Mỹ đơn giản là quyền chọn có thể thực hiện bất cứ lúc nào, trong khi quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào lúc đáo hạn. Quyền chọn Châu Âu thường được đánh giá là có giá trị thấp hơn so với quyền chọn kiểu Mỹ vì nó kém linh hoạt. Một quyền chọn có thể rất giá trị nếu được thực hiện sớm, tùy thuộc vào diễn biến thị trường, và quyền chọn kiểu Mỹ cho phép khả năng đó.
Athens Stock Exchange - ATHEX / Sàn giao dịch chứng khoán Athens - ATHEX
Sàn giao dịch chứng khoán Athens hay ASE hoặc ATHEX là một sàn giao dịch chứng khoán ở TP Athens, Hy Lạp. Sàn giao dịch này bắt đầu đi vào hoạt động vào cuối thập kỷ 1870. Cho đến năm 2007 thì sàn giao dịch được đặt tại Psiris, Athens. Con đường mà nó nằm trên, phố Sofocleous, tương đương như là một sở giao dịch giống như là Phố Wall ở New York. Bắt đầu từ năm 2010, sàn giao dịch chứng khoán Athens trở thành một chi nhánh của Sở giao dịch Hellenic S.A, một công ty đại chúng mà các danh sách cổ phiếu của nó nằm tại ATHEX. Năm 1999, các công cụ phái sinh bắt đầu được chào bán tại sở giao dịch và vào năm 2002 sàn giao dịch chứng khoán Athens và sàn giao dịch phái sinh Athens đã sát nhập để trở thành ATHEX.
ATA Carnet / Hải quan triển khai hệ thống sổ tạm quản ATA Carnet
Đây là một chứng từ hải quan quốc tế cho phép những người sử dụng được miễn các loại thuế nhập khẩu và loại bỏ các nghiệp vụ thông quan lên những hàng hóa nhập khẩu tạm thời vào các quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia công ước tạm quản một cách nhanh chóng. Ví dụ, công ước này vô cùng hữu dụng cho những người quản lý tour trình diễn âm nhạc muốn mang các dụng cụ và đồ đạc liên quan đến show trình diễn đến một quốc gia khác trong vài ngày hoặc vài tuần. Hầu hết tất cả loại hàng hóa có thể được nhập khẩu bằng ATA Carnet ngoài trừ các hàng hóa có thể tiêu thụ, dùng một lần hay bưu kiện. ATA Carnet cũng có tên gọi khác là hộ chiếu hải quan quốc tế cho hàng hóa bởi lẽ nó chỉ có hiệu lực đối với những hàng hóa và thiệt bị bộ phận mà được đưa ra ngoài nước trong vòng 1 năm. Công ước tạm quản này buộc áp dụng cho 3 loại hàng hóa chính: Những vật dụng, đồ đạc liên quan đến nghề nghiệp đem bán tại các buổi triển lãm, triển lãm thương mại và hàng mẫu đem bán.
At The Money / Vùng hòa vốn
Một hợp đồng quyền chọn rơi vào vùng hòa vốn nếu giá thực thi của hợp đồng quyền chọn bằng với giá thị trường của chứng khoán cơ sở. Ví dụ, nếu một cổ phiếu XYZ được giao dịch ở mức 75, thì con số 75 này chính là điểm hòa vốn. Bạn có thể suy nghĩ bản chất của cái này như là một điểm hòa vốn (khi mà bạn không tính đến các chi phí giao dịch).
At The Market / Theo giá thị trường
Đây là một lệnh mua hoặc bán một hợp đồng giao dịch tương lai tại mức giá tốt nhất có thể, dựa trên sự gia nhập để thực hiện nghĩa vụ của các giao dịch. Điều này có tính đồng nhất với một trật tự thị trường trong thị trường chứng khoán. Khi một nhà đầu tư yêu cầu khớp lệnh theo giá thị trường, người đó sẵn sàng bỏ qua sự phân biệt giá để nhanh chóng tham gia hoặc rời bỏ một hợp đồng giao dịch tương lai.
At Sight / Thư tín dụng trả ngay
Đây là một loại thư tín dụng trong đó bên nhận hàng hóa hoặc dịch vụ (bên mua) phải thanh toán ngay khi xuất trình các chứng từ phù hợp với điều khoản quy định trong hối phiếu. Thư tín dụng trả ngay còn được biết đến như là "hối phiếu thanh toán ngay" (sight draft) hay "hối phiếu trả tiền ngay" (sight bill). Thuật ngữ này được sử dụng thường xuyên nhất trong các hợp đồng hợp pháp để mô tả thời gian mà việc thanh toán sẽ được thực hiện. Một người bán có thể đưa ra điều khoản thanh toán ngay trong hợp đồng để yêu cầu thanh toán toàn bộ ngay. Người bán có thể ép người mua làm điều này nếu người mua đã từng thanh toán quá hạn trong quá khứ, hoặc người bán này bị cho là có rủi ro cao không trả được đúng hạn.
At Risk Rules / Nguyên tắc rủi ro
Đây là những nguyên tắc được đưa ra trong luật thuế doanh nghiệp nhằm giới hạn số tiền thua lỗ mà một nhà đầu tư (thường là một doanh nghiệp liên doanh) có thể khai. Chỉ có số tiền thực sự rủi ro mới có thể được khấu trừ. Ví dụ, nếu bạn có một khoản đầu tư 20,000 Đô đang gặp phải rủi ro mà tạo ra khoản lỗ 5000 Đô (về thuế) một năm thì khoản lỗ chỉ có thể được sử dụng trong 4 năm (hoặc cho đến khi các nhà đầu tư bỏ thêm tiền vào).
At Best / Điều kiện tốt nhất
Một lệnh tiến hành giao dịch ở mức giá hấp dẫn và nhanh nhất có thể. Những giao dịch trong điều kiện tốt nhất có thể được áp dụng cho cổ phiếu và tiền tệ nơi mà người giao dịch muốn có được mức giá hoặc tỷ lệ tương ứng tốt nhất. Loại lệnh này thông thường được thực hiện nhanh hơn so với lệnh có điều kiện, ví dụ như lệnh hạn định. Do mức giá cuối cùng mà người bán nhận được dưới dạng cổ phiếu sẽ tùy thuộc vào giá thị trường hiện tại nên nhà giao dịch có thể sẽ phải trả nhiều tiền hơn (cho một lệnh mua) hoặc nhận ít hơn (cho một lệnh bán) so với dự kiến.
Asymmetrical Distribution / Phân phối bất đối xứng
Trường hợp giá trị của các biến xuất hiện với tần suất bất đối xứng và giá trị trung bình, trung vị và modum xuất hiện tại các điểm khác nhau. Một hàm số được cho là phân phối bất đối xứng khi nó biểu hiện sự bất đối xứng. Ngược lại, một hàm số được cho là phân phối chuẩn hay phân phối đều khi được vẽ trên biểu đồ sẽ có hình dạng như một đường cong hình chuông (bell curve) và 2 đường cong ở 2 bên trục đối xứng của đồ thị đối xứng nhau. Dữ liệu về hoàn vốn đầu tư thường là phân phối bất đối xứng. Điều này xảy ra bởi vì hiệu suất đầu tư thường sai lệch do các giai đoạn đầu tư có hiệu suất cao và thấp bất thường, cộng thêm việc dữ liệu về hiệu suất đầu tư mẫu luôn thay đổi liên tục. Các nhà đầu tư nên cân nhắc mọi yếu tố này trong quá trình đánh giá biến động của một khoản đầu tư thông qua việc tính toán độ lệch chuẩn.
Asymmetric Volatility Phenomenon - AVP / Hiện tượng biến động bất đối xứng
Hiện tượng biến động bất đối xứng (đôi khi còn được biết đến là AVP) là một động lực thị trường cho thấy có một số mức độ biến động thị trường cao hơn trong xu hướng thị trường đi xuống, so sánh với xu hướng đi lên của thị trường đó. Các yếu tố gây ra hiện tượng này bắt nguồn từ một số nguồn như tác động của đòn bẩy trên thị trường, biến động phản hồi và các yếu tố đầu tư tâm lý liên quan đến cân bằng rủi ro / cân bằng lợi nhuận ở các mức độ thị trường khác nhau. Sự tồn tại của hiện tượng biến động bất đối xứng đã được nghiên cứu và chấp nhận rộng rãi, mặc dù không có sự đồng thuận nào tồn tại đối với động lực giá của hiện tượng này. Vấn đề này đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro cũng như xây dựng chiến lược phòng hộ rủi ro và định giá hợp đồng quyền chọn. Một trong những yếu tố khó khăn trong việc xác định nguyên nhân của sự biến động không đối xứng là sự tách biệt các yếu tố trên toàn thị trường (systematic - toàn hệ thống) từ các yếu tố đặc thù chứng khoán (đặc tính - idiosyncratic).
Asymmetric Digital Subscriber Line - ADSL / Đường dây thuê bao số bất đối xứng
Đây là một công nghệ mới cung cấp tốc độ truyền tải cao các video và giọng nói đến người sử dụng thông qua đường dây điện thoại bằng đồng truyền thống. Công nghệ này sẽ có hiệu quả nhất về chi phí trong các lĩnh vực có sự thâm nhập thị trường thấp của phương thức truyền hình cáp. Đôi khi công nghệ này chỉ được gọi là DSL, đây được coi là đối thủ cạnh tranh lớn với "modems" cáp.
Asteroid Event / Sự kiện thiên thạch
Đây là một sự kiện đột ngột, bất ngờ, gây ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong môi trường nơi xảy ra sự kiện này. Một sự kiện thiên thạch thường sẽ là thảm họa đối với một công ty, ngành công nghiệp hoặc nền kinh tế do tính không thể dự đoán trước và tính bất ngờ của nó. Khi một sự kiện như vậy xảy đến, gần như không thể có sự chuẩn bị đầy đủ và có thể được coi là trường hợp xấu nhất. Các công ty dựa vào sự sáng tạo của một thành viên độc lập trong ban điều hành, hoặc sự phổ biến của một bộ sản phẩm nhỏ có thể gặp phải sự kiện thiên thạch nếu giám đốc điều hành đó đột nhiên rời khỏi công ty hoặc một công nghệ mới khiến các sản phẩm hiện tại ngay lập tức trở nên lỗi thời. Một ví dụ về sự kiện thiên thạch xảy ra nếu một nhà sản xuất thuốc có thu nhập từ việc sản xuất thuốc đã thu hồi sau khi bị phát hiện chứa các tác dụng phụ gây hại. Do việc bán thuốc là hoạt động kinh doanh duy nhất của công ty, việc loại bỏ nó khỏi thị trường sẽ khiến giá trị cổ phiếu của công ty giảm mạnh.
Assurance Services / Dịch vụ bảo đảm
Đây là một loại dịch vụ chuyên nghiệp thường được cung cấp bởi các doanh nghiệp CPA. Dịch vụ đảm bảo bao gồm sự đánh giá một loại tài liệu tài chính hoặc giao dịch bất kỳ, chẳng hạn như một khoản vay, hợp đồng hay trang web tài chính. Đánh giá này xác nhận tính đúng đắn và hợp lệ của những mặt hàng đang được doanh nghiệp CPA phê duyệt. Các dịch vụ đảm bảo có thể có nhiều hình thức đa dạng với mục đích cung cấp cho các công ty đang hợp tác với CPA những thông tin thích hợp để giúp họ đưa ra những quyết định dễ dàng. Ví dụ: khách hàng có thể yêu cầu CPA xem qua tất cả các con số và phép toán trên trang web thế chấp của khách hàng một cách cẩn thận để đảm bảo rằng tất cả các phép tính và phương trình đều được tính toán chính xác.
Assurance / Bảo đảm
Đây là một hình thức bảo hiểm cho một sự kiện chắc chắn sẽ xảy ra. Bảo đảm tương tự như bảo hiểm (và đôi khi các điều khoản có thể hoán đổi cho nhau) ngoại trừ trường hợp, bảo hiểm bảo vệ các bên mua bảo hiểm trước các sự kiện có thể xảy ra. Ví dụ, một người có thể chọn mua bảo đảm nhân thọ hoặc bảo hiểm nhân thọ có kì hạn. (Lưu ý ở Anh, "bảo đảm nhân thọ" (life assurance) là một thuật ngữ khác của "bảo hiểm nhân thọ"(life insurance).) Sự kiện được nhắc đến ở đây là cái chết của người được áp dụng chính sách bảo hiểm. Do cái chết của người này là chắc chắn, một chính sách đảm bảo sự sống dẫn đến việc thanh toán cho người thụ hưởng khi người mua bảo hiểm tử vong. Tuy nhiên, một chính sách bảo hiểm nhân thọ có thời hạn sẽ bao gồm một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn như 30 năm, kể từ khi chính sách này được mua. Nếu chủ hợp đồng tử vong trong thời gian đó, người thụ hưởng nhận được tiền, nhưng nếu chủ hợp đồng chết sau 30 năm, khoản tiền bảo hiểm sẽ không được trả lại. Chính sách bảo đảm bao gồm một sự kiện ngẫu nhiên sẽ xảy ra, trong khi chính sách bảo hiểm bao gồm một sự kiện có thể xảy ra (người mua bảo hiểm có thể chết trong vòng 30 năm tới).
Assumption Endorsement / Bản sửa đổi bổ sung giả định
Đây là một chính sách bảo hiểm bổ sung, quy định: nếu công ty bảo hiểm ban đầu trở nên mất khả năng thanh toán, bất kỳ khiếu nại nào được tái bảo hiểm sẽ được công ty tái bảo hiểm trả lại trực tiếp cho chủ hợp đồng, thay vì thông qua các phương tiện truyền thống. Điều này không nhằm mục đích tăng rủi ro cho công ty tái bảo hiểm mà là để đẩy nhanh quá trình yêu cầu bồi thường. Bản sửa đổi này cũng được gọi là "điều khoản bồi thường trực tiếp." (cut-through endorsement) Bản giả định, hoặc bản bồi thường trực tiếp (cut-through), bản sửa đổi bổ sung là tên gọi bắt nguồn từ ý nghĩa trên mặt chữ trong thực tế "cuts through" "thủ tục hành chính" (red tape), nên thường được kết hợp với các yêu cầu bảo hiểm, cung cấp các khoản thanh toán nhanh chóng, không rắc rối.
Assumption Clause / Điều khoản nhận chuyển nhượng
Đây là một điều khoản trong hợp đồng thế chấp cho phép người bán nhà chuyển giao trách nhiệm cho người mua nhà, đối với khoản thế chấp hiện có. Nói cách khác, chủ nhà mới giả định khoản thế chấp này với nhiều điều kiện và một khoản phí bắt buộc trong điều khoản nhận chuyển nhượng. Một điều khoản nhận chuyển nhượng có thể là một điểm bán hàng hấp dẫn cho một chủ sở hữu nhà nếu lãi suất của khoản thế chấp hiện hành thấp hơn lãi suất thị trường tại thời điểm đó, đồng thời tránh được chi phí thanh toán khoản vay cho người mua. Tuy nhiên, có rất nhiều rào cản để vượt qua trong một giả định. Ví dụ, hầu hết các khoản thế chấp đều có các điều khoản đáo hạn khi bán với mục đích ngăn chặn các giả định và số dư gốc còn lại của khoản thế chấp hiện tại có thể thấp hơn giá bán của căn nhà.
Điều Khoản Nhận Chuyển Nhượng (Assumption Clause) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Điều Khoản Nhận Chuyển Nhượng (Assumption Clause) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.






