Allen Sir Roy George Douglas / 1906-1983
Ông dạy ở trường kinh tế London từ năm 1928, làm việc ở bộ Tài Chính Anh và năm 1944 được phong là giáo sư thống kê học tại trường Đại học London. Các ấn phẩm chủ yếu của ông bao gồm: Phân tích toán học cho các nhà kinh tế học(1938); Thống kê học cho các nhà kinh tế học(1949); Kinh tế học thuộc toán (1956); Học thuyết kinh tế vĩ mô - Xử lý bằng toán học (1967). Năm 1934 ông có đóng góp to lớn cho học thuyết người tiêu dùng khi ông cho xuất bản một bài báo cùng với J.R.HICKS, bằng cách sử dụng các đường bàng quan, bài báo chỉ ra rằng để giải thích sự dốc xuống dưới của đường cầu sẽ là việc giả định đầy đủ rằng hàng hoá có thể được phân loại theo thứ tự.
Allocation Function / Chức Năng Phân Bổ
Allocation Function là một bộ phận của chính sách chi tiêu và thuế của chính phủ liên quan tới việc chi phối cung cấp hàng hoá và dịch trong một nền kinh tế.
Allocative Efficiency / Hiệu Quả Phân Bổ
Theo lý thuyết kinh tế căn bản thì hiệu quả phân bổ sẽ xẩy ra sau khi các nguồn lực đã được phân bổ. Bất kỳ một sự thay đổi nào của mức sản lượng hay chủng loại hàng hóa hiện đang được sản xuất, nếu sự phân bổ làm cho một người nào đó khá hơn, cũng sẽ làm cho một người khác bị thiệt thòi. Đôi khi thuật ngữ còn được gọi là "hiệu quả Pareto." (Hiệu quả Pareto hay còn gọi là tối ưu Pareto là một trong những lý thuyết trung tâm của kinh tế học với nhiều ứng dụng rộng rãi trong lý thuyết trò chơi, các ngành kỹ thuật, cũng như khoa học xã hội. Với 1 nhóm các cá nhân và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó, việc chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng không làm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi được gọi là một sự cải thiện Pareto hay một sự tối ưu hóa Pareto. Khi đạt được một phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiện Pareto, cách phân bổ đó được gọi là hiệu quả Pareto hoặc tối ưu Pareto. - Theo Wikipedia) Trên thực tế, để đạt được hiệu quả phân bổ thì Chính phủ phải có phương sách để nền kinh tế cung cấp được cho mọi người dân số lượng và chủng loại hàng hóa mà họ mong muốn.
Allonge / Phiếu Bảo Chứng
Allonge là chứng tự kèm theo công cụ thanh toán (negotiable instrument), như hóa đơn giao dịch khi hóa đơn không còn đủ chỗ. Những điều khoản bổ sung được viết trong allonge được coi như được viết trong hóa đơn. Khi ngân hàng vay tại phòng Cho Vay Có Chiết Khấu (Discount Window) của Ngân hàng Dự trữ Liên bang, ngân hàng phải bổ sung vào một phiếu kèm theo giấy hứa trả nợ, hối phiếu, hoá đơn được giao cho ngân hàng Dự trữ Liên bang để thế chấp.
Allonge là một tờ giấy được đính kèm với một hóa đơn trao đổi cho mục đích chứng thực tài liệu. Sự cần thiết phải có một phiếu bảo chứng phát sinh do thiếu khoảng trống trên chính hóa đơn. Bởi vì một hóa đơn trao đổi có thể được chuyển nhượng thông qua sự chứng thực, nó có thể được trao đổi giữa rất nhiều bên mà các bên này không thể đưa vào vị trí trống trên với hóa đơn. Trong trường hợp này, một mảnh giấy riêng của phiếu bảo chứng - được đính kèm với hóa đơn, đóng vai trò là phần mở rộng hợp pháp của tài liệu.
Allotment / Phân Phối Chứng Khoán
Theo Wikipedia: trong lĩnh vực tài chính, phân phối chứng khoán là một phương pháp phân phối các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu cho các nhà đầu tư khi một loại chứng khoán mới phát hành được đặt mua quá nhiều. Vào cuối thời hạn đăng kí mua chứng khoán, nhu cầu đối với một chứng khoán mới có thể vượt quá tổng số chứng khoán phát hành. Trong trường hợp đó, ngân hàng phát hành có thể sẽ quyết định phân phối chứng khoán, với sự chấp thuận của công ty phát hành, theo hình thức bốc thăm hoặc dựa theo một phương thức nào đó. Công thức phân phối chứng khoán luôn phải tính đến những nhà đầu tư chiến lược mà công ty phát hành ưu tiên. Các nhà đầu tư có thể đăng kí lệnh mua chứng khoán mới phát hành trong thời hạn đăng kí mua chứng khoán. Thông thường thời hạn này là 2 tuần. Sau khi kết thúc thời hạn đặt mua, công ty phát hành sẽ công bố giá bán và phương thức phân phối chứng khoán cho các nhà đầu tư. Theo từ điển Barron: phân phối chứng khoán được áp dụng với các loại chứng khoán được phát hành lần đầu. Ngoài ra đó còn được hiểu là một phương thức đáp ứng các lệnh đấu giá các loại trái phiếu Chính phủ Mỹ. Đối với các loại chứng khóan do công ty phát hành thuật ngữ này chủ yếu áp dụng khi các tổ chức phát hành đăng kí bao mua của công ty đó một số lượng cổ phiếu nhất định. Nếu số lượng cổ phiếu được đăng kí quá lớn, mỗi tổ chức phát hành sẽ nhận được một tỉ lệ nhất định so với mức đăng kí của họ. Tỉ lệ này có thể không giống nhau giữa các tổ chức phát hành, tùy thuộc vào quyết định của công ty phát hành cổ phiếu. Ví dụ: một công ty dự định phát hành 10 triệu cổ phiếu, nhưng số lượng cổ phiếu được đăng kí lên đến 20 triệu, khi đó, một tổ chức phát hành đăng kí 3 triệu cổ phiếu sẽ được phân phối 1.5 triệu (cũng có trường hợp nhiều hoặc ít hơn).
Allotment / Sự Phân Bổ
Trong suốt đợt IPO, đây là số cổ phiếu chia ra cho mỗi thành viên trong tập đoàn ngân hàng đầu tư được thành lập để bao tiêu phân phối chứng khoán mới. Phần còn lại được phát cho các công ty đã thắng trong cuộc đấu giá cho quyền được bán IPO. Đây là nhiệm vụ khó khăn đối với mỗi công ty để bán số chứng khoán này đến khách hàng trước khi chúng được đưa lên sàn giao dịch.
Allowance / Tiền Chiết Khấu, Tiền Trợ Cấp, Tiền Khấu Trừ
Kế toán: 1. Sự giảm bớt về số lượng hay chất lượng có thể chấp nhận được như sự hỏng hóc thông thường trong quá trình sản xuất. 2. Sự giảm bớt về lượng mà nguyên nhân từ phía nhà cung cấp do cung cấp hàng hóa bị hỏng hay chậm trễ khi giao hàng. 3. Điều chỉnh giá thành cho một tài sản như giảm giá chứng khoán có thể tiêu thụ được từ giá thành xuống giá trị thị trường. Ngân hàng: Dự trữ tiền vay không có khả năng thu hồi (Loan Loss Reserve) dùng cho số phí sẽ mất theo dự kiến đối với nợ khó đòi. Uỷ thác: Chứng thực (di chúc) quyết định của an toàn cho người thụ uỷ tài sản, như tiền trợ cấp cho người goá bụa. Mua bán: Khấu trừ trị giá hoá đơn được người bán hàng hoá chấp nhận để bù đắp vào số hư hại hay thiếu sót.
Allowance For Bad Debts / Dự Phòng Nợ Phải Thu Khó Đòi / Dự Phòng Cho Các Khoản Nợ Xấu
Allowance For Bad Debts là tài khoản dùng để ghi nhận khoản nợ phải thu khó đòi nằm trong tổng công nợ phải thu.
Allowance For Notes Receivable Losses / Dự Phòng Rủi Ro Của Khoản Phải Thu
Allowance For Notes Receivable Losses là một tài khoản duy trì ở một mức độ được xem là đủ để cung cấp cho các tổn thất có thể xảy ra. Cung cấp được tăng số tiền tính vào thu nhập và giảm phí net-off. Mức trợ cấp được dựa trên đánh giá của danh mục đầu tư, sẽ đưa vào tài khoản doanh nghiệp hiện hành và dự kiến và điều kiện kinh tế và giá trị thuần có thể thực hiện được của chứng khoán tổ chức quản lý.
Allowance Method / Phương Pháp Dự Phòng
Allowance Method là cách được chấp nhận vào tài khoản cho các khoản nợ xấu. Chi phí nợ xấu có thể dựa trên % doanh thu tín dụng cho một hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian,dựa trên tuổi của các khoản phải thu vào cuối của thời kế toán,ví dụ như, phần trăm các khoản phải thu.
Allowances And Expenses For Corporation Tax / Khấu Trừ Và Chi Phí Đối Với Thuế Công Ty
Allowances And Expenses For Corporation Tax là những chi phí cho phép nhất định khi được khấu trừ từ doanh thu của công ty là phần thu nhập bị đánh thuế.
Allowances And Expenses For Income Tax / Khấu Trừ Và Chi Phí Đối Với Thuế Thu Nhập
Hệ thống thuế thu nhập bao gồm hệ thống các khoản khấu trừ và chi phí. Chúng được trừ từ tổng thu nhập để xác định chịu thuế.
Almon Lag / Độ Trễ Almon
Almon Lag là một kiểu trễ phân phối trong đó trọng số các giá trị liên tục của biến số trễ theo sau một do một đa thức gây ra.
Alpha / Hệ Số Alpha
Alpha là một thước đo tỷ suất sinh lợi dựa trên rủi ro đã được điều chỉnh. Alpha lấy sự biến động trong tỷ suất sinh lợi của một quỹ hổ tương và so sánh tỷ suất sinh lợi đã điều chỉnh rủi ro của quỹ đó với chỉ số của một danh mục chuẩn. Tỷ suất sinh lợi vượt trội của quỹ trong tương quan với tỷ suất sinh lợi của chỉ số danh mục chuẩn được gọi là alpha của quỹ đó. Alpha còn là tỷ suất sinh lợi bất thường của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư, vượt trội hơn mức tỷ suất sinh lợi cân bằng mà mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) đã chỉ ra Alpha là một trong năm chỉ số định lượng đo lường rủi ro, các chỉ số còn lại là beta, độ lệch chuẩn, R-bình phương và tỷ số Sharpe. Tất cả các chỉ số này đều là thước đo thông kê được sử dụng trong lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại. Tất cả các chỉ số này đều nhắm giúp nhà đầu tư có thể xác định được hồ sơ “phần thưởng”- rủi ro của các quỹ hỗ tương. Mô tả một cách đơn giản thì alpha thường được xem như là đại diện cho giá trị mà các nhà quản trị d
1. Thành quả giá của một cổ phiếu, ky vọng đóng góp vào lợi nhuận, quản lý, hay các yếu tố khác, so với tình hình chung của thị trường. Một cổ phiếu có hệ số Alpha là 1.10 có thể được kỳ vọng tăng trưởng nhanh hơn thị trường, không kể các diễn biến trên thị trường tổng thể. 2. Suất thu lợi đã điều chỉnh rủi ro của một quỹ hỗ tương. Hệ số Alpha đo lường mức đóng góp vào suất thu lợi đầu tư của nhà quản lý danh muc đầu tư. Quỹ hỗ tương có hệ số Alpha 2.0% sẽ có hy vọng đạt hiệu quả cao hơn 2.0% so với kỳ vọng của loại quỹ đó. Xem BETA.
Altered Check / Chi Phiếu Bị Sửa Đổi
Altered check là chi phiếu hay công cụ chi trả khác có ngày đáo hạn, số tiền hay tên người được trả tiền bị sửa đổi hay bôi xoá, hành động này thường nhằm mục đích lừa đảo. Khi nhận được chi phiếu này, ngân hàng có thể từ chối chi trả phiếu nếu nghi ngờ có sự cạo sửa tự ý.
Chi phiếu hay công cụ khả nhượng vời lỳ hạn, số tiền, hoặc tên người chi trả bị thay đổi hay tẩy xóa, thường vì các mục đích gian lận. Ngân hàng có thể từ chối thanh toán các chi phiếu này nếu nghi ngờ có giả mạo.
Alternative Minimum Tax, Amt / Thuế Tối Thiểu Thay Thế
Alternative Minimum Tax, Amt là loại thuế liên bang được đạo luật Tax Refrom Act of 1986 cải tiến lại nhằm mục đích bảo đảm rằng các cá nhân hay công ty giàu có phải chi trả thêm thuế một khoản thuế hợp lý. Đối với cá nhân, AMT được tính bằng cách cộng các mục được ưu đãi thuế như thua lỗ thụ động (passive losses), lợi tức được miễn thuế của trái phiếu có mục đích riêng (Private-purpose Bond) phát hành sau ngày 7.8.1986 và số khấu trừ đối với đóng góp từ thiện bằng chứng khoán, bất động sản, tác phẩm nghệ thuật, và các tài sản tăng giá theo thu nhập gộp điều chỉnh, sau đó trừ cho $40.000 cho một cặp vợ chồng cùng nộp chung hay $30.000 nếu nộp riêng, 24% số còn lại sẽ chịu thuế. Số được miễn thuế được huỷ bỏ theo cách 25 xu cho 1 dollar đối với lợi tức AMT vượt quá $150.000 cho cặp vợ chồng cùng nộp ( $112.500 đối với cá nhân.) AMT của công ty cũng được miễn thuế nhưng với tỷ lệ 20% sổ sách (báo cáo tài chính) cao hơn tổng số lợi tức chịu thuế cộng với với các mục ưu tiên thuế khác như tăng giá trị số đóng góp từ
Alternative Order, Either - Or Order, One Cancels The Other Order / Lệnh Thay Thế
Lệnh thay thế là một kiểu đặt lệnh với nhà môi giới kết hợp 2 lệnh đơn lẻ, khi một trong hai lệnh này được thực hiện thì lệnh còn lại bị tự động hủy. 2 lệnh kết hợp với nhau luôn hoặc là 2 lệnh mua, hoặc là 2 lệnh bán chứ không bao giờ kết hợp 1 lệnh mua với 1 lệnh bán. Trong 2 lệnh này, một lệnh sẽ là lệnh giới hạn (limit order)và một lệnh là lệnh dừng(stop order). Ví dụ: Một nhà đầu tư đã mua cổ phiếu với giá $5, anh ta có thể đặt 1 lệnh bán ở mức giá $2.5 và 1 lệnh ở mức giá $7.5. Nếu giá cổ phiếu xuống đến $2.5 lệnh bán giới hạn sẽ được thực hiện và lệnh bán ở $7.5 sẽ bị hủy, giúp nhà đầu tư hạn chế mức thua lỗ ở $2.5/cp. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu lên đến $7.5, lệnh bán ở mức giá $7.5 sẽ được thực hiện và lệnh bán ở $2.5 bị hủy, đem lại cho nhà đầu tư $2.5/cp, một mức lợi nhuận mà nhà đầu tư cảm thấy chấp nhận được. Kiểu đặt lệnh thay thế này giúp nhà đầu tư hạn chế cả lợi nhuận và thua lỗ trong một biên an toàn, nó mô phỏng chiến lược vòng đệm trong kinh doanh chứng khoán. Nhà đầu tư có thể áp dụng chiến lược này khi anh ta không có khả năng theo dõi diễn biến trên thị trường chứng khoán một cách thường xuyên nhưng vẫn không muốn bỏ lỡ cơ hội kinh doanh mà thị trường mang lại. Trong lệnh thay thế, bao giờ cũng có một mức biên trên và biên dưới mà nhà đầu tư muốn giới hạn lợi nhuận cũng như thua lỗ của mình. Để lệnh thay thế phát huy tác dụng của nó, mức biên này cần phải được tính toán một cách hợp lý. Nếu một cổ phiếu có giá ổn định thì việc đặt ra biên trên vượt quá 50% giá trị của nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì nhiều lắm. Ngoài ra, việc xác định biên lớn hay nhỏ còn tùy thuộc vào kì vọng của nhà đầu tư nữa.
Alternative Technology / Công Nghệ Thay Thế
Thuật ngữ dùng để chỉ kiểu công nghệ có một vài hoặc tất cả thuộc tính sau: sử dụng tối thiểu tài nguyên không tái tạo được, gây ô nhiễm thấp nhất đối với môi trường, tự cấp tự túc theo vùng hoặc theo địa phương không có sự bóc lột hoặc cô lập các cá nhân. (Xem INTERMEDIATE TECHNOLOGY, APPROPIATE TECHNOLOGY, INTERMEDIATE TECHNOLOGY DEVELOPMENT GROUP).
Altruism / Lòng Vị Tha
Altruism là sự quan tâm tới phúc lợi của người khác.
America Depository Receipt - ADR / Phiếu Gửi Tiền Mỹ
America Depository Receipt - ADR là chứng khoán mà một ngân hàng Mỹ thường phát hành cho các cư dân Mỹ, dựa vào việc cơ quan NẮM GIỮ CÁC CỔ PHIẾU thường của một công ty ngoại quốc. Người giữ ADR có quyền hưởng cổ tức của công ty ngoại quốc. Bản thân ADR có thể trao đổi được. Ưu điểm của việc làm này là THỊ TRƯỜNG VỐN được mở rộng đối với các công ty không phải của Mỹ trong khi đó có thể đáp ứng được mong muốn của người Mỹ về một loại cổ phiếu "nặng" để trao đổi. (Một ADR có thể được đóng trọn gói để có quyền với nhiều chứng khoán thường).





