Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Avalize / Bảo lãnh (hóa)

Hành vi có bên thứ ba (thường là ngân hàng hoặc tổ chức cho vay) đảm bảo nghĩa vụ của người mua đối với người bán theo các điều khoản của hợp đồng như giấy nợ hoặc hợp đồng mua bán. Ngân hàng, bằng cách bảo chứng cho các chứng từ (thường là bằng cách viết chữ "được bảo lãnh" - by aval lên chính các chứng từ đó) sẽ đóng vai trò như một người cùng ký hợp đồng với người mua trong giao dịch này. Bão lãnh hóa nghĩa là "đưa ra thỏa thuận của một bên". Nó ít khi được sử dụng nhưng lại là một phương pháp hiệu quả để đảm bảo quyền của bên nhận bảo lãnh trong giao dịch. Đây là một nghĩa vụ mà một ngân hàng sẽ chỉ tiếp nhận với các khách hàng có khả năng sinh lợi. Nó được xem như là một hành động thiện chí của cả hai bên.

Aval / Bảo lãnh

Đây là một cam kết được thực hiện bởi bên thứ ba bảo đảm về nghĩa vụ trả nợ khi người phát hành nợ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ đó. Nghĩa vụ trả nợ có thể phát sinh từ việc vay tiền mặt, trái phiếu, giấy nợ hay hối phiếu. Bên bảo lãnh thường hay là một ngân hàng. Do việc bảo lãnh hoàn toàn có thể làm giả nên cần phải cẩn trọng khi đồng ý những chứng từ này. Các ngân hàng thường chỉ bảo lãnh cho những người phát hành nợ có mức độ tín nhiệm cao. Quá trình bảo lãnh được thực hiện chủ yếu tại châu Âu. Ở Mỹ. các ngân hàng sẽ có những hạn chế nhất định về các công cụ nợ có thể được chấp nhận bảo lãnh.

Available-For-Sale Security / Chứng khoán bán ngay

Đây có thể là một chứng khoán nợ hay vốn được mua với ý định bán ra trước khi nó đến ngày đáo hạn hoặc trước một giai đoạn với khoảng thời gian kéo dài phòng trừ trường hợp chứng khoán này không có thời gian đáo hạn. Các chuẩn mực kế toán đòi hỏi các công ty phải phân loại bất kì khoản đầu tư nào thành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn khi chúng được mua. Các khoản đầu tư có thể được phân loại thành các hạng mục: Giữ lại cho đến khi đáo hạn, giữ lại để giao dịch hay bán ngay. Một chứng khoán bán ngay có thể là một chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn mà không thuộc loại chứng khoán giữ lại dùng cho giao dịch hay giữ lại chờ ngày đáo hạn. Loại chứng khoán này được báo cáo với giá trị hợp lý; những thay đổi về mặt giá trị giữa các kỳ kế toán được ghi nhận trong OCI (Other comprehensive income) cho đến khi các chứng khoán này được bán ra.

Available Seat Miles - ASM / Số dặm chỗ ngồi có sẵn - ASM

Đây là một chỉ số đề cập đến chuyện còn bao nhiêu chỗ ngồi có thể bán được trên một tuyến đường hàng không có số dặm nhất định. Nếu toàn bộ số ghế ngồi trên máy bay chưa được bán, ASM sẽ chi ra sức chứa tổng cộng mà máy bay có thể vận hành trên một tuyến đường hàng không. Đây được coi là một thước đo cơ bản cho trọng tải của một tuyến đường hàng không.

Available Funds / Vốn khả dụng

Đây là những khoản vốn sẵn có trong tài khoản của người chủ nắm giữ chúng để rút vốn hay dùng cho các mục đích sử dụng khác. Loại vốn này có thể là những khoản vốn đến từ khoản vay thấu chi hay những khoản vay dựa trên hạn mức tín dụng cũng như là số dư khả dụng từ số tiền ký quỹ đã được xử lý và đang tồn tại. Vốn khả dụng cũng có thể là những những khoản vốn được rút từ tài khoản ký quỹ của một công ty môi giới, nơi mà các khoản vay ký quỹ vẫn chưa được giải quyết. Chúng còn có thể là một số tiền mà một cá nhân có thể kiếm được về nhanh chóng cho một mục đích nhất định nào đó từ các nguồn như là những hạn mức tín dụng chưa được dùng đến, các khoản vay ngân hàng hay các công cụ có liên quan, hoặc cũng có thể là tài sản có khả năng thanh lý nhanh chóng. Lượng tiền này có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau nhằm xác định tính thanh khoản của một cá nhân hay công ty ngay lập tức.

Available Balance / Số dư khả dụng

Đây là số dư trong tài khoản vãng lai hoặc tài khoản tiền gửi không kỳ hạn nơi mà có độ trễ của các quỹ tín dụng đến một tài khoản. Nếu một khoản tiền gửi được ký séc chưa được chuyển bởi ngân hàng phát hàng, số tiền này sẽ không thể có mặt tại tài khoản của người nhận tiền mặc dù chúng có thể đã hiển thị tổng số tiền đã nhận được trên tài khoản. Ảnh hưởng của vấn đề này chính là việc số dư trên tài khoản có thể khác với số dư đáng lý ra phải sẵn có trong tài khoản cho chủ của nó chi tiêu, rút tiền hay chuyển khoản. Tùy thuộc vào các chính sách của ngân hàng phát hành và ngân hàng nhận gửi mà các khoản tiền ký séc có thể ở bất cứ đâu để chờ được chuyển trong vòng từ 2 cho đến 5 ngày nếu cả 2 ngân hàng đều hoạt động trong nước. Quá trình này có thể mất nhiều thời gian hơn nếu séc được viết tại một cơ quan phi ngân hàng hay cơ quan tại nước ngoài. Chính sách của ngân hàng có thể không liên quan gì tới thời điểm các khoản tiền này sẽ được chuyển đến ngân hàng. Khoảng thời gian giữa việc séc được gửi cho đến khi nó xuất hiện tại tài khoản người nhận thường được gọi là thời gian lưu thông (float time).

Availability Float / Tiền nổi khả dụng

Đây là khoảng thời gian xảy ra giữa thời gian tiền kí gửi được thực hiện và thời gian các quỹ trở nên sẵn có trong một tài khoản, đặc biệt liên quan đến khoản kí gửi bằng séc. Tiền nổi khả dụng tồn tại bởi vì các ngân hàng phải xử lý những tấm séc thực tế trước khi phát hành các quỹ, có nghĩa là người kí gửi tiền phải đợi trước khi các khoản tiền xuất hiện trong tài khoản ngân hàng. Các công ty có thể giảm số tiền khả dụng bằng cách chuyển sang hệ thống thanh toán điện tử, vì điều này làm giảm sự phụ thuộc vào tốc độ xử lý của ngân hàng đối với những tấm séc thực tế. Sự khác biệt giữa một khoản tiền nổi khả dụng và một khoản tiền thanh toán được gọi là khoản tiền ròng. Ví dụ, một công ty in ấn có 50.000 đô la gửi vào ngân hàng và một trong các khách hàng của họ nợ công ty này 10.000 đô la. Công ty in ghi giá trị tiền mặt cho tờ séc 10.000 đô la và điều chỉnh trên sổ cái của mình để thể hiện rằng họ có 60.000 đô la. Cho đến khi việc ký gửi tiền hoàn tất, tài khoản ngân hàng của công ty in vẫn sẽ hiển thị số tiền đó có sẵn 50.000 đô la. Và 10.000 đô la còn lại là tiền nổi khả dụng.

Availability / Tính khả dụng

Đây là các khoản tiền đã được kí gửi bằng séc của bên thứ ba vào tài khoản ngân hàng của một khách hàng. Những khoản tiền này thường không được khách hàng sử dụng cho đến khi séc bị xóa, hoặc chúng trở thành "những quỹ tốt". Những tấm séc của bên thứ ba có sẵn dựa theo một lịch trình tùy thuộc vào ngân hàng nơi những tấm séc này được rút. Số ngày tối đa mà một tấm séc có thể được giữ, được quy định bởi Đạo luật xúc tiến ngân quỹ (Expedited Funds Availability Act), giả sử rằng tấm séc này tốt.

Autotrading / Tự động giao dịch

Một chiến lược giao dịch mà lệnh mua và bán được thực hiện tự động dựa trên một hệ thống hoặc lập trình cơ sở. Những lệnh mua bán này sẽ được thực hiện trên thị trường giao dịch khi thị trường đạt được một số những điều kiện nhất định.Theo như gợi ý của một số trang tin đầu tư tài chính, những trang tin này sẽ cung cấp tính năng tự động giao dịch khi một lệnh mua hoặc bán vị thế đựoc gửi tới nhà môi giới tự động   Tự động giao dịch cùng các hệ thống, lập trình hình thành tín hiệu mua bán thường được sử dụng bởi những nhà giao dịch thường xuyên, những người ra vào vị thế ở tần suất nhiều hơn so với các nhà đầu tư thông thường. Cũng có rất nhiều hệ thống khác nhau dựa trên những tiêu chuẩn được sử dụng để hình thành tín hiệu mua bán. Thông thường, những tiêu chuẩn đựợc lập trình thiên về kỹ thuật - trong đó chủ yếu tập trung phân tích biến động giá và các chỉ số kỹ thuật. Những hệ thống giao dịch tự động này được sử dụng trên nhiều thị trường giao dịch như thị trường chứng khoán, giao dịch tương lai, quyền chọn và kinh doanh ngoại hối.

Autoregressive Integrated Moving Average - ARIMA / Phương pháp trung bình trượt kết hợp tự hồi quy - ARIMA

Đây là một mô hình phân tích thống kê sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian để dự đoán xu hướng trong tương lai. Đây còn là một hình thức phân tích hồi quy nhằm tìm cách dự đoán các biến động trong tương lai dọc theo bước tiến ngẫu nhiên của các cổ phiếu và thị trường tài chính bằng cách kiểm tra sự khác biệt giữa các giá trị trong chuỗi thay vì sử dụng các giá trị dữ liệu thực tế. Độ trễ của chuỗi khác biệt được gọi là "tự phát" và độ trễ trong dữ liệu dự báo được gọi là "đường trung bình di động". Loại mô hình này thường được gọi là ARIMA (p, d, q), với các số nguyên tương ứng với các phần trung bình tự hồi quy, tích hợp và chuyển động của tập dữ liệu một cách tương ứng. Sự mô hình hóa ARIMA có thể tính đến các xu hướng, tính thời vụ, chu kỳ, lỗi và các khía cạnh không cố định của một tập dữ liệu khi đưa ra dự báo.

Autoregressive Conditional Heteroskedasticity - ARCH / Mô hình dự báo rủi ro - ARCH

Đây là một thuật ngữ trong kinh tế lượng được sử dụng cho chuỗi thời gian đã được quan sát. Các mô hình ARCH được sử dụng để mô hình hóa chuỗi thời gian tài chính với sự biến động theo thời gian như giá cổ phiếu. Khái niệm ARCH được phát triển bởi nhà kinh tế Robert F. Engle, khi ông đã giành giải thưởng tưởng niệm Nobel năm 2003 về khoa học kinh tế. Các mô hình ARCH giả định rằng phương sai của thuật ngữ lỗi hiện tại có liên quan đến kích thước của các điều khoản lỗi trong các giai đoạn trước, dẫn đến việc tăng đến phân cụm biến động. Hiện tượng này có thể quan sát rộng rãi trên thị trường tài chính, trong đó các giai đoạn biến động thấp được theo sau bởi các giai đoạn biến động cao và ngược lại. Ví dụ, độ biến động của S & P 500 thấp một cách bất thường trong thời gian dài trong suốt thời điểm thị trường tăng giá từ năm 2003 đến 2007, trước khi tăng lên mức kỷ lục trong đợt điều chỉnh thị trường năm 2008. Các mô hình ARCH đã trở thành nền tảng của lý thuyết định giá kinh doanh chênh lệch và lý thuyết danh mục đầu tư.

Autoregressive / Quá trình tự hồi quy

Đây là một quy trình ngẫu nhiên được sử dụng trong các tính toán thống kê trong đó các giá trị tương lai được ước tính dựa trên tổng trọng số của các giá trị quá khứ. Một quá trình tự hồi quy hoạt động theo tiền đề, trong đó các giá trị trong quá khứ có ảnh hưởng đến các giá trị hiện tại. Một quy trình được coi là AR (1) là quy trình đặt hàng đầu tiên, có nghĩa là giá trị hiện tại được dựa trên giá trị ngay trước đó. Một quá trình AR (2) có giá trị hiện tại dựa trên hai giá trị trước đó. Các quá trình tự hồi quy được sử dụng bởi các nhà đầu tư trong việc phân tích công nghệ. Đường trung bình động và hồi quy có xu hướng nỗ lực tạo dự báo về biến động giá trong tương lai để đưa vào giá quá khứ trong tài khoản. Một nhược điểm của loại phân tích này là giá cả trong quá khứ sẽ không phải là yếu tố dự báo tốt nhất cho các chuyển động trong tương lai, đặc biệt là nếu các giá trị nền tảng của một công ty đã thay đổi.

Autonomous Expenditure / Chi tiêu tự định

Một thuật ngữ trong kinh tế vĩ mô đựoc sử dụng để miêu tả một biến trong tổng chi tiêu của nền kinh tế, không bị ảnh hưởng bởi mức thu nhập thực tế của nền kinh tế. Loại chi tiêu này được cho là tự động và cần thiết, đối với cả chi tiêu chính phủ lẫn chi tiêu cá nhân. Lý thuyết kinh tế cổ điển cho rằng chi phí tự định tăng lên sẽ ít nhất làm tăng giá trị tưong đương trong tổng sản lượng (như GDP), nếu không phải là một sự gia tăng lớn hơn nữa. Một số loại chi tiêu được coi là tự định của mức thu nhập (có thể tính là cả trong trường hợp thu nhập cá nhân hoặc thu nhập đã có thuế) đó là chi tiêu chính phủ, đầu tư, xuất khẩu và chi phí sinh hoạt cơ bản (chẳng hạn như thực phẩm và chi phí thuê nhà).

Autonomous Consumption / Tiêu dùng tự định

Là mức chi tiêu tối thiểu ngay cả khi người tiêu dùng hoàn toàn không có thu nhập. Khái niệm này đối lập với khái niệm mức chi tiêu tùy ý (discretionary consumption) - được sử dụng khi nói đến việc chi tiêu cho những thứ không cần thiết. Khi xem xét cùng thu nhập tùy ý, mức tiêu dùng tự định của một người sẽ thể hiện thu nhập hoặc mức lương thực tế của một người. Một số hóa đơn và chi phí được coi là tự định (hay độc lập), ví dụ như tiền điện, thức ăn, tiền thuê nhà, vì những chi phí này không bao giờ có thể loại bỏ hoàn toàn dù bạn có tiền hay không. Kể cả khi tình hình tài chính của bạn đang ở mức tồi tệ nhất, bạn vẫn cần phải ăn và có nơi để sinh sống. Nếu người tiêu dùng không có thu nhập trong suốt một khoảng thời gian, họ phải dùng tiền tiết kiệm để chi tiêu hay vay nợ để trả cho những chi phí này (chế độ giảm tiền tiết kiệm) (dissaving mode).

Tiêu Dùng Tự Định (Autonomous Consumption) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Tiêu Dùng Tự Định (Autonomous Consumption) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Automatic Transfer Service - ATS / Dịch vụ chuyển khoản tự động - ATS

Một dịch vụ của ngân hàng, mang cả ý nghĩa tổng quát lẫn cụ thể. Với ý nghĩa tổng quát, dịch vụ này tự động chuyển tiền giữa các tài khoản của khách hàng. Ví dụ, việc chuyển thường xuyên một khoản tiền từ tài khoản thanh toán của khách hàng để trả một khoản vay, hay việc chuyển tiền hàng tháng từ tài khoản thanh toán sang tài khoản tiết kiệm.Cụ thể hơn, nó thể hiện việc bảo vệ thấu chi, điều này được thực hiện trong trường hợp việc chuyển tiền từ tài khoản tiết kiệm của khách hàng đến tài khoản thanh toán diễn ra tự động khi trong tài khoản thanh toán không có đủ tiền để trả các khoản cần chi hay duy trì mức dư nợ tối thiểu. Thông thường, ngân hàng sẽ chuyển chính xác số tiền cần thiết để chi trả séc chưa thanh toán. Khách hàng sẽ tránh việc bị tính phí thấu chi và những rắc rối liên quan tới việc séc bị trả lại. Năm 1970, tài khoản ATS lần đầu tiên được giới thiệu sử dụng bởi quỹ tiết kiệm và cho vay và các ngân hàng tiết kiệm, nhằm cạnh tranh với các ngân hàng thương mại truyền thống. Theo Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), các loại tài khoản cổ phiếu ATS được liệt kê ở trong M1 bao hàm séc du lịch, các khoản ký gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán khác (ví dụ lệnh rút tiền khả nhượng (NOW) và hối phiếu của tổ chức tín dụng).Với lãi suất thấp cho các tài khoản thanh toán, những thỏa thuận này là chỉ tiêu chứ không hẳn là ngoại lệ, đặc biệt dành cho tài khoản thanh toán tại các công ty môi giới. Tài khoản tự động chuyển tiền là dành cho các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức, đơn vị thuộc chính phủ, còn các doanh nghiệp khác không đủ điều kiện để mở loại tài khoản này.

Automatic Transfer Of Funds / Tự động chuyển tiền

Một thỏa thuận của ngân hàng, trong việc chuyển tiền từ tài khoản của khách hàng được thực hiện thường xuyên và định kỳ mà không cần sự chỉ dẫn hay thực hiện nào từ phía khách hàng. Việc chuyển tiền tự động phổ biến nhất là thông qua chỉ dẫn "quét", trong đó các khoản dư trong một tài khoản sẽ được quét sang một tài khoản khác. Tài khoản có số dư bằng không này chủ yếu được sử dụng bởi các tập đoàn có nhiều công ty con. Chuyển tiền tự động thường được sử dụng để chuyển một khoản tiền biến động thường xuyên từ tài khoản thanh toán đến tài khoản tiết kiệm, hoặc từ tài khoản của vợ hoặc chồng đến tài khoản của người kia, hay tới tài khoản của con cái. Một ứng dụng phổ biến khác của hình thức chuyển tiền này là để phòng vệ thấu chi, khi đó tiền được chuyển từ một tài khoản có lãi suất cao hơn để trang trải các chi phí ở tài khoản khác.Chuyển tiền tự động cũng có thể được sử dụng trong các khoản thanh toán định kỳ, ví dụ vay thế chấp hay các khoản cho vay khác.

Automatic Stay / Luật tự động đình chỉ

Đây là một điều khoản theo Bộ luật Phá sản Hoa Kỳ cấm các chủ nợ bắt đầu hoặc tiếp tục các thủ tục tố tụng để thu các khoản nợ từ một doanh nghiệp đã nộp đơn xin phá sản theo Chương 11. (Hoa Kỳ) Luật tự động đình chỉ, chỉ có thể được bãi bỏ bởi thẩm phán trong lĩnh vực phá sản.

Automatic Stabilizer / Tự động ổn định

Một chính sách hoặc một chương trình về kinh tế có khả năng tăng, giảm tự động nhằm cân bằng tình hình kinh tế hiện tại mà không cần sự trợ giúp của chính phủ. Một ví dụ của chính sách này là bảo hiểm thất nghiệp.

Automatic Savings Plan / Kế hoạch tiết kiệm tự động

Một hệ thống tiết kiệm cá nhân, trong đó có kế hoạch tự động gửi một số tiền cố định trong một khoảng thời gian quy định vào tài khoản đầu tư của họ. Cấu trúc điển hình của hệ thống tiết kiệm này là tự động chuyển tiền từ một tài khoản cá nhân tại ngân hàng sang một tài khoản tiết kiệm hoặc một tài khoản đầu tư khác hai tuần một lần. Sau đó, mỗi khi cá nhân này nhận được tiền lương từ sếp, số tiền tiết kiệm mà họ mong muốn sẽ được tự động chuyển vào tài khoản tiết kiệm.   Một kế hoạch tiết kiệm tự động không chỉ có lợi trong việc nó được thực hiện tự động khi không còn phải đăng ký gửi tiền tiết kiệm bằng tay vào tài khoản tiết kiệm mỗi tháng. Ví dụ, hệ thống này gắn kết với ngân sách cá nhân dễ dàng hơn, bởi vì việc chi tiêu quá tay sẽ khó hơn và chi vào phần tiền tiết kiệm, một khi chúng đã được tự động chuyển khỏi tài khoản ngân hàng của bạn. Hệ thống này giúp nhà đầu tư tiếp tục gửi tiền tiết kiệm vào danh mục đầu tư của họ trong một thời gian dài, điều này bình thường rất khó khăn nếu nhà đầu tư liên tục gặp phải lỗ trong những khoản đầu tư của mình.

Automatic Rollover / Quá trình chuyển đổi giao dịch tự động

1. Đây là việc chuyển đổi các khoản phân bổ trong kế hoạch hưu trí tiêu chuẩn vào một tài khoản hưu trí cá nhân mà không yêu cầu bởi chủ tài khoản. 2. Đây cũng là việc tái đầu tư của một sự chứng nhận lợi tức và nguyên tắc khi đáo hạn của khoản tiền kí gửi mà chủ tài khoản không yêu cầu. Khi một CD đáo hạn, chủ sở hữu chứng nhận sẽ được hiển thị có một màn hình nhỏ trong khi di chuyển số tiền thu được sang tài khoản khác. Nếu chủ sở hữu này không làm gì, tổ chức tài chính sẽ tự động tái đầu tư số tiền thu được vào một CD mới với cùng kỳ hạn như CD gốc. 1. Các quy định của Tổng vụ thu thuế quốc gia Hoa Kỳ (IRS) ban hành năm 2001 như một phần của Tăng trưởng Kinh tế và Sắc lệnh điều hòa giảm nhẹ thuế (Tax Relief Reconciliation Act) yêu cầu các nhà tài trợ kế hoạch của sự đóng góp đủ tiêu chuẩn và các kế hoạch có lợi ích xác định, kế hoạch điều 457 và kế hoạch điều 403 (b) với sự cam kết rút tiền tự động để thiết lập một cách tự động một số sự phân bổ bắt buộc nhất định vào một IRA. Nếu chủ sở hữu kế hoạch muốn điều gì đó khác biệt xảy ra, họ có thể chọn phân phối tiền mặt hoặc tái đầu tư vào một tài khoản hưu trí cụ thể. Các quy định đã có hiệu lực vào năm 2005 và áp dụng cho các khoản phân bổ bắt buộc hơn 1.000 đô la đủ điều kiện để tái đầu tư và chịu khấu trừ thuế thu nhập liên bang. 2. Chuyển đổi giao dịch tự động, còn được gọi là "gia hạn tự động" (automatic renewal), có thể đơn giản hóa quá trình tái đầu tư cho chủ sở hữu CD. Bất lợi ở đây là người giữ CD có thể muốn đưa tiền vào một khoản đầu tư khác và nếu họ không hành động sớm trước khi tái đầu tư tự động diễn ra, sẽ có một hình phạt khi rút tiền ra và nộp vào CD mới trước thời hạn.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55