Asset Class / Lớp Tài Sản
Asset Class là một nhóm các loại tài sản hay loại công cụ đầu tư mà phần lợi nhuận thu hồi của nó không phụ thuộc vào nhóm hay loại công cụ đầu tư khác. Nói một cách rõ ràng hơn, đó là một nhóm công cụ đầu tư mà các đặc điểm về các khoản thu hồi và rủi ro của nó không bị lặp lại ở thị trường tiếp theo với các lớp tài sản khác và các loại tài sản không có rủi ro. Trong những năm gần đây trên thế giới có xu hướng đầu tư vào nhiều lớp tài sản hơn số đã đăng kí (hoặc được phép).
Activity-Based Costing / Hệ Thống Xác Lập Chi Phí Dựa Trên Hoạt Động - ABC
Activity-Based Costing là một phương pháp kế toán xác định các hoạt động mà một công ty thực hiện, và sau đó phân bổ các chi phí gián tiếp cho các sản phẩm. Hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động (ABC) công nhận mối quan hệ giữa chi phí, các hoạt động và các sản phẩm, và thông qua mối quan hệ này mà phân bổ chi phí gián tiếp cho các sản phẩm một cách chính xác hơn các phương pháp kế toán truyền thống. Một số chi phí rất khó để phân bổ bằng phương pháp kế toán chi phí này. Chi phí gián tiếp, ví dụ như lương cho quản lý và nhân viên văn phòng đôi khi sẽ rất khó để phân bổ cho một sản phẩm cụ thể mà công ty sản xuất. Vì lý do này, phương pháp này rất đặc biệt được dùng nhiều trong lĩnh vực sản xuất do đặc thủ ngành này dễ phân bổ.
Activity-Based Costing / Giá Thành Đảm Phí
Kế toán tính giá thành dựa vào phương thức hoạt động, nghĩa là các nhà quản trị chỉ chú ý đến nguồn gốc phát sinh chi phí ( những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn gốc phát sinh chi phí.
Asset Growth Rate / Tỷ Lệ Tăng Trưởng Tài Sản
Tỷ lệ tăng trưởng tài sản cho biết mức tăng trưởng tài sản tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này âm đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp tài sản của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng tài sản là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng tài sản như sau: Trong đó TS0 là tài sản của kỳ hiện tại. TSi là tài sản của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Tùy theo nhu cầu có thể sử dụng tổng tài sản, tài sản lưu động, tài sản dài hạn, hoặc tài sản cố định để tính tỷ lệ tăng trưởng của các loại tài sản khác nhau. Tăng trưởng tài sản không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn tốt. Khi phân tích tỷ lệ tăng trưởng tài sản chúng ta cần lưu ý tới nhiều yếu tố khác nhau: Mục đích tăng trưởng tài sản, loại tài sản nào có tăng trưởng, vốn tài trợ lấy từ nguồn nào, ... Nếu một doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận chưa chia để tái đầu tư, thì việc tăng trưởng tài sản thường mang ý nghĩa doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và việc tăng trưởng tài sản thường là một dấu hiệu tốt. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là vốn vay thì chúng ta lại cần thận trọng. Vì vốn vay sẽ phải trả cả lãi lẫn gốc, nên việc sử dụng vốn vay để đầu tư mang theo nhièu rủi ro, và quyết định đầu tư sai lầm có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bị thua lỗ nặng nề hoặc phá sản. Ví dụ một doanh nghiệp kinh doanh máy tính vay tiền ngân hàng để mua 1 lô hàng lớn với hi vọng bán kiếm lời, nhưng ngay sau khi hàng về, thì các nhà sản xuất máy tính lại cho ra xê ri mới có tính năng vượt trội và giá cả hợp lý. Lô hàng mà doanh nghiệp kinh doanh máy tính nói trên hiển nhiên sẽ rất khó tiêu thụ với giá cũ và doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ nặng nề. Mối quan tâm đối với tỷ lệ tăng trưởng tài sản giữa các ngành khác nhau rất khác nhau, chẳng hạn với ngành ngân hàng thì tăng trưởng tài sản là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu (bên cạnh tăng trưởng tín dụng), nhưng điều này lại không đúng với các ngành khác.
Tỷ lệ tăng trưởng tài sản cho biết mức tăng trưởng tài sản tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này âm đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp tài sản của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng tài sản là không xác định. Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng tài sản như sau: Trong đó TS0 là tài sản của kỳ hiện tại. TSi là tài sản của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Tùy theo nhu cầu có thể sử dụng tổng tài sản, tài sản lưu động, tài sản dài hạn, hoặc tài sản cố định để tính tỷ lệ tăng trưởng của các loại tài sản khác nhau. Tăng trưởng tài sản không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn tốt. Khi phân tích tỷ lệ tăng trưởng tài sản chúng ta cần lưu ý tới nhiều yếu tố khác nhau: Mục đích tăng trưởng tài sản, loại tài sản nào có tăng trưởng, vốn tài trợ lấy từ nguồn nào, ... Nếu một doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận chưa chia để tái đầu tư, thì việc tăng trưởng tài sản thường mang ý nghĩa doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và việc tăng trưởng tài sản thường là một dấu hiệu tốt. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chủ yếu là vốn vay thì chúng ta lại cần thận trọng. Vì vốn vay sẽ phải trả cả lãi lẫn gốc, nên việc sử dụng vốn vay để đầu tư mang theo nhièu rủi ro, và quyết định đầu tư sai lầm có thể dẫn đến việc doanh nghiệp bị thua lỗ nặng nề hoặc phá sản. Ví dụ một doanh nghiệp kinh doanh máy tính vay tiền ngân hàng để mua 1 lô hàng lớn với hi vọng bán kiếm lời, nhưng ngay sau khi hàng về, thì các nhà sản xuất máy tính lại cho ra xê ri mới có tính năng vượt trội và giá cả hợp lý. Lô hàng mà doanh nghiệp kinh doanh máy tính nói trên hiển nhiên sẽ rất khó tiêu thụ với giá cũ và doanh nghiệp sẽ bị thua lỗ nặng nề. Mối quan tâm đối với tỷ lệ tăng trưởng tài sản giữa các ngành khác nhau rất khác nhau, chẳng hạn với ngành ngân hàng thì tăng trưởng tài sản là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu (bên cạnh tăng trưởng tín dụng), nhưng điều này lại không đúng với các ngành khác.
Asset Management / Quản Lý Tài Sản
1. Quản lý việc đầu tư của một khách hàng thông qua một công ty dịch vụ tài chính, thường là một ngân hàng đầu tư. Công ty này sẽ đầu tư trên danh nghĩa khách hàng của mình và cho phép họ tiếp cận với những đề nghị đa dạng mà nhà đầu tư bình thường không có được. 2. Một tài khoản tại một định chế tài chính bao gồm các dịch vụ séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, vay kí quỹ, cũng như các dịch vụ môi giới. Còn được gọi là "asset management account" hoặc "central asset account". 1. Chi phí cho dịch vụ này khá cao nên thường chỉ dành cho các cá nhân giàu có, chính phủ, các đoàn thể hoặc những người trung gian tài chính. Nó bao gồm những sản phẩm nhưvốn sở hữu, thu nhập cố định, bất động sản, nông nghiệp và đầu tư quốc tế. 2. Khi các cá nhân nạp tiền vào tài khoản dạng này, tiền được đưa vào quỹ thị trường tiền tệ mang lại lợi nhuận cao hơn các tài khoản séc và tài khoản tiết kiệm thông thường. Thêm vào đó, các nhân có thể thực hiện giao dịch với ngân hàng và việc đầu tư tại cùng một cơ quan thay vì phải lập một tài khoản ngân hàng và một tài khoản môi giới tại 2 công ty khác nhau. Loại tài khoản này ra đời khi bộ luật Gramm-Leach-Bliley Act được thông qua vào năm 1997, thay thế bộ luật Glass-Steagall Act. Bộ luật Glass-Steagall Act được tạo thành trong bối cảnh của cuộc Đại khủng hoảng (Great Depression) và không cho phép các định chế tài chính cung cấp cùng lúc dịch vụ ngân hàng và chứng khoán.
1. Việc quản lý các khoản đầu tư của khách hàng bởi một công ty dịch vụ tài chính, thường là một ngân hàng đầu tư. Công ty sẽ đầu tư thay mặt cho khách hàng của mình và cho phép họ lựa chọn vào một loạt các sản phẩm dịch vụ truyền thống và thay thế mà những nhà đầu tư trung bình sẽ không tiếp cận được.2. Một tài khoản tại một tổ chức tài chính bao gồm các dịch vụ kiểm tra, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, cho vay ký quỹ, tự động gửi số dư tiền mặt vào quỹ thị trường tiền tệ, cũng như các dịch vụ môi giới. Còn được gọi là một "tài khoản quản lý tài sản" hay "tài khoản tài sản chính". 1. Các chi phí của dịch vụ này thường giới hạn cho những cá nhân có giá trị ròng cao, các chính phủ, các tập đoàn và các trung gian tài chính. Điều này bao gồm các sản phẩm như vốn chủ sở hữu, thu nhập cố định, bất động sản, nông nghiệp và đầu tư quốc tế. 2. Khi cá nhân gửi tiền vào tài khoản, khoản tiền đó sẽ được đặt vào một quỹ thị trường tiền tệ mà sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn bất cứ tài khoản tiết kiệm hoặc ATM nào. Lợi ích khác dành cho các cá nhân là họ có thể làm tất cả các hoạt động liên quan đến ngân hàng và đầu tư của mình tại cùng một tổ chức thay vì có một tài khoản ngân hàng và tài khoản môi giới ở hai công ty khác nhau. Các loại tài khoản xuất hiện với sự thông qua của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1997, thay thế Đạo luật Glass-Steagall. Đạo luật Glass-Steagall đã được thông qua trong thời kỳ Đại suy thoái và không cho phép các tổ chức tài chính cung cấp cả dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ cổ phiếu.
Quản Lý Tài Sản (Asset Management) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Quản Lý Tài Sản (Asset Management) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Asset Play / Cổ Phiếu Asset Play
Asset Play là những cổ phiếu được định giá không chính xác bởi vì giá trị tài sản tổng hợp của nó cao hơn giá trị vốn hóa thị trường của nó. Loại cổ phiếu này được gọi là "asset play" bởi vì động lực cho quyết định mua chủ yếu là do tài sản của công ty được chào bán ra thị trường với giá tương đối rẻ. Các nhà đầu tư mua cổ phiếu loại này với hy vọng sẽ có sự điều chỉnh về giá cả khiến cho giá trị vốn hóa của nó tăng, dẫn đến các khoản thu từ vốn.
Là loại cổ phiếu được định giá không chính xác có tính hấp dẫn cao bởi giá trị tải sản kết hợp của nó lớn hơn giá trị vốn hóa thị trường. Loại cổ phiếu này được gọi là "asset play" bởi vì động lực cho quyết định mua chủ yếu là do tài sản của công ty được chào bán ra thị trường với giá tương đối rẻ. Các nhà đầu tư mua cổ phiếu loại này với hy vọng sẽ có sự điều chỉnh về giá cả khiến cho giá trị vốn hóa của nó tăng, dẫn đến các khoản thu từ vốn.
Active Market / Thị Trường Năng Động - Thị Trường Tích Cực
Active Market là thị trường chứng khoán mà ở đó các giao dịch được thực hiện khá nhiều, với khối lượng lớn. Chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán không lớn trong thị trường năng động. Một thị trương năng động không những đem lại lợi nhuận cho các nhà môi giới, mà còn giúp các nhà đầu tư có tổ chức đạt dễ dàng đạt được các kỳ vọng đầu tư của mình cũng như gỡ bỏ được các khoản đầu tư không hiệu quả. Các nhà quản lý tiền thuộc các tổ chức thích loại thị trường như thế.
Active Management, Active Investing / Chiến Lược Đầu Tư Chủ Động
Đầu tư chủ động là chiến lược quản lý danh mục đầu tư trong đó nhà đầu tư tiến hành việc đầu tư với mục tiêu đạt kết quả tốt hơn các chỉ số chuẩn mực trên thị trường. Một cách lý tưởng, các nhà quản lý quĩ đầu tư tiến hành khai thác những sự kém hiệu quả của thị trường bằng việc mua vào các chứng khoán bị định giá thấp, hay bán khống các chứng khoán bị định giá cao. Tuỳ thuộc vào các mục tiêu cụ thể của một danh mục đầu tư hay của một quĩ tương hỗ, mà hoạt động đầu tư chủ động cũng có thể cố gắng đạt được mục tiêu giảm thiểu rủi ro hay biến động của các khoản đầu tư thay vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao trong dài hạn. Các nhà quản lý quĩ đầu tư chủ động có thể sử dụng nhiều chiến lược đầu tư khác nhau. Những chiến lược này có thể bao gồm những công cụ định lượng như tỉ lệ P/E, PEG, các dự đoán nội ngành để cố gắng dự đoán xu thế kinh tế vĩ mô dài hạn (vd xu thế tập trung vào cổ phiếu năng lượng hay nhà đất), hay chiến lược mua cổ phiếu của các công ty tạm thời không được ưa chuộng hoặc đang bị định giá thấp. Một số quĩ đầu tư chủ động còn theo đuổi những chiến lược khác, như kinh doanh chênh lệch giá cổ phiếu sáp nhập (merger abitrage), mua bán khống (short position), kinh doanh quyền chọn, phân bổ tài sản tài chính. Hiệu quả của một danh mục đầu tư chủ động hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của những nhà quản lý đầu tư và đội ngũ nghiên cứu. Trên thực tế, về lâu về dài đa số các kế hoạch đầu tư chủ động kiểu này hiếm khi vượt qua được các mức chuẩn thị trường. Khi tính toán đầy đủ các chi phí quản lý, giao dịch thì các kế hoạch đầu tư này có khi còn kém hiệu quả hơn bình quân thị trường, cho dù các chứng khoán mà nó đầu tư thu được kết quả tốt. Tuy nhiên, nếu không sử dụng chiến lược đầu tư chủ động mà sử dụng chiến lược đầu tư bị động, thì việc làm đó chẳng khác gì đánh bạc. Do đó mà các nhà đầu tư vẫn luôn dành ưu tiên nhất định cho các quĩ đầu tư chủ động. Ngoài ra, nhiều nhà đầu tư còn nhận thấy đầu tư chủ động là một chiến lược đầu tư hấp dẫn trong một số phân khúc thị trường nhất định mà ở đó thị trường hoạt động không hiệu quả, ví dụ như đầu tư vào các cổ phiếu của các công ty có qui mô nhỏ (small cap). Xem thêm: chiến lược đầu tư thụ động, tỉ lệ PEG
Asset Stripper / Người Thanh Lý Tái Sản
Asset Stripper là một cá nhân - người quyết định giá trị của một công ty có đáng để mua toàn bộ hoặc sẽ được chia ra thành những tài sản riêng biệt và bán với mức rẻ hơn bình thường. Nó thường được thực hiện để hoàn thành một thỏa thuận vay nợ. Thực chất, đây là người tìm kiếm khoản hạ giá trong số các công ty đang gặp rắc rối về tài chính chuẩn bị thanh lý tài sản của mình. Công việc này được miêu tả thú vị như một trò chơi vậy.
Asset Turnover Ratio / Hệ Số Vòng Quay Tổng Tài Sản
Asset turnover ratio có nghĩa là: Hệ số vòng quay tổng tài sản. Hệ số vòng quay tổng tài sản dùng để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài sản của công ty. Thông qua hệ số này chúng ta có thể biết được với mỗi một đồng tài sản có bao nhiêu đồng doanh thu được tạo ra. Công thức tính Hệ số vòng quay tổng tài sản như sau: Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản bình quân của ngành. Hệ số này lại ngược với lợi nhuận biên (profit margin - tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần), có nghĩa là hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận biên càng nhỏ và ngược lại.
Asset Value Theory (Of Exchange Rate Determination) / Lý Thuyết Giá Trị Tài Sản
Đây là một lý thuyết tìm cách giải thích sự biến động mạnh của tỉ giá hối đoái trong cơ chế tỉ giá hối đoái thả nổi. Khác với lý thuyết cân bằng sức mua là lý thuyết cho rằng sự đầu cơ không mâu thuẫn với quá trình đạt tới trạng thái cân bằng trong cán cân thanh toán tức là không có ảnh hưởng gì tới cán cân thanh toán, lý thuyết giá trị tài sản nhấn mạnh rằng nhận định này hoàn toàn sai. Theo lý thuyết giá trị tài sản thì tỷ giá hối đoái là giá của một tài sản, tức là mức giá khiến cho những người nắm giữ tài sản trong nước sẵn sàng nắm giữ tiền, hối phiếu, trái phiếu và các tài sản tài chính khác của một nước. Chúng ta có thể giải thích cụ thể nhận định này như sau: khi tỷ giá hối đoái thay đổi hoặc khi có sự thay đổi của kỳ vọng về tỷ giá hối đoái trong tương lai, người nắm giữ tài sản sẽ thay đổi cơ cấu tài sản của mình, tức là họ sẽ tìm cách nắm giữ nhiều tài sản này hơn, ít tài sản khác hơn. Sự thay đổi trong nhu cầu giữ tài sản bằng ngoại tệ hoặc bằng bằng nội tệ này đôi khi có thể gây ra những đột biến trong tỷ giá hối đoái. Việc các ngân hàng và định chế tài chính lớn nắm trong tay một lượng lớn ngoại tệ có thể làm hạn chế sự biến động của tỷ giá hối đoái vì lúc đó lượng vốn dành cho đầu cơ sẽ giảm.
Asset/Equity Ratio / Tỉ Lệ Tài Sản Trên Vốn Cổ Đông
Tỉ lệ tài sản trên vốn cổ đông biểu thị quan hệ giữa tổng tài sản của một công ty với phần tài sản do cổ đông sở hữu, hay vốn cổ đông. Tỉ lệ tài sản/vốn cổ đông chỉ ra khả năng lợi dụng vốn của một công ty và lượng vốn vay được sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Tỉ lệ tài sản trên vốn cổ đông phụ thuộc rất nhiều vào ngành kinh doanh của công ty, qui mô công ty, điều kiện kinh tế và nhiều nhân tố khác nữa. Không có một con số nào được coi là lý tưởng đối với tỉ lệ này. Ví dụ: các công ty tư vấn thường không cần nhiều vốn lắm bởi hoạt động của họ chủ yếu sử dụng các tài sản vô hình như kĩ năng, kiến thức của con người, ngược lại, với những công ty trong ngành kinh doanh bất động sản hoặc thương mại, vốn không bao giờ là đủ cả. Khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, công việc kinh doanh thuận lợi, hầu hết mọi công ty đều có nhu cầu vay thêm vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Đồng thời các nhà điều tiết vĩ mô cũng sẵn sàng nới lỏng lãi suất cho vay, giảm chi phí sử dụng vốn càng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng tỉ lệ vốn vay. Tỉ lệ tài sản/vốn cổ đông quá cao cho thấy có thể công ty này đã phải vay rất nhiều để duy trì hoạt động kinh doanh không mấy hiệu quả của mình. Tuy nhiên tỉ lệ tài sản/vốn cổ đông cao cũng có thể chứng tỏ rằng công ty này đã sử dụng vốn rất hiệu quả, khi nó nhân được nguồn lực kinh doanh của mình lên nhiều lần từ một số vốn cổ đông không lớn lắm. Nếu thu nhập mà số vốn vay này tạo ra lớn hơn chi phí của nó (tiền lãi) thì hiệu quả kinh doanh của công ty sẽ được nâng lên rõ rệt. Nhưng bao giờ cũng vậy, mỗi công ty đều có một điểm tới hạn nhất định mà nếu số vốn vay vượt quá mức đó thì lợi nhuận biên tạo ra sẽ không thể bù đắp nổi chi phí sử dụng vốn, kết quả là tổng lợi nhuận của công ty bị giảm sút, đẩy công ty vào tình trạng nguy hiểm. Cũng với logic tương tự, tỉ lệ tài sản/vốn cổ đông thấp cho thấy hoặc đây là một công ty rất mạnh, không cần đến vốn vay, hoặc đây cũng có thể là một công ty kinh doanh chắc ăn một cách thái quá, không dám vay vốn kinh doanh và cam chịu bỏ qua những cơ hội kinh doanh tốt trên thị trường. Nghịch đảo của tỉ lệ này là tỉ lệ vốn cổ đông/tổng tài sản, gọi tắt là tỉ lệ vốn cổ đông. Tỉ lệ vốn cổ đông giúp xác định số tiền mà các cổ đông sẽ nhận được trong trường hợp công ty bị thanh lý hoàn toàn. Tỉ lệ này được tính theo số phần trăm của tổng vốn cổ đông (vốn chủ sở hữu) so với tổng tài sản công ty được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán. Ví dụ: giả sử một công ty có tỉ lệ vốn cổ đông là 40% và tổng tài sản 500 triệu USD. Điều này có nghĩa là, trong trường hợp thanh lý công ty, tổng số tiền các cổ đông nhận được sẽ là 40%x500 = 200 triệu USD Xem thêm: Lợi dụng vốn
Asset-Based Financing / Cho Vay Trên Tài Sản
Asset-Based Financing là các khoản cho vay trên tài sản là khoản tín dụng được bảo đảm bằng các tài sản ngắn hạn của hãng, được dự tính sẽ chuyển thành tiền mặt trong tương lai. Tài sản chủ yếu được bảo đảm cho các khoản vay bao gồm các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho. Ngân hàng cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của tài khoản phải thu hoặc trên giá trị hàng tồn kho. Khi thu hồi được các khoản phải thu hoặc bán được hàng doanh nghiệp sẽ chuyển một phần tiền mặt thu về tới ngân hàng để trả nợ tiền vay. Đối với hầu hết những khoản cho vay được thế chấp bằng các khoản phải thu hay hàng tồn kho, doanh nghiệp đi vay vẫn có quyền sở hữu đối với tài sản. Tuy nhiên, đôi khi quyền sở hữu cũng được chuyển cho ngân hàng để hạn chế rủi ro khi một số khoản nợ không được thanh toán như dự tính.
Asset-Liability Management / Quản Lí Tài Sản - Nợ Phải Trả
Quản lý thực tế bằng cân đối kế toán của một ngân hàng nhằm duy trì hỗn hợp các khoản vay và tiền gửi phù hợp với mục tiêu tăng trưởng dàu hạn và quản lý rủi ro. Trong quá trình kinh doanh bình thường, các ngân hàng chấp nhận rủi ro tài chính bằng cách chi vay với lãi suất khác với lãi suất trả cho tiền gửi. Tiền gửi thường có đáo hạn ngắn hơn các khoản cho vay, và điều chỉnh theo lãi suất thị trường hiện hành nhanh hơn các khoản cho vay. Kết quả là có sự không cân xứng trong bảng cân đối kế toán giữa tài sản và nợ phải trả. Chức năng quản lý tài sản - nợ phải trả là đo lường và kiểm soát ba cấp độ rủi ro tài chính: rủi ro lãi suất (chênh lệch giá giữa khoản cho vay và tiền gửi) và rủi ro thanh khoản (xảy ra khi các khoản cho vay và tiền gửi có kỳ đáo hạn khá nhau) Mục tiêu đầu tiên trong việc quản lý tài sản - nợ phải trả là quản lý tiền lãi biên ròng giữa tài sản phát sinh lãi (khoản cho vay) và nợ tiền trả lãi (tiền gửi) nhằm tạo ra sự tăng trưởng nhất quán trong danh mục cho vay và lợi nhuận cổ đông, bất chấp sự biến động lãi suất ngắn hạn. Chênh lệch bằng iền giữa tài sản đáo hạn (tiền cho vay) với nợ (tiền gửi) là khoảng cách nhạy với lãi suất (hay khoảng cách đáo hạn). Các ngân hàng cố gắng quản lý khoảng cách tài sản - nợ này bằng cách định giá một vài khoản cho vay của họ theo các mức lãi suất khác nhau. xem DYNAMIC GAP; GAPPING; LIQUIDITY; MATCHED MATURITIES; MISMATCH; NEGATIVE GAP; POSITIVE GAP; REFINANCE RISK; REINVESTMENT RISK; REPRICING OPPORTUNITIES; STATIC GAP; ZERO GAP.
Assignment / Chuyển Nhượng, Chuyển Giao
1. Việc chuyển giao quyền sở hữu, hoặc quyền sử dụng tài sản thế chấp hoặc tài sản của môt cá nhân cho một người khác hoặc tổ chức kinh doanh khác. 2. Thông báo mà người lập hợp đồng quyền chọn nhận được cho biết quyền chọn đã được mua bởi người mua quyền chọn.
Assets Motives / Những Động Cơ Tài Sản
Assets Motives là những động cơ tài sản, tên được đặt cho câu hỏi liệu việc kết nối một biến chính sách, ví dụ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ một cách duy nhất để đạt được một mục tiêu chính sách, ví dụ cán cân thanh toán quốc tế dưới các chế độ về tỷ giá HỐI ĐOÁI có thể được hay không. Kết luận là không thể làm được như vậy.
Những Động Cơ Tài Sản (Assets Motives) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Những Động Cơ Tài Sản (Assets Motives) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Active Management / Quản Trị Năng Động
Active Management là quản trị năng động, đề cập đến nhân tố con người như các nhà quản trị đơn lẻ hoặc các nhà đồng quản trị hoặc một đội ngũ quản trị quản lý danh mục đầu tư của quỹ một cách năng động. Các nhà quản trị năng động dựa trên các nghiên cứu phân tích, dự báo và đưa ra các phán đoán của riêng mình. Họ cũng dựa vào các kinh nghiệm đầu tư để xem xét nên mua, bán, hay nắm giữ loại chứng khoán nào. Ngược lại của quản trị năng động là quản trị thụ động, đại diện của quản trị thụ động thường thấy nhất là đầu tư theo chỉ số. Nhà đầu tư nào tin vào quản trị năng động sẽ không tin vào lý thuyết thị trường hiệu quả. Họ tin rằng họ có thể kiếm được lợi nhuận từ thị trường chứng khoán thông qua các chiến lược tìm kiếm các chứng khoán đang bị định giá không đúng.Các công ty đầu tư (nhà tài trợ quỹ) những ai tin rằng họ có khả năng đánh bại được thị trường thường sẽ thuê một đội ngũ các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp để quản trị một hoặc nhiều quỹ hỗ tuơng của công ty. Mục tiêu của quản trị năng động nhằm tạo ra tỷ suất sinh lợi tốt hơn các quỹ chỉ số được quản lý thụ động. Ví dụ, nếu bạn là nhà quản lý quỹ cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường lớn, bạn sẽ muốn đánh bại chỉ số S&P500. Không may, đối với phần lớn các nhà quản trị năng động, điều này dường như là” điệp vụ bất khả thi”. Hiện tượng này đơn giản là sự phản ánh mức độ khó khăn của việc đánh bại lại thị trường cho dù các nhà quản trị có thông minh đến như thế nào đi chăng nữa
Assisted Areas / Vùng Được Hỗ Trợ
Assisted areas có nghĩa là: Các vùng được hỗ trợ. Là các vùng trong một nước mà ở đó hoạt động kinh tế được hỗ trợ bởi chính sách chi tiêu và thuế của chính phủ, những chính sách này không được áp dụng ở những vùng không được hỗ trợ. Việc thực hiện những chính sách như vậy được gọi là chính sách khu vực. Ở Anh, những vùng này thường được chỉ rõ do có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn rõ rệt so với mức trung bình của quốc gia. Các tiêu chí khác có thể là thu nhập trên đầu người hay tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Các vùng được trợ giúp hình thành ở Anh năm 1934 với tên gọi "Khu vực đặc biệt", sau đó lần lượt được tổ chức lại và mở rộng thành các "Khu phát triển". Năm 1984 được cơ cấu lại thành hai cấp là các vùng phát triển và các vùng trung gian. Đến tháng 4 năm 1988, Bộ Thương mại và Công nghiệp (DTI) bãi bỏ trợ cấp phát triển khu vực, và chỉ hỗ trợ nếu không có nó thì đầu tư không thể diễn ra.
Association Of Chartered Certified Accountants - ACCA / Hiệp Hội Các Kế Toán Viên Được Chứng Nhận Đủ Tiêu Chuẩn Hành Nghề
ACCA (the Association of Chartered Certified Accountants) là tên viết tắt của một tổ chức lớn đào tạo chuyên ngành về kế toán và cung cấp dịch vụ kế toán được thừa nhận rộng rãi: Hiệp hội các kế toán viên được chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề. Hiện ACCA có quy mô hoạt động toàn cầu, và có nhiệm vụ bao trùm là đào tạo cấp chứng chỉ uy tín cho người muốn hành nghề kế toán trong doanh nghiệp, cũng như người muốn nghiên cứu tài chính hay các vấn đề cốt yếu của quản trị doanh nghiệp. Được thành lập từ năm 1904 và có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, quá trình tồn tại và phát triển của ACCA đã hơn 100 năm, đào tạo ra nhiều thế hệ và chứng chỉ hành nghề của họ đã được thử thách qua thời gian và thị trường. ACCA còn có tham vọng viết ra những chuẩn mực nghề nghiệp về kế toán và tài chính, dựa trên các đánh giá của họ về nhu cầu và tiến triển kinh doanh trong tương lai. Theo thống kê của chính ACCA thì họ có hơn 122.000 thành viên chính thức và 325.000 người theo học tại 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mạng lưới của ACCA có 80 văn phòng và trung tâm đào tạo. Những nơi này có nhiệm vụ cung cấp tài liệu, hướng dẫn, đào tạo và cung cấp điểm thi đủ chuẩn. ACCA công nhận khoảng 50 đối tác đào tạo và hành nghề kế toán đủ chuẩn toàn cầu, đồng thời cũng phục vụ các công ty MNCs/TNCs là khách hàng sử dụng "sản phẩm" của ACCA. Ở Việt Nam, tính tới tháng 6/2008, có khoảng 300 người được công nhận là hội viên của ACCA. Bằng, chứng chỉ kế toán của ACCA được chia làm các loại khác nhau: ACCA- CAT, ACCA- Professional và Dip FM. Loại ACCA- CAT (Certified Accounting Technician) là chứng chỉ "kế toán viên được xác nhận" ở mức thấp hơn kế toán, chủ yếu làm các công việc đơn giản hơn của một kế toán thông thường, công việc chính là ghi chép các thông tin kế toán để từ đó, kế toán tổng hợp và làm báo cáo. Loại ACCA- Professional thường được gọi tắt là ACCA. Đây là loại bằng "kế toán kiểm chứng" và được cấp bởi Hiệp hội kế toán Hoàng gia Anh. Những người đã học xong ACCA có đủ điều kiện làm việc trong nghạch kế toán, kiểm toán và có được kiến thức kế toán ở mức độ cao nhất. Loại Dip FM (Diploma in Financial Management) là chứng chỉ về quản lý tài chính, dành cho những nhà quản lý nhưng chưa có nhiều kiến thức về kế toán cũng như quản lý tài chính ở doanh nghiệp. Đây là một khoá học ngắn hạn, chỉ trong một năm để giúp nhà quản lý có những kiến thức cơ bản nhất.
Active Balance / Dư Ngạch
Trong lý thuyết tiền tệ, một vài mô hình giả thiết chia một cung ứng tiền tệ thành DƯ NGẠCH, đó là tiền dự trữ được đưa vào quay vòng trong các thời kỳ được xác định bởi các khoảng thời gian giữa các kỳ thanh toán, và NGẠCH NHÀN RỖI là tiền dự trữ không được sử dụng để thanh toán thường xuyên.





