Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Anti-Competitive Trading / Hành Động Kinh Doanh Chống Cạnh Tranh

Anti-Competitive Trading - là thuật ngữ chỉ hành vi kinh doanh không lành mạnh, đi ngược lại xu hướng cạnh tranh của kinh tế thị trường (giá cả, chất lượng hàng hóa...), qua phương thức sử dụng nguồn lực tài chính mạnh hoặc các chiêu thức cạnh tranh không "sạch" khác nhằm thôn tính hoặc hạ gục đối thủ cạnh tranh.

Anti-Trust / Chống Độc Quyền

Anti-trust có nghĩa là: Chống độc quyền. Một cụm thuật ngữ của Mỹ chỉ hệ thống pháp luật nhằm kiểm soát sự tăng trưởng quyền lực đối với thị trường của các hãng. Cụm thuật ngữ này không chỉ liên quan tới chính sách chống độc quyền mà cả các hoạt động kìm hãm của các hãng riêng lẻ, các nhóm công ty hợp nhất (Tờrớt) và nhóm các công ty cộng tác (Catel).

Antitrust Laws / Luật Chống Độc Quyền

Là luật bảo vệ cạnh tranh bằng cách không cho phép các thông lệ độc quyền hoặc chống cạnh tranh.Cho dù chỉ có 40 tiểu bang chấp nhận đạo luật này, các bộ luật quan trọng hơn là những luật liên bang sau: (1) Đạo luật như Sherman năm 1890, cấm độc quyền, hạn chế thương mại, cấm tập đoàn kinh doanh (được gọi là trusts) , các tổ chức này được tạo ra với mục đích duy nhất là chống cạnh tranh. (2) Đạo luật của Uỷ ban thương mại liên bang năm 1914, một cơ quan có quyền quy định về hoạt động thương mại giữa các bang, thẩm tra các hoạt động kinh doanh (ngoại trừ những hoạt động của ngân hàng) và ban hành các lệnh cưỡng chếĐiều đáng lưu ý là đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền là một đạo luật tách biệt nhằm tăng cường quyền lực của chính phủ Mỹ trong việc thi hành ba luật nêu trên. (3) Đạo luật Clayton năm 1914 là các thông tư bổ sung, sửa đổi cấm các hợp đồng cấu kết, liên kết giữa cacsban quản trị và một số hình thức thâu tóm của công ty mẹ.

Aon, Fok, Ioc Orders / Lệnh Aon, Fok, Ioc

Lệnh AON (All Or None) là một điều kiện kèm theo lệnh mua hoặc lệnh bán, yêu cầu nhân viên môi giới thực hiện toàn bộ lệnh, hoặc huỷ lệnh. Ví dụ, nếu bạn là một nhà đầu tư, chỉ thị lệnh AON cho người môi giới của mình mua 200 cổ phần ở mức giá 15$, khi đó người môi giới của bạn sẽ không thực hiện lệnh cho đến khi nào anh ta có thể mua đủ 200 cổ phần tại mức giá 15$. Lệnh này sử dụng trong trường hợp bạn không muốn lệnh của mình chỉ được thực hiện một nửa. Lệnh FOK (Fill Or Kill) là lệnh yêu cầu phải thực hiện lệnh ngay lập tức, hoặc lệnh đó sẽ bị huỷ. Loại lệnh này thường áp dụng đối với giao dịch có khối lượng cổ phiếu lớn, và phải được thực hiện toàn bộ số lượng ghi trên lệnh. Lệnh thị trường và lệnh giới hạn thuộc nhóm lệnh FOK. Trên thực tế trên các thị trường chứng khoán lớn, lệnh này ít khi được áp dụng. Lệnh IOC (Immediate Or Cancel Order): là lệnh yêu cầu thực hiện toàn bộ một phần hay toàn bộ lệnh ngay sau khi đặt lệnh. Phần còn lại của lệnh không được thực hiện ngay tại thời điểm đó sẽ tự động bị huỷ. Lệnh này cũng thường áp dụng cho các lệnh giao dịch với khối lượng lớn trong trường hợp việc thực hiện toàn bộ lệnh trong thời gian ngắn gặp khó khăn.

Adjustment Bond / Trái Phiếu Điều Chỉnh

Trái phiếu điều chỉnh do một công ty phát hành trong giai đoạn tái cơ cấu lại công ty. Trái phiếu điều chỉnh được phát hành cho những người nắm giữ các trái phiếu đang lưu hành trước khi tái cơ cấu. Các nghĩa vụ nợ nần được củng cố và chuyển giao từ trái phiếu đang lưu hành sang trái phiếu điều chỉnh. Đây là một quá trình tái cơ cấu một cách hiệu quả các khoản nợ hiện tại của công ty, được thực thi bằng các điều khoản điều chỉnh (như điều khoản về lãi suất và thời gian đáo hạn) để tăng khả năng trả nợ của công ty. Nếu một công ty đi gần đến chỗ phá sản và cần sự bảo vệ từ phía các chủ nợ (theo điều khoản 11), nó chắc chắn sẽ không thể thanh toán hết được các khoản nợ. Nếu rơi vào trường hợp này, công ty sẽ bị thanh lý và số tiền đó sẽ được san sẻ cho các chủ nợ. Tuy nhiên, nhìn chung, các chủ nợ sẽ chỉ nhận được 1 phần khoản cho vay ban đầu đối với công ty. Đó là lý do tại sao các chủ nợ và công ty cần hợp tác với nhau nhằm tái cơ cấu các khoản nợ để công ty có thể trả được nợ và tiếp tục hoạt động, nhờ đó sẽ tăng được số tiền mà các chủ nợ thu được. Đặc điểm của trái phiếu điều chỉnh là nó chỉ được trả lãi (trái tức) khi công ty làm ăn có lãi. Đó là một trong số các đặc tính của trái phiếu thu nhập. Khi mua bán, trái phiếu loại này được mua bán theo mệnh giá chứ không tính đến lãi tích luỹ.

Adjustment Bond là trái phiếu điều chỉnh do một công ty phát hành trong giai đoạn tái cơ cấu lại công ty. Trái phiếu điều chỉnh được phát hành cho những người nắm giữ các trái phiếu đang lưu hành trước khi tái cơ cấu. Các nghĩa vụ nợ nần được củng cố và chuyển giao từ trái phiếu đang lưu hành sang trái phiếu điều chỉnh. Đây là một quá trình tái cơ cấu một cách hiệu quả các khoản nợ hiện tại của công ty, được thực thi bằng các điều khoản điều chỉnh (như điều khoản về lãi suất và thời gian đáo hạn) để tăng khả năng trả nợ của công ty. Nếu một công ty đi gần đến chỗ phá sản và cần sự bảo vệ từ phía các chủ nợ (theo điều khoản 11), nó chắc chắn sẽ không thể thanh toán hết được các khoản nợ. Nếu rơi vào trường hợp này, công ty sẽ bị thanh lý và số tiền đó sẽ được san sẻ cho các chủ nợ. Tuy nhiên, nhìn chung, các chủ nợ sẽ chỉ nhận được 1 phần khoản cho vay ban đầu đối với công ty. Đó là lý do tại sao các chủ nợ và công ty cần hợp tác với nhau nhằm tái cơ cấu các khoản nợ để công ty có thể trả được nợ và tiếp tục hoạt động, nhờ đó sẽ tăng được số tiền mà các chủ nợ thu được. Đặc điểm của trái phiếu điều chỉnh là nó chỉ được trả lãi (trái tức) khi công ty làm ăn có lãi. Đó là một trong số các đặc tính của trái phiếu thu nhập. Khi mua bán, trái phiếu loại này được mua bán theo mệnh giá chứ không tính đến lãi tích luỹ.

Apparent Authority / Thẩm Quyền Hiển Nhiên

Apparent Authority - Thẩm quyền hiển nhiên. Theo luật pháp chung thì người chủ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của nhân viên mình. Khi bên thứ ba đã tín nhiệm sự đại diện của nhân viên, thì người chủ không thể nói rằng nhân viên của mình thiếu thầm quyền để bào chữa cho việc làm trái luật pháp, nếu có.

Adjustment / Điều Chỉnh

Quá trình thích ứng của một nền kinh tế tăng trưởng, chẳng hạn, bởi những phát triển công nghệ, những thay đổi về nhu cầu hay thay đổi các cách thức ngoại thương. Những thay đổi này có thể bao gồm cả việc phân phối lại lao động và vốn từ những sản phẩm và khu vực kém cạnh tranh sang những sản phẩm và khu vực mới hoặc những dây chuyền sản xuất khác mà ở đó nền kinh tế có tính cạnh tranh. Theo nghĩa hẹp được Quỹ Tiền tệ quốc tế sử dụng, điều chính có nghĩa là việc áp dụng các chính sách vĩ mô, bao gồm các chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái để điều chỉnh mức độ hoạt động kinh tế trong nước theo những điều kiện hiện có của nền kinh tế thế giới, với mục đích là điều chỉnh sự mát cân bằng trong cán cân thanh toán và theo đuổi các mục tiêu trong nước như giảm lạm phát.

Adjustment là quá trình thích ứng của một nền kinh tế tăng trưởng, chẳng hạn, bởi những phát triển công nghệ, những thay đổi về nhu cầu hay thay đổi các cách thức ngoại thương. Những thay đổi này có thể bao gồm cả việc phân phối lại lao động và vốn từ những sản phẩm và khu vực kém cạnh tranh sang những sản phẩm và khu vực mới hoặc những dây chuyền sản xuất khác mà ở đó nền kinh tế có tính cạnh tranh. Theo nghĩa hẹp được Quỹ Tiền tệ quốc tế sử dụng, điều chính có nghĩa là việc áp dụng các chính sách vĩ mô, bao gồm các chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái để điều chỉnh mức độ hoạt động kinh tế trong nước theo những điều kiện hiện có của nền kinh tế thế giới, với mục đích là điều chỉnh sự mát cân bằng trong cán cân thanh toán và theo đuổi các mục tiêu trong nước như giảm lạm phát. (Nguồn: The Language of Trade - 2001)

Apportionment / Sự Phân Chia

Phân chia giới tuyến các quyền, sở hữu chủ hay chi phí giữa người mua và người bán trong chuyển nhượng tài sản. Trong uỷ thác và tài sản, đây là sự phân chia lợi tức và chi phí quản lý giữa hai hay nhiều tài khoản, thí dụ vốn và lợi tức tiền lãi hay phân chia thuế tài sản giữa những người thụ hưởng tài sản. Ngược lại phân chia là phân bổ, là lợi nhuận kiếm được hay chi phí được đưa vào một tài khoản độc nhất nhằm để kết toán. Bảo hiểm: Chia khoản tổn thất giữa các hợp đồng bảo hiểm thành từng phần sao cho mỗi hợp đồnggánh một khoản tương ứng với khoản tổn thất. Ví dụ, hợp đồng A, B, C và D tương ứng có giá trị $50.000, $60.000, $70.000 và $80.000, thì tổng khoản phải trả là $260.000. Dưới các điều khoản của sự phân chia thường thấy trong các hợp đồng bảo hiểm bất động sản, phần trăm khoản tổn thất của hợp đồng A là 19,23%, hợp đồng B là 21,43%, hợp đồng C là 26,92%, và hợp đồng D là 30.77%. Bất động sản:1. Tỷ lệ các khoản chi phí bất động sản, như thuế và bảo hiểm, giữa người mua và người bán. Ví dụ: 1 ngôi nhà được bán vào ngày 1 tháng 7. Thuế bất động sản đáo hạn ngày 1/1 năm tiếp theo. Kết thúc thuế được phân chia, người bán phải trả người mua một nửa khoản thuế ước lượng.2. Chia bất động sản thành từng lô cho những người cùng sở hữu (tenants in common). Ví dụ: Hai anh em được thừa kế một bất động sản được sở hữu chung. Khi người anh muốn bán, bất động sản sẽ được chia làm 2 lô riêng biệt để bán.

Appraisal / Thẩm Định Giá

Ước tính bằng văn bản giá trị thị trường thực hiện bởi một chuyên viên thẩm định có năng lực. Gí trị thẩm định là một trong những yếu tố chính, xác định quy mô khoản tiền vay trong các khoản vay được đảm bảo bằng bất động sản. Giá trị ước tính của bất động sản được dựa trên chi phí thay mới, doanh thu của tài sản tương đương, hay thu nhập kỳ vọng trong tương lai của tài sản. Xem LOAN TO VALUE RATIO.

Ước tính bằng văn bản giá trị thị trường thực hiện bởi một chuyên viên thẩm định có năng lực. Giá trị thẩm định là một trong những yếu tố chính, xác định quy mô khoản tiền vay trong các khoản vay được đảm bảo bằng bất động sản. Giá trị ước tính của bất động sản được dựa trên chi phí thay mới, doanh thu của tài sản tương đương hay thu nhập kỳ vọng tương lai từ tài sản. Xem LOAN TO VALUE RATIO.

Appraised Value / Trị Giá Đã Được Thẩm Định

Appraised value - có nghĩ Trị giá đã được thẩm định. Trị giá thị trường của một tài sản đã được thẩm định viên đủ tiêu chuẩn đánh giá. Trị giá thẩm định chia một hạng mục có thể cao hơn hay thấp hơn giá người ta chi trả cho nó, điều này tuỳ thuộc vào giá thị trường của tài sản tương đương với hạng mục đó. Trên thực tế, việc thẩm định dựa trên giá phí thay thế hạng mục hay trị giá bán lại đã tăng hay giảm theo thời gian.

Một ước lượng về giá trị của một tài sản tại một điểm nhất định theo thời gian được thực hiện bởi một thẩm định viên chuyên nghiệp trong quá trình lập hồ sơ thế chấp. Các thẩm định viên thường được lựa chọn bởi người cho vay, nhưng việc định giá được chi trả bởi người đi vay. Trị giá đã được thẩm định của một căn nhà là một yếu tố quan trọng trong quá trình bảo đảm cho vay và đóng một vai trò trong việc xác định bao nhiêu tiền có thể vay và với những điều khoản nào. Ví dụ, tỷ lệ nợ trên tài sản thế chấp (LTV) dựa trên trị giá đã được thẩm định. Nói chung, nếu LTV lớn hơn 80%, người cho vay sẽ yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thế chấp tư nhân. Tuy nhiên, nếu LTV giảm xuống 78% dựa trên một định giá mới, các khoản thanh toán bảo hiểm thế chấp tư nhân có thể được loại bỏ.

Appreciation / Sự Tăng Giá Trị

Sự tăng giá trị một tài sản được ghi nhận theo thời gian. Sự tăng trị này xảy ra do một số lý do như cầu tăng, cung giảm, hoặc là kết quả của một số thay đổi trong lạm phát hay lãi suất. Điều này trái ngược với sự giảm trị- sự giảm giá trị theo thời gian.1.Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước.2.Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ.Thuật ngữ này có thể được sử dụng cho sự tăng giá trị của bất cứ loại tài sản nào như: cổ phần, trái phiếu, tiền tệ hay bất động sản. Ví dụ, thuật ngữ sự tăng giá trị vốn chỉ sự tăng giá trị của tài sản tài chính như cổ phần, xảy ra do một số lý do như hoạt động tài chính được cải thiện của công ty.Thuật ngữ cũng được dùng trong kế toán khi chỉ một sự điều chỉnh theo hướng tăng lên giá trị một tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty. Sự điều chỉnh giá trị tài sản hay gặp nhất trong kế toán là theo hướng đi xuống, được biết đến như sự giảm trị, thường là tài sản mất giá trị kinh tế qua quá trình sử dụng, như máy móc được sử dụng quá thời gian có ích của nó. Trog khi sự tăng trị của tài sản trong kế toán không xảy ra thường xuyên, tài sản như nhãn hiệu có thể tăng trị khi thương hiệu ngày càng khẳng định được giá trị của mình.

Sự tăng giá trị một tài sản được ghi nhận theo thời gian. Sự tăng trị này xảy ra do một số lý do như cầu tăng, cung giảm, hoặc là kết quả của một số thay đổi trong lạm phát hay lãi suất. Điều này trái ngược với sự giảm trị- sự giảm giá trị theo thời gian.1.Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước. 2.Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ.Thuật ngữ này có thể được sử dụng cho sự tăng giá trị của bất cứ loại tài sản nào như: cổ phần, trái phiếu, tiền tệ hay bất động sản. Ví dụ, thuật ngữ sự tăng giá trị vốn chỉ sự tăng giá trị của tài sản tài chính như cổ phần, xảy ra do một số lý do như hoạt động tài chính được cải thiện của công ty.Thuật ngữ cũng được dùng trong kế toán khi chỉ một sự điều chỉnh theo hướng tăng lên giá trị một tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty. Sự điều chỉnh giá trị tài sản hay gặp nhất trong kế toán là theo hướng đi xuống, được biết đến như sự giảm trị, thường là tài sản mất giá trị kinh tế qua quá trình sử dụng, như máy móc được sử dụng quá thời gian có ích của nó. Trog khi sự tăng trị của tài sản trong kế toán không xảy ra thường xuyên, tài sản như nhãn hiệu có thể tăng trị khi thương hiệu ngày càng khẳng định được giá trị của mình.

Adjusting Interest Rate / Điều Chỉnh Lãi Suất Chiết Khấu

Adjusting Interest Rate là một trong số các công cụ mà FED sử dụng khi muốn nền kinh tế thay đổi theo hướng tăng hay giảm là lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất chiết khấu tăng lên, các ngân hàng có xu hướng vay ít hơn và tiền sẵn sàng để cho vay tới khách hàng giảm đi. Nếu lãi suất giảm, ngân hàng có xu hướng vay tự do hơn và cho vay tới khách hàng ở mức lãi suất hấp dẫn hơn. Kết quả là những thay đổi về lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng rộng khắp đến nền kinh tế. Và nếu FED không thoả mãn với phản ứng kinh tế, no có thể hạ hoặc tăng lãi suất lần thứ 2, lần thứ 3...

Một trong số các công cụ mà FED sử dụng khi muốn nền kinh tế thay đổi theo hướng tăng hay giảm là lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất chiết khấu tăng lên, các ngân hàng có xu hướng vay ít hơn và tiền sẵn sàng để cho vay tới khách hàng giảm đi. Nếu lãi suất giảm, ngân hàng có xu hướng vay tự do hơn và cho vay tới khách hàng ở mức lãi suất hấp dẫn hơn. Kết quả là những thay đổi về lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng rộng khắp đến nền kinh tế. Và nếu FED không thoả mãn với phản ứng kinh tế, no có thể hạ hoặc tăng lãi suất lần thứ 2, lần thứ 3...

Appreclation / Tăng Giá Trị

Appreclation - Tăng giá trị. Thuật ngữ này được cắt nghĩa như sau: Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước. Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ.

Adjusting Entry / Bút Toán Điều Chỉnh

Bút toán điều chỉnh là loại bút toán đặc biệt (bút toán thuộc về chỉnh sửa không giống như các bút toán đươc ghi nhận khi 1 nghiệp vụ phát sinh) thường được thực hiện tại thời điểm khoá sổ kế toán giúp cho số dư tài khoản được phản ánh đúng.

Adjusting Entry là loại bút toán đặc biệt (bút toán thuộc về chỉnh sửa không giống như các bút toán đươc ghi nhận khi 1 nghiệp vụ phát sinh) thường được thực hiện tại thời điểm khoá sổ kế toán giúp cho số dư tài khoản được phản ánh đúng.

Bút Toán Điều Chỉnh (Adjusting Entry) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Bút Toán Điều Chỉnh (Adjusting Entry) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Appropriate Products / Các Sản Phẩm Thích Hợp

Appropriate Products là các sản phẩm được dùng để chỉ những sản phẩm thích hợp cho sử dụng ở các nước đang phát triển.

Appropriate Technology / Công Nghệ Thích Hợp

Việc ứng dụng một công nghệ thích hợp với yếu tố sẵn có. (Xem ALTERNATIVE TECHNOLOGY. INTERMEDIATE TECHNOLOGY, INTERMEDIATE TECHNOLOGY DEVELOPMENT GROUP).

Adjusted Gross Income (AGI) / Thu Nhập Gộp Hiệu Chỉnh (AGI)

Được sử dụng để xác định có thể đánh thuế bao nhiêu thu nhập của bạn. AGI gồm tổng thu nhập từ các nguồn có thể đánh thuế trừ đi sự điều chỉnh tối đa cho phép. Theo Investopedia: AGI trừ đi các phần chiết khấu và miễn thuế cá nhân bằng thu nhập có thể đánh thuế được. Theo Wikipedia: AGI là một thuật ngữ  thuế của Mỹ chỉ lượng được sử dụng trong tính toán nghĩa vụ thuế thu nhập của một cá nhân. AGI gồm tổng thu nhập được điều chỉnh theo các khoản chiết khấu cho phép, và là một dấu mốc quan trọng quyết định các lợi ích cho phép khác. Hầu hết giới hạn để chiết khấu hay mua hàng trả sau được quyết định dựa vào AGI hoặc MAGI (modified adjusted gross income) - thu nhập gộp hiệu chỉnh được sửa đổi bởi lượng xác định tùy thuộc vào giới hạn cho trước. Tổng thu nhập bao gồm lương, lợi tức tiền lãi, cổ tức, thu nhập từ lương hưu, lãi suất vốn, các khoản trợ cấp, tiền cho thuê, tiền bản quyền, thu nhập từ trang trại, trợ cấp thất nghiệp, và các loại thu nhập khác. AGI là số cuối cùng trong trang đầu của bản 1040, bản kê khai thuế chuẩn của Mỹ cho cá nhân.

Appropriation Account / Tài Khoản Phân Phối Lãi

Các doanh nghiệp duy trì các tài khoản này cho thấy lợi nhuận sau khi trả thuế được phân phối hay sử dụng như thế nào. (Xem ALLOWANCES AND EXPENSES CORPORATION TAX, ALLOWANCES AND EXPENSES INCOME TAX, TAXABLE INCOME)

Approval Voting / Bỏ Phiếu Tán Thành; Bỏ Phiếu Phê Chuẩn

Một dạng ra quyết định trong đó mỗi cá nhân bỏ phiếu cho một nhóm phương án mà người đó tán thành. (Xem BORDA COUNT, CONDORCET CRITERION, SOCIAL DECISION RULE, SOCIAL WELFARE FUNCTION).

Approved List / Danh Sách Phê Chuẩn

Ngân hàng: là những trái phiếu hay chứng khoán mà ngân hàng có thể giữ lại để đầu tư, thông thường căn cứ trên nhận định của các công ty đánh giá trái phiếu như Standard Poor's, Moody's, Fitch's và các công ty khác. Quy định của Cục dự trữ Liên bang (Mỹ) giới hạn số đầu tư của ngân hàng quốc gia trong trái phiếu có mức tín nhiệm nhất định. Ví dụ các trái phiếu đã được Standard Poor's đánh giá từ B (BBB) trở lên. Các ngân hàng cấp tiểu bang (có giấy phép kinh doanh cấp tiểu bang) cũng chịu lệ thuộc quy định đầu tư như thế, giống ngân hàng quốc gia theo quy định của Cục dự trữ liên bang.Đầu tư: Bản danh sách được chấp thuận có thể giao cho người nhận ủy thác tài sản theo quy chế tiểu bang hay do ban quản trị quỹ hỗ tương đầu tư thực hiện.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55