Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Arbitration / Trọng Tài Phân Xử

Đây là một hình thức khác thay cho vụ kiện tài toà án, nhằm dàn xếp tranh chấp giữa broker và khách hàng cũng như giữa các công ty môi giới chứng khoán. Theo thông lệ các điều khoản phân xử trước các tranh chấp đã có ghi trong thoả hiệp tài khoản với broker, nó đảm bảo rằng các tranh chấp sẽ được phân xử bởi bên thứ ba có tính khách quan và không đưa ra toà án. Năm 1989, SEC (Securities and Exchange Commission) chấp thuận các thay đổi bao quát yêu cầu broker thông báo rõ ràng khi có các điều khoản này, ngăn cấm bất cứ một giới hạn nào về quyền của khách hàng trong việc đệ đơn xin phân xử và đặt ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về trọng tài phân xử.

1. Hòa giải tranh chấp sau khi nghe các tranh cãi, bởi một trọng tài, không phải bởi phiên tòa xét xử. Nếu việc phân xử được chấp nhận, các bên có liên quan đồng ý thi hành quyết định của người trọng tài, vốn chỉ ràng buộc các bên tranh chấp, và không phải là tiền lệ pháp lý, như phán quyết pháp luật. Khi quyết định các vấn đề phức tạp, trọng tài có thể là cách giải quyết tranh chấp thích hợp hơn kiện tụng và xét xử chính thức tại tòa án. 2. Trong ngành chứng khoán, là một phương pháp giải quyết tranh chấp giữa các công ty thành viên, hay giữa công ty thành viên với các công ty không thành viên. Trọng tài chứng khoán thường theo các quy định được Hiệp hội nhà kinh doanh Chứng khoán Quốc gia, Ủy ban quy định chứng khoán đô thị, các trung tâm giao dịch chứng khoán. Ý kiến của một ủy ban trọng tài từ ba đến năm thành viên, được coi là quyết định và mang tính ràng buộc. Việc phân xử tranh chấp liên quan đến các nhà kinh doanh môi giới và khách hàng của họ thường là một phần của bản thỏa thuận môi giới, nhưng thường có thể giới hạn quyền của một khách hàng kiện nhà môi giới.

Adb - Asian Development Bank / Ngân Hàng Phát Triển Châu Á

ADB - Ngân hàng Phát triển châu Á là một ngân hàng phát triển khu vực được thành lập năm 1966 nhằm thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, xã hội ở các nước châu Á Thái Bình Dương thông qua các khoản tín dụng và hỗ trợ kĩ thuật, lần lượt vào khoảng 6 tỉ và 180 triệu USD mỗi năm. ADB là một thể chế phát triển tài chính đa phương với 66 thành viên bao gồm 47 nước trong khu vực và 19 nước ở các nơi khác trên khắp toàn cầu. ADB hướng đến viễn cảnh về một khu vực không có đói nghèo, và tự đặt cho nó sứ mệnh giúp đỡ các quốc gia thành viên đang phát triển giảm đói nghèo và nâng cao mức sống người dân. Hoạt động của ADB nhắm tới việc cải thiện phúc lợi cho người dân châu Á -Thái Bình Dương, đặc biệt là 1.9 tỉ người đang sống dưới mức 2 USD/ngày. Cho dù người ta có nói nhiều về những giai thoại thành công đi chăng nữa, thì sự thật, châu Á Thái Bình Dương vẫn là nơi có đến 2/3 số người nghèo của thế giới. ADB được xây dựng như một bản sao của World Bank, với nguồn vốn thành lập xuất phát từ Chính phủ các nước Mỹ, Nhật và Tây Âu. Nguồn tài trợ chính cho các khoản cho vay của ADB là từ việc phát hành trái phiếu trên thị trường châu Âu. Dù cho mức tăng trưởng kinh tế mau lẹ ở một số nước thành viên trong thời gian gần đây đã dẫn đến một số thay đổi tới một mức độ nào đó, thì hầu như trong suốt lịch sử của ADB, ngân hàng này vẫn hoạt động trên cơ sở các dự án, đặc biệt là trong những lĩnh vực như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp và cấp vốn vay cho các ngành công nghiệp cơ bản ở các nước thành viên. Trên lý thuyết, ADB là người cho vay của các Chính phủ và các tổ chức của Chính phủ, song nó còn tham gia vào quá trình nâng cao tính thanh khoản và tối ưu hoá hoạt động trong các khu vực tư nhân ở các nước thành viên trong khu vực. Về cơ cấu tổ chức, cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB là Ban Thống đốc do mỗi quốc gia thành viên đóng góp một đại diện. Đến lượt nó ban Thống đốc lại tự bầu ra trong số họ 12 thành viên của Ban Giám đốc và các cấp phó của họ. 8 trong số 12 thành viên này là đại diện của các quốc gia trong khu vực(các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương) và số còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực. Ban Thống đốc còn bầu ra chủ tịch Ngân hàng, là người đứng đầu Ban Giám đốc và điều hành ADB. Mỗi chủ tịch giữ cương vị của mình trong một nhiệm kì kéo dài 5 năm và có thể được tái đắc cử. Theo truyền thống và vì  Nhật Bản là một trong những cổ đông lớn nhất của ADB, cho nên chủ tịch của ADB đã luôn là người Nhật. Chủ tịch đương nhiệm của ADB là Haruhiko Kuroda.Trụ sở của ngân hàng ADB đặt tại 6 ADB Avenue, thành phố Mandaluyong, Metro Manila, Philippine, và có văn phòng đại diện trên khắp thế giới. Hiện ADB có khoảng 2400 nhân viên, đến từ 53 trên tổng số 66 quốc gia thành viên, và hơn một nửa số nhân viên của họ là người Philippin. CHXH Việt Nam là thành viên của ADB từ năm 1966.

Arch / Kiểm Nghiệm Arch

Kiểm Nghiệm Arch dùng để chỉ phương sai của sai số thay đổi điều kiện tự nhiên giảm, là một trắc nghiệm để phân biệt giữa tương quan chuỗi trong điều kiện xáo trộn và hiệu ứng nảy sinh từ sự biến đổi của xáo động được gọi là hiệu ứng ARCH.

Aristotle / 384-322 BC

Aristotle là nhà triết học HY LẠP, các công trình của ông bao gồm cả các vấn đề kinh tế và trong những bài viết của ông có thể thấy những phân tích về sản xuất, phân phối và trao đổi. Trong phân tích về trao đổi, ông phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi

Adaptive Expectation / Kỳ Vọng Thích Nghi; Kỳ Vọng Phỏng Theo

Adaptive Expectation là sự hình thành kỳ vọng về giá trị tương lai của một biến số chỉ dựa trên các giá trị trước đó của biến liên quan.

Arithmetic Progression / Cấp Số Cộng

Arithmetic Progression là cấp số cộng, một dãy số hay những biểu thức đại sổ trong đó mỗi thàn phần mang một mối liên hệ cộng thêm đối với mỗi thành phần đứng trước và sau nó.

Arms Index - Trin / Arms Index - Trin

Một dấu chỉ trong phân tích kĩ thuật ngắn hạn được tính toán bằng cách lấy .. chia cho lượng TRIN là viết tắt của TRader's INdex, nghĩa là chỉ số của thương nhân. Chỉ số này được phát triển năm 1967 bởi Richard Arms. Chỉ số bằng 1 nghĩa là thị trường đang ở mức cân bằng, lớn hơn 1 cho biết.

A-D Index (Advance - Decline) / Chỉ Số A-D

Chỉ số A-D (Advance - Decline Index - A-D) là chỉ số xác định xu hướng thị trường. Chỉ số này được xác định theo công thức sau: A-D index = (số chứng khoán được bán cao hơn giá đóng cửa phiên trước - số chứng khoán bán thấp hơn giá đóng cửa phiên trước) + chỉ số A-D của phiên trước Ví dụ: chỉ số A-D ngày 22/2/07 của S&P 500 là 1500, phiên ngày 23/2 có 350 cổ phiếu được bán cao hơn và 250 bán thấp hơn giá đóng cửa ngày 22/2. Như vậy chỉ số A-D ngày 23/2 của S&P 500 là 350-250+1500=1600. Nhìn chung việc chỉ số A-D tăng góp phần khẳng định thêm là xu hướng lên giá của thị trường sẽ tiếp tục. Nếu thị trường đang sốt giá, nhưng số cổ phiếu mất giá lại lớn hơn số cổ phiếu được giá, tức là chỉ số A-D giảm, thì đó rất có thể là một tín hiệu cho thấy thị trường sắp sửa xoay chiều. Chỉ số A-D được tính toán dựa trên số liệu tổng hợp sau mỗi ngày giao dịch trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn như NYSE hay NASDAQ. Gắn liền với chỉ số A-D là đường A-D được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các chỉ số A-D mỗi ngày. Độ dốc của đường A-D phản ánh mức độ biến động của thị trường. Các nhà đầu tư thường so sánh đường A-D với các chỉ số chứng khoán quan trọng khác như Dow Jones hay S&P 500. Do đường A-D phản ánh biến động chung của thị trường, nên bất cứ sự đổi hướng nào của nó cũng đều được các chuyên gia trên thị trường chứng khoán theo dõi rất sát sao. Chừng nào đường A-D còn đi theo hướng của chỉ số Dow Jones thì xu hướng biến động tương ứng sẽ còn tiếp diễn.

Arm's Length Transaction / Giao Dịch Độc Lập

Giao dịch được thực hiện bởi các bên không có liên quan hay không liên kết, như bởi một người mua tự nguyện và một người bán tự nguyện, mỗi bên hành động vì lợi ích riêng của chính họ. Việc định giá dựa trên các giao dịch như thế là cơ sở cho việc định giá thị trường hợp lý.

Giao dịch được thực hiện bởi các bên không có liên quan hay liên kết, như bởi một người mua tự nguyện và một người bán tự nguyện, mỗi bên hành động vì lợi ích riêng của chính họ. Việc định giá dựa trên các giao dịch như thế là cơ sở cho việc định giá thị trường hợp lý.

Acu - Asian Currency Units / Đơn Vị Tiền Tệ Chung Châu Á

ACU - Asian currency units: Đơn vị tiền tệ chung châu Á Đồng ACU, đồng tiền chung châu Á là đơn vị tiền tệ dự tính cho các nền kinh tế trong ASEAN+3 (Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc). Đồng ACU lấy ý tưởng từ đồng tiền chung của EC trong quá khứ - đồng ECU. ACU chưa phải là một đồng tiền thực mà mới dừng lại là chỉ số đại diện cho một rổ tiền tệ, tức là một chỉ số bình quân gia quyền của đồng tiền các nước Đông Á, đóng vai trò như một chuẩn mực để đánh giá các biến động tiền tệ trong khu vực. Ý tưởng về một đồng tiền châu Á được đề xuất lần đầu tiên bởi thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 1997. Năm 2003, "cha đẻ" của đồng Euro, người đã giành giải Nobel về kinh tế học, ông Robert Mondale cũng đã gợi ý việc xây dựng một đồng tiền chung châu Á, kiểu như đồng "Nhân dân tệ châu Á".  Mục đích của việc xây dựng đồng tiền này là nhằm thúc đẩy hợp tác và phát triển kinh tế trong khu vực lên một tầm cao mới. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) hiện đang xem xét lại một số lựa chọn về đến khía cạnh kĩ thuật liên quan đến cách tính toán giá trị đồng ACU, bao gồm nội dung của rổ tiền tệ, lựa chọn giữa việc cố định trọng số tính toán hay cố định các đơn vị, đồng tiền nào sẽ đưa vào rổ tiền tệ, lựa chọn trọng số, các tiêu chí cho việc đánh giá định kì, cũng như nhiều mặt khác nữa. Sau khi hoàn thành xong việc xem xét nội bộ tất cả những khía cạnh kĩ thuật này, ADB muốn post một vài chỉ số cho đồng ACU trên website trong thời gian tới. ADB dự kiến công bố chi tiết về đồng ACU sớm nhất là vào tháng 3/2006. Tuy nhiên, sức ép từ bên ngoài đã làm chậm việc công bố trên, dù cho khái niệm mới này vẫn đang được nghiên cứu rất tỉ mỉ. Trên thực tế EU mất khoảng 20 năm mới có được đồng tiền chung châu Âu Euro sau sự ra đời của đồng ECU, cho nên vẫn còn quá sớm để nói đến việc xây dựng một đồng tiền chung châu Á thực thụ.

Arrears, Arrearage / Nợ Đọng

Arrears, Arrearage là một khoản vay nợ, cổ phiếu ưu đãi tích lũy hay bất cứ công cụ tín dụng nào đã quá hạn thanh toán. Cũng được gọi là "arrears" Trong trường hợp cổ tức ưu đãi, nếu công ty không trả cổ tức cho cổ đông của mình, nó được gọi là tích lũy. Điều đó có nghĩa là trong tương lai, khoản nợ đọng buộc phải được trả trước khi bất cứ cổ tức nào được trả cho cổ phiếu thường.

Arrow Kenneth J. / (1921-)

Nhà kinh tế học người Mỹ đồng giải Nobel về kinh tế học với huân tước John Hicks năm 1972. Ông được biết đến nhiều nhất do công trình về các hệ thống CÂN BẰNG TỔNG QUÁT và trình bày về các điều kiện toán học cần thiết cho một hệ thống như vậy để được nghiệm có ý nghĩa về kinh tế. Ông cũng có công trình tiên phong về việc ra quyết định trong những điều kiện không chắc chắn. Trong cuốn SỰ LỰA CHỌN XÃ HỘI VÀ CÁC GIÁ TRỊ CÁ NHÂN (1951), ông trình bày kinh tế học phúc lợi với một tình trạng tiến thoái lưỡng nan, khi dựa trên cơ sở những giả định đảm bảo sự tự chủ của người tiêu dùng cộng thêm sự hợp lý, ông chứng minh rằng không thể xác định được sự xếp hạng xã hội về các phương án lựa chọn tương ứng với sự xếp hạng của các cá nhân, và như vậy cũng không thể đưa ra được CHỨC NĂNG PHÚC LỢI XÃ HỘI . Chức năng này liên quan một cách tích cực tới lựa chọn cá nhân, xã hội không thể quyết định nó muốn gì. Arrow cũng có công trong việc đưa vào học thuyết tăng trưởng giả thuyết học qua hành với tư cách là một nguồn tăng năng suất. Các ấn phẩm chính của ông là : Nghiên cứu trong lý thuyết toán học về dự trữ và sản xuất (1958); Sự lựa chọn xã hội và các giá trị cá nhân (1951); Các tiểu luận về lý thuyết chịu rủi ro (1970); Phân tích dựa trên tổng hợp (với F.H.Hahn) (1971).

Asia Pacific Economic Cooperation (APEC) / Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á – Thái Bình Dương

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation, viết tắt là APEC) là tổ chức quốc tế của các quốc gia nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị. APEC được thành lập vào tháng 11 năm 1989 với 12 thành viên sáng lập: Úc, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada, Mỹ. Đến năm 1991 kết nạp thêm 3 thành viên: Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan. Năm 1993 có thêm 2 thành viên: Mexico, Papua New Guinee. Chile được kết nạp vào năm 1994. Năm 1998 có thêm 3 thành viên được kết nạp là Việt Nam, Liên bang Nga, Pêru nâng tổng số thành viên của APEC lên thành 21 thành viên. Người đứng đầu chính phủ của tất cả thành viên APEC gặp nhau mỗi năm một lần trong một kỳ họp thượng đỉnh được gọi là "Hội nghị Lãnh đạo APEC", được tổ chức lần lượt tại mỗi nền kinh tế thành viên APEC. Cơ cấu tổ chức, gồm có: Hội nghị thượng đỉnh Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao Hội đồng thương mại và đầu tư Hội đồng phát triển kinh tế  Ủy ban hỗ trợ thương mại Mục tiêu hoạt động của APEC: có 3 mục tiêu Tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2020 Tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư giữa hai khu vực phát triển Hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật nhằm hỗ trợ lẫn nhau phát triển, phát huy những thành tựu tích cực mà nền kinh tế của các nước trong khu vực đã tạo ra vì lợi ích của khu vực và cả thế giới Nguyên tắc hoạt động của APEC: Hợp tác giữa các thành viên APEC được tiến hành theo 9 nguyên tắc sau: Toàn diện: Tiến trình tự do hóa và thuận lợi hóa trong APEC sẽ được triển khai ở tất cả các lĩnh vực kinh tế để giải quyết tất cả các hình thức cản trở mục tiêu lâu dài của thương mại và đầu tư tự do.  Phối hợp với WTO: Các biện pháp áp dụng trong APEC phải phù hợp những cam kết để đạt được ở WTO Đảm bảo môi trường tương xứng giữa các thành viên trong việc thực hiện tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, xem xét thích đáng tới mức độ tự do hóa và thuận lợi hóa đã đạt được ở mỗi nước Thực hiện chủ nghĩa khu vực mở, không phân biệt đối xử:  Tự do hóa thương mại và đầu tư trong APEC sẽ được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử ( kể cả các nước không phải là thành viên) Đảm bảo sự rõ ràng công khai mọi luật lệ chính sách hiện hành tại các nước thành viên APEC Lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc, chỉ có giảm, không tăng thêm các biện pháp bảo hộ Tiến trình tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư của APEC được tất cả các nước thành viên đồng loạt triển khai, thực hiện liên tục, với những thời gian biểu khác nhau. Mọi thành viên APEC đều bình đẳng, mọi quyết định đều đạt tới bằng sự nhất trí chung tôn trọng quan điểm của các nước tham gia. Có sự linh hoạt trong việc thực hiện các vấn đề tự do hóa thương mại và đầu tư vì trình độ phát triển kinh tế của các nước APEC khác nhau Hợp tác: APEC chủ trương hợp tác kinh tế, kỹ thuật để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển một cách bền vững.

Asian Option / Quyền Chọn Kiểu Châu Á

Là loại quyền chọn mà việc thanh toán phụ thuộc vào giá trung bình của những tài sản cơ sở trong một thời kì nhất định chứ không phải là thời điểm đáo hạn. Còn được gọi là quyền chọn trung bình.  Loại hợp đồng quyền chọn này rất hấp dẫn các nhà đầu tư bởi vì chi phí cho nó thấp hơn so với quyền chọn kiểu Mỹ thông thường. Một quyền chọn theo kiểu châu Á có thể bảo vệ nhà đầu tư khỏi những rủi ro bất ổn định từ thị trường.

Asked Price, Offering Price / Giá Chào Bán

Là giá mà một chứng khoán hay hàng hóa được chào bán để trao đổi hay trên thị trường phi tập trung OTC (over-the-counter market). Nói chung, đây là giá thấp nhất mà người bán chấp nhận để bán một chứng khoán tại một thời điểm nhất định. Giá chào bán trái ngược với giá chào mua-giá cao nhất mà người mua tiềm năng chấp nhận mua. Một định nghĩa khác, giá một chứng khoán mà quỹ tương hỗ chào bán ra công chúng, thường là giá trị tài sản thuần trên mỗi chứng khoán cộng với phí bán (nếu có). Còn được gọi là ask price, asking price, ask, hoặc offering price.

Assessable Income Or Profit / Thu Nhập Hoặc Lợi Nhuận Chịu Thuế

Xem TAXABLE INCOME, ALLOWANCES AND EXPENSES FOR CORPORATION TAX, ALLOWANCES AND EXPENSES FOR INCOME TAX.

Asset / Tài Sản

1. Một tài nguyên có giá trị kinh tế được một cá nhân, một tổ chức hay một quốc gia sở hữu hoặc quản lý với hy vọng thu được lợi nhuận từ chúng. 2. Một khoản trong bản cân đối đại diện cho những gì công ty sở hữu. 1. Tài sản được mua để tăng giá trị một công ty hoặc để tạo thuận lợi cho hoạt động của công ty. Có thể nghĩ về tài sản như một thứ có thể sản sinh ra lưu lượng tiền mặt, cho dù nó là trang thiết bị sản xuất của một công ty hay căn hộ cho thuê của một cá nhân. 2. Trong kế toán, tài sản có thể là tài sản ngắn hạn hoặc tài sản cố định. Ngắn hạn nghĩa là tài sản sẽ được tiêu thụ trong vòng 1 năm. Thông thường, chúng bao gồm: tiền mặt, các khoản phải thu, hàng trong kho. Tài sản cố định là những tài sản sẽ đem lại lợi ích trong vòng lâu hơn 1 năm, như trang thiết bị, nhà cửa, bất động sản,...

1. Là một tài nguyên có giá trị kinh tế được sở hữu hoặc kiểm soát bởi một cá nhân, công ty hoặc quốc gia với hy vọng rằng sẽ mang lại lợi ích trong tương lai. 2. Một mục trong bảng cân đối kế toán đại diện cho những gì một công ty sở hữu. 1. Tài sản được mua để làm tăng giá trị của công ty hay mang lại lợi nhuận cho hoạt động của công ty. Một tài sản có thể được coi như là thứ có thể tạo ra dòng tiền, bất kể đó là thiết bị sản xuất của công ty hoặc căn hộ đi thuê của cá nhân. 2. Trong kế toán, tài sản hoặc là ngắn hạn hoặc cố định (không ngắn hạn). Ngắn hạn có nghĩa là tài sản sẽ được sử dụng trong vòng một năm. Nói chung, điều này bao gồm những thứ như tiền mặt, các khoản phải thu và hàng tồn kho. Tài sản cố định là những thứ được dự kiến ​​sẽ tiếp tục cung cấp lợi nhuận trong hơn một năm, chẳng hạn như thiết bị, các tòa nhà và bất động sản.

Tài Sản (Asset) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Sản (Asset) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Asset Allocation / Phân Bổ Tài Sản

Phân bố tài sản giữa các cổ phiếu, trái phiếu và các loại đầu tư khác nhằm đạt được mục đích, như tăng thu nhập hay vốn. Phân bố tài sản, một dịch vụ cung cấp bởi các nhà hoạch định tài chính và nhà tư vấn đầu tư, là một khái niệm trung tâm trong hoạch định tài chính cá nhân và quản lý danh mục đầu tư.

Phân bổ tài sản giữa các cổ phiếu, trái phiếu, và các loại đầu tư khác nhằm đạt được mục đích, như tăng thu nhập hay vốn. Phân bố tài sản,một dịch vụ cung cấp bởi các nhà hoạch định tài chính và các nhà tư vấn đầu tư, là một khái niệm trung tâm trong hoạch định tài chính cá nhân và quản lý danh mục đầu tư.

Asset Allocation Mutual Fund / Quỹ Công Chúng Phân Bổ Tài Sản

Asset Allocation Mutual Fund là quỹ tương hỗ chuyển đổi giữa cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán của thị trường tiền tệ để tăng tối đa lợi nhuận cho các cổ đông trong khi giảm tối đa các rủi ro. Những quỹ như thế này đã trở nên hết sức phổ biến trong vài năm gần đây, làm giảm nhẹ trách nhiệm quản lý thời gian đầu tư vào hoặc rút khỏi các thị trường khác nhau của các cổ đông, bởi người quản lý quỹ sẽ đưa ra các quyết định đấy. Trên lý thuyết, các quỹ phân bổ tài sản có thể tránh được cổ phiếu hoặc trái phiếu đang giảm giá, bởi vì người quản lý có thể chuyển tất cả tài sản của quỹ sang các công cụ an toàn của thị trường tiền tệ. Mặt khác, người quản lý có thể linh động trong việc đầu tư nhiều vào các cổ phiếu, trái phiếu nội địa và quốc tế nếu họ thấy trước những chứng khoán này sẽ lên giá.

Asset Backed Security - Abs / Chứng Khoán Bảo Đảm Bằng Tài Sản

Chứng khoán bảo đảm bằng tài sản là một loại trái phiếu được phát hành trên cơ sở có sự đảm bảo bằng một tài sản hoặc một dòng tiền nào đó từ một nhóm tài sản gốc của người phát hành. Cấu trúc của chứng khoán bảo đảm bằng tài sản gần như giống hệt chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai loại này là ở tài sản đảm bảo, với chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp là bất động sản, còn với chứng khoán bảo đảm bằng tài sản là các dòng tiền hay nói cách khác là các khoản mà doanh nghiệp có quyền hưởng trong tương lai như tiền trả góp mua ô tô, mua nhà; tiền lãi từ tài khoản thẻ tín dụng... Cũng vì sự khác nhau ở tài sản đảm bảo này mà chứng khoán bảo đảm bằng tài sản cũng có những đặc trưng riêng. Để phát hành chứng khoán bảo đảm bằng tài sản, công ty phát hành sẽ thành lập ra một "đơn vị đặc nhiệm", sau đó bán các tài sản cơ sở cho đơn vị này. Nói chung thì công ty có tài sản ấy là công ty phát hành, song về mặt pháp lý mà nói, chính "đơn vị đặc nhiệm" mới là người phát hành và chịu trách nhiệm pháp lý trước những người mua chứng khoán của nó. Chứng khoán bảo đảm bằng tài sản không có được sự đảm bảo chắc chắn như chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp, vì không gì bằng việc nắm chắc tài sản thế chấp trong tay. Tuy nhiên, để bảo vệ nhà đầu tư trước nguy cơ phá sản của công ty phát hành (công ty "mẹ" chứ không phải "đơn vị đặc nhiệm"), pháp luật các nước đã đưa ra 3 qui định an toàn về mặt pháp lý: Việc chuyển giao tài sản từ công ty "mẹ" sang "đơn vị đặc nhiệm" là miễn truy đòi, tức là mua đứt bán đoạn. Quyền lợi tuyệt đối của nhà đầu tư đối với các tài sản cơ sở Tài sản của "đơn vị đặc nhiệm" không bị hợp nhất với tài sản của công ty "mẹ" trong trường hợp công ty "mẹ" phá sản. Tài sản cơ sở để phát hành loại chứng khoán này là các nhóm tài sản nhìn chung có tính chất thanh khoản tương đối kém, vì phải một thời gian khá dài nữa họ mới thu được chúng. Một công ty bán ô tô trả góp cho khách hàng có thể phải đợi 5, 6 năm sau mới thu được tiền, trong khi lại rất khan tiền mặt. Công ty này có thể nhóm các tài sản có tính thanh khoản thấp kiểu như vậy lại với nhau, làm tài sản cơ sở để phát hành trái phiếu, huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh hiện tại. Ngoài ra, chính việc phát hành dưới dạng chứng khoán, hay "chứng khoán hoá" các khoản vay này mà công ty phát hành làm cho nhiều nhà đầu tư có khả năng tiếp cận với chúng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55