Authorized Forex Dealer / Người mua bán chứng khoán ngoại hối được cấp phép
Bất kỳ loại hình tổ chức tài chính nào được cấp phép bởi cơ quan quản lý có liên quan để hoạt động như một người mua bán chứng khoán chuyên về giao dịch ngoại tệ. Giao dịch với người mua bán chứng khoán ngoại hối được cấp phép đảm bảo rằng các giao dịch này luôn được thực hiện một cách hợp pháp và chính đáng. Ở Hoa Kỳ, cơ quan quản lý chịu trách nhiệm cấp phép cho những người mua bán chứng khoán ngoại hối là Hiệp hội hợp đồng tương lai quốc gia (NFA). NFA đảm bảo những người mua bán chứng khoán ngoại hối được cấp phép phải chịu sự kiểm tra nghiêm ngặt khi đăng ký kinh doanh và thực hiện đầy đủ các quy định sau khi được phê duyệt.
Autarky / Autarky - Tự cung tự cấp
Một quốc gia hoặc thực thể không phụ thuộc. Autarky là một thuật ngữ chính trị/ kinh tế xuất phát từ tiếng Hy Lạp là autarkeia - autos, nghĩa là "đủ mạnh hoặc đầy đủ". Autarky đạt được khi một thực thể, chẳng hạn nhà nước chính trị, không phụ thuộc và tồn tại mà không cần viện trợ nước ngoài. Autarky là một nhà nước độc lập. Ví dụ, một quốc gia hoạt động mà không cần đến thương mại quốc tế. Từ góc nhìn kinh tế, việc tự chủ trong đó loại bỏ đi các hoạt động ngoại thương đã được chứng minh là không thành công, và có thể nói là một mô hình không tưởng.
Austrian School / Trường phái kinh tế học Áo
Một trường phái kinh tế tư tưởng bắt nguồn từ Vienna vào cuối thế kỷ 19 xuất phát từ các nghiên cứu của Carl Menger. Trường phái kinh tế học Áo cho rằng hoạt động của cả nền kinh tế là sự tổng hợp các quyết định và hành động của cá nhân, khác với trường phái kinh tế học Chicago và các học thuyết khác đưa ra các dự đoán trong tương lai dựa trên các bản trích yếu trong quá khứ, thường sử dụng các số liệu thống kê tổng hợp lớn. Ngoài ra, nó cũng được biết đến như "Trường phái kinh tế học Vienna" và "trường phái kinh tế học tâm lý". Trường phái kinh tế học Áo có một góc nhìn đặc biệt về chu kỳ kinh doanh hiện đại; nó cho rằng các chu kỳ bùng nổ thực tế là sự phân bổ sai nguồn vốn gây ra bởi sự can thiệp của các chính sách tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương mở rộng cung tiền bằng việc giảm lãi suất, nó gây ra hiệu ứng số nhân lên nền kinh tế. Điều này dẫn đến việc các chủ doanh nghiệp đánh giá sai nguồn vốn khả dụng và nhu cầu của người tiêu dùng. Cuối cùng, việc doanh nghiệp đầu tư quá mức dẫn đến một chu kỳ bong bóng vỡ do sự phân bổ sai trước đó gây ra.
Australian Stock Exchange - ASX / Sở giao dịch chứng khoán Australia - ASX
Sở giao dịch chứng khoán có trụ sở đặt tại Sydney, Australia. Sở giao dịch chứng khoán Australia hiện nay được thành lập thông qua việc sáp nhập Sở giao dịch chứng khoán Australia và Sở giao dịch hợp đồng tương lai Sydney. ASX hoạt động như một nhà điều phối thị trường, cơ quan thanh toán bù trừ và hỗ trợ thanh toán, ngoài ra nó còn cung cấp các tài liệu giáo dục cho những nhà đầu tư cá nhân. ASX ban đầu được thành lập vào năm 1987 sau khi sáp nhập sáu sàn giao dịch chứng khoán độc lập hoạt động trên toàn Australia. ASX cung cấp các vốn cổ phần, hợp đồng giao dịch tương lai, quyền chọn, giấy bảo đảm, ETFs và REITs, cùng các dạng chứng khoán khác.
Australian Securities And Investments Commission - ASIC / Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia - ASIC
Cơ quan quản lý thị trường và dịch vụ tài chính của Australia. ASIC ra đời để đảm bảo thị trường tài chính Australia hoạt động công bằng và minh bạch. ASIC là một cơ quan Chính phủ Liên bang độc lập được thành lập theo đạo luật Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia (ASIC ACT). Đạo luật ASIC yêu cầu ASIC phải: Duy trì, tạo điều kiện và cải thiện hiệu suất của hệ thống tài chính. Thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư tự tin và có kiến thức. Quản lý và thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Xử lý và lưu trữ thông tin hiệu quả và nhanh chóng. Cung cấp thông tin liên quan đến các công ty và tổ chức khác một cách kịp thời. Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia hoạt động dưới sự quản lý của Bộ trưởng phụ trách ngân khố. ASIC kiểm soát các công ty Australia, thị trường tài chính, các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính và các chuyên gia giao dịch hoặc tư vấn về bảo hiểm, trợ cấp hưu trí, đầu tư, nhận tiền gửi và tín dụng. Trung tâm dịch vụ ASIC đặt tại tất cả các thành phố lớn ở Australia.
Australian Future Fund / Quỹ tương lai Australia
Là một quỹ lợi ích quốc gia được thành lập bởi chính phủ Australia. Nguồn vốn của quỹ tương lai Australia đến từ thặng dư ngân sách được ký gửi bởi chính phủ Australia. Theo hiệp hội quỹ đầu tư quốc gia, quỹ tương lai Australia đang quản lý khối tài sản xấp xỉ 60 tỷ dollar. Quỹ tương lai Australia được thành lập năm 2006 như một phần của Đạo luật quỹ tương lai. Quỹ được điều hành bởi Hội đồng giám hộ với các thành viên được chỉ định cho các điều khoản dịch vụ hạn chế. Hội đồng giám hộ Quỹ Tương lai và Cơ quan Quản lý Quỹ Tương lai cũng quản lý Quỹ Xây dựng Australia, Quỹ Đầu tư Giáo dục cùng Quỹ Y tế và Bệnh viện. Quỹ tương lai Australia đầu tư vào các cổ phần trong nước và quốc tế, các quỹ đầu tư tư nhân, bất động sản, cơ sở hạ tầng, chứng khoán nợ và loại tài sản.
Australian Financial Markets Association (AFMA) Bank-Bill Reference Rate (BBSW) / Lãi suất tham khảo hối phiếu ngân hàng (BBSW) bởi Hiệp hội thị trường tài chính Australia (AFMA)
Lãi suất hối phiếu ngân hàng là lãi suất cho vay sỉ liên ngân hàng tại Australia và được công bố bởi Hiệp hội thị trường tài chính Australia (AFMA). Đây là lãi suất cho vay giữa những người mua bán hàng đầu trên thị trường, và được sử dụng rộng rãi như lãi suất tiêu chuẩn cho các công cụ tài chính. Lãi suất hối phiếu ngân hàng là quy chiếu tương đương của Australia với LIBOR hoặc SIBOR và được sử dụng như tỷ lệ tham chiếu theo cách tương tự. Chẳng hạn, tỷ lệ thả nổi có thể được định giá 100 điểm cơ bản so với LIBOR, trong khi tại Australia, họ có thể sử dụng 100 điểm cơ bản so với BBSW. Mặc dù thường được viết gọn là "lãi suất hối phiếu ngân hàng" (bank bill rate), thuật ngữ chính xác phải là "lãi suất hoán đổi hối phiếu ngân hàng" (bank bill swap interest rate), do đó được viết tắt là BBSW.
Australian Bureau of Statistics - ABS / Tổng cục thống kê Úc - ASB
Đây là một cơ quan thống kê quốc gia của Úc. Sứ mệnh của ASB là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra các quyết định sáng suốt, nghiên cứu, bàn luận với chính phủ và cộng đồng thông qua việc cung cấp dịch vụ thống kê quốc gia một cách khách quan và có chất lượng cao. Tổng cục điều tra và thống kê Liên Bang Úc (CBCS), tiền thân của ABS, được thành lập vào năm 1905. Nó được thay thế vào năm 1974 bởi ABS. Đạo luật năm 1975 của tổng cục thống kê Úc đã thành lập nên ABS như là một nhà chức trách tư pháp chịu sự kiểm soát bởi các nhà thống kê Úc và chịu trách nhiệm trước Ngân hàng nhà nước.
Austerity / Chính sách thắt lưng buộc bụng
Đây là tình trạng cắt giảm chi tiêu và gia tăng tiết kiệm trong lĩnh vực tài chính. Chính sách thắt lưng buộc bụng ám chỉ những biện pháp được thực hiện bởi phủ nhằm cắt giảm chi tiêu trong nỗ lực thu hẹp thâm hụt ngân sách. Những biện pháp thắt lưng buộc bụng thường không được người dân nói chung ủng hộ bởi lẽ nó hướng đến việc bỏ bớt số lượng và giảm thiểu chất lượng các dịch vụ và phúc lợi được cung cấp bởi chính phủ. Đầu năm 2009, có rất nhiều quốc gia đã buộc phải sử dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng chưa từng có. Những biện pháp này đòi hỏi cần phải có, khi các chính phủ đối mặt với tình hình thâm hụt ngân sách đã đạt mức kỷ lục trong những năm qua và vì đây là những hành động mà các quốc gia này thực hiện để kích thích nền kinh tế của họ đi lên sau khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tín dụng và kinh tế toàn cầu năm 2008.
Aussie / Đô la Úc (Aussie)
Đây là một từ lóng được dùng để chỉ đồng Đô la Australia. Tương tự như đồng Đô la Mỹ đôi khi được gọi là tiền giấy Mỹ (greenback) hay đồng Đô la Canada được gọi là loonie (tên gọi không chính thức nhưng rất thông dụng của đồng xu 1 Đô la màu vàng, có khảm bạc của Canada), Đô la Australia thì được gọi là Aussie để phân biệt nó với tất cả các đồng tiền có chữ Dollar khác. Đồng Đô la Australia có ký hiệu là A$ hay AU$.
Aunt Millie / Nhà đầu tư Aunt Millie
Một thuật ngữ lóng ám chỉ các nhà đầu tư nhỏ lẻ và thiếu tinh tế. Thuật ngữ có thể nói là không khác gì một lời nhận xét mang tính coi thường của các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính mà ám chỉ đến các lựa chọn đầu tư yếu kém. Những chuyên gia tài chính có thể giới thiệu phương thức đầu tư "Aunt Millie" đến những khách hàng còn cảm thấy xa lạ với việc đầu tư. Do là các chuyên gia này muốn đưa ra những khoản đầu tư được cho là phù hợp với khách hàng, họ sẽ thường đề xuất "Aunt Millie" như là một cách đầu tư đơn giản và ít rủi ro. Các nhà phân tích có thể sử dụng thuật ngữ này để đá đểu những cổ phần hay chứng khoán mà họ cho là vô dụng. Ví dụ, một người có thể nói là việc đầu tư vào một chứng khoán nào đó là hành động rất ngu ngốc, chỉ có Aunt Millie mới đi mua nó.
Augmented Product / Sản phẩm bổ sung
Một sản phẩm có cả những thuộc tính vậy lý và phi vật lý cơ bản được bổ sung làm tăng giá trị của nó. Các thuộc tính phi vật lý của một sản phẩm bổ sung có thể bao gồm bảo hành, dịch vụ hậu mãi hoặc dịch vụ lắp đặt sản phẩm, những thuộc tính này có thể làm tăng giá của sản phẩm cốt yếu đang được mua và cho phép công ty bán những hàng hóa đi kèm cung cấp cho người dùng những dịch vụ khác giúp cho sản phẩm trở nên dễ sử dụng hơn. Một người tiêu dùng có quyền lựa chọn giữa muôn vàn mức giá khác nhau khi mua những sản phẩm phẩm đồ điện tử. Để có thể khác biệt hóa sản phẩm của mình trước những đối thủ cạnh tranh, các công ty sẽ bán những chiếc máy tính có thêm các tính năng vượt trội so với phiên bản cơ bản của nó thông qua các dịch vụ bảo hành, hotline dịch vụ khách hàng và những dịch vụ hay công đoạn khác làm nổi bật sản phẩm của họ. Việc của khách hàng sau đó là lựa chọn giữa việc mua một sản phẩm thông thường với một sản phẩm bổ sung có các tính năng chuyên biệt khác, ví dụ như một chiếc máy tính có gắn thêm những cái chuông và còi báo hiệu chẳng hạn. Thành công của một công ty chính là việc có thể chào bán các loại sản phẩm phù hợp với thị yếu của người tiêu dùng về những giá trị cần được cho vào sản phẩm đó, điều này khiến cho quá trình marketing sản phẩm trở nên vô cùng quan trọng.
Auditor's Report / Báo cáo kiểm toán
Được ghi lại trong báo cáo hàng năm, báo cáo kiểm toán có nghĩa vụ phân tích để đảm bảo rằng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp tuân theo những chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung (GAAP). Việc nhìn nhận theo hướng này đôi khi còn được gọi là ý kiển kiểm toán chứng minh vô tội (clear opinion). Đa phần các ghi chép của các báo cáo kiểm toán có ba đoạn văn bản. Đoạn đầu tiên chỉ rõ các trách nhiệm của kiểm toán viên và những giám đốc. Đoạn văn bản thứ hai là chuẩn mực kế toán GAAP được áp dụng. Đoạn cuối cùng cho biết quan điểm của kiểm toán viên.
Auditor's Opinion / Ý kiến kiểm toán
Một chứng nhận đi kèm với những báo cáo tài chính và được cung cấp bởi các kế toán viên độc lập thực hiện nghiệp vụ kiểm toán các sổ sách và ghi chép của một công ty đồng thời hỗ trợ lập các báo cáo tài chính. Quan điểm của kiểm toán viên sẽ trình bày phạm vi của nghiệp vụ, đánh giá của kế toán về các thủ tục và ghi chép được sử dụng để lập các báo cáo tài chính và đánh giá về việc liệu những báo cáo tài chính này có phản ánh đúng bức tranh về tình hình tài chính của công ty hay không. Thường có 3 loại ý kiển kiểm toán. Đầu tiên là ý kiến kiểm toán chứng minh vô tội hay ý kiến chấp nhận toàn phần cho biết các báo cáo tài chính đều phản ánh hợp lý và chính xác toàn cảnh bức tranh tài chính của công ty và tuân thủ các chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung (GAAP). Ý kiến kiểm toán chấp nhận từng phần lại có những ngoại lệ mà có thể là do kiểm toán viên bị giới hạn công tác kiểm toán, không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính. Ý kiến không chấp nhận hay ý kiến trái ngược có những ngoại lệ và cảnh báo riêng biệt. Ý kiến trái ngược được biết đến nhiều nhất là hoạt động liên tục ngoại lệ (going-concern exception) mà ở đó kế toán viên bày tỏ sự nghi ngờ về khả năng của công ty trong việc duy trì hoạt động kinh doanh.
Auditor / Kiểm toán viên
Một công chức mà công việc của họ là kiểm tra một cách cẩn thận những sổ sách của doanh nghiệp. Một kiểm toán viên có thể là một kiểm toán viên độc lập không có mối liên kết với công ty bị kiểm toán hay một kiểm toán bất đắc dĩ mà một vài người thường được đề cử bởi các công chức. Thuật ngữ đôi khi đồng nghĩa với "người kiểm soát" (comptroller). Các kiểm toán viên thường quen với việc đảm bảo rằng các tổ chức đang nắm giữ những sổ sách và báo cáo tài chính chính xác và trung thực. Các kiểm toán viên có thể làm việc cho rất nhiều thực thể, vi dụ như là IRS hay chính phủ liên bang. Các kiểm toán viên cũng thường hay được tìm thấy ở các công ty kế toán. Có cả kiểm toán nội bộ và bên ngoài; các kiểm toán viên nội bộ thường là những người làm hàng công hay nhà thầu của công ty mà họ đang thực hiện nghiệp vụ kiểm toán, trong khi các kiểm toán bên ngoài thường làm việc trực tiếp cho hoặc chung với các cơ quan chính phủ.
Kiểm Toán Viên (Auditor) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kiểm Toán Viên (Auditor) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Auditing Standards Board - ASB / Uỷ ban chuẩn mực kế toán - ASB
Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), ủy ban cấp cao về chuyên môn kiểm toán, chứng thực và chất lượng kiểm soát. Ủy ban chuẩn mực kiểm toán ASB chuyên cung cấp những báo cáo, tiêu chuẩn và hướng dẫn cho các hội viên kế toán công chứng (CPAs) trong việc kiểm toán các công ty phi đại chúng. Ủy ban chuẩn mực kế toán tồn tại để phục vụ "lợi ích cộng đồng thông qua việc cải tiến và đưa những chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ chứng thực đang hiện hữu và mới". Uỷ ban chuẩn mực kế toán cung cấp các hướng dẫn cho việc thực thi, báo cáo và chất lượng quản lý có liên quan đến các nghiệp vụ kiểm toán và chứng thực. Uỷ ban chuẩn mực kế toán gồm có 19 thành viên, đó là: - 5 thành viên từ các công ty địa phương, khu vực và quốc gia; - 5 thành viên được đề cử bởi các Ủy ban kế toán quốc gia (NASBA); - 4 thành viên từ 4 công ty kiểm toán big four; và - 5 người dùng cùng với những thành viên quần chúng.
Auditing Evidence / Chứng chỉ kiểm toán
Đây là những thông tin được thu thập phục vụ cho việc xem xét những giao dịch, thủ tục kiểm soát nội bộ và những yếu tố cần thiết của một công ty để nhận được chứng chỉ về các báo cáo tài chính cho một kế toán viên được chứng thực. Số liệu và bằng chứng được đưa vào kiểm toán có khá nhiều tùy thuộc vào mô hình công ty được kiểm toán cũng như là tầm kiến thức yêu cầu chi kiểm toán. Mục đích của bất kỳ một nghiệp vụ kiểm toán nào là để xác định liệu các báo cáo tài chính của một công ty có tuân theo những chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung phù hợp với quyền hạn pháp lý của từng thực thể. Những công ty đại chúng thường được yêu cầu trình bày toàn bộ những báo cáo tài chính đã được kiểm toán cho các cổ đông định kỳ.
Auditability / Khả năng kiểm toán
Đây là khả năng đạt được kết quả chính xác trong việc kiểm tra báo cáo tài chính của công ty. Khả năng kiểm toán phụ thuộc vào thực tiễn ghi chép tài chính của công ty, tính minh bạch của công ty và sự thẳng thắn của các nhà quản lý khi tương tác với kiểm toán viên. Một công ty với tính minh bạch cao và các bản hồ sơ đầy đủ có khả năng kiểm toán tốt hơn một công ty có hồ sơ không đầy đủ và người quản lý tắc trách. Khả năng kiểm toán là một yếu tố quan trọng trong quá trình kiểm toán. Kiểm toán có hiệu quả nhất khi kiểm toán viên được cấp quyền truy cập đối với các thông tin tài chính chính xác. Một công ty được cho là có khả năng kiểm toán cho phép kiểm toán viên đánh giá kỹ lưỡng và chính xác hơn về tài chính của công ty đó.
Audit Trail / Kiểm toán truy nguyên
Đây là một bản ghi chép theo từng bước mà nguồn gốc của chúng có thể được tìm kiếm trong dữ liệu kế toán. SEC và NYSE sẽ sử dụng phương pháp này để tái cấu trúc các giao dịch khi được truy vấn về tính hợp lệ hoặc tính chính xác của một số liệu kế toán. Đây là kỹ thuật được sử dụng để theo dõi những hoạt động thị trường không phù hợp. Bằng cách ghi lại và phân tích tất cả các ngôi nhà và môi giới liên quan đến các ngành nghề cụ thể, những người theo dõi kiểm toán truy nguyên (hy vọng) có thể xác định được thủ phạm.
Audit Cycle / Chu kỳ kiểm toán
Đây là quy trình kế toán mà kiểm toán viên sử dụng khi xem xét thông tin tài chính của một công ty. Chu kỳ kiểm toán bao gồm các bước mà một kiểm toán viên sẽ thực hiện để đảm bảo rằng thông tin tài chính của công ty hợp lệ và chính xác trước khi ban hành bất kỳ báo cáo tài chính nào. Chu kỳ kiểm toán có thể yêu cầu các nhiệm vụ khác nhau được thực hiện vào các thời điểm khác nhau - ví dụ: hàng tồn kho có thể được tính vào tháng 10 và khoản phải thu sẽ được xác định vào tháng 11. Chu kỳ kiểm toán thường bao gồm một số bước riêng biệt và cũng có thể bao gồm một quy trình xác định, trong đó công ty gặp gỡ các kiểm toán viên để xác định các lĩnh vực kế toán cần được xem xét lại; các giai đoạn trong phương pháp kiểm toán, nơi kiểm toán viên quyết định cách thu thập thông tin cho mục đích đánh giá; giai đoạn thực địa kiểm toán, nơi kiểm toán viên kiểm tra và so sánh các mẫu kế toán; và giai đoạn họp đánh giá quản lý, nơi kết quả nghiên cứu được các kiểm toán viên trình bày cho ban quản lý của công ty.
Chu Kỳ Kiểm Toán (Audit Cycle) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chu Kỳ Kiểm Toán (Audit Cycle) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.






