Aging Schedule / Bản Liệt Kê Aging
Aging Schedule là bảng phân loại các khoản phải thu, số hàng trữ kho, hay các khoản nợ theo thời gian. Trong một danh mục vay, aging cho biết sự sắp xếp của các khoản từ ngày sở hữu, và là một số chỉ cho tổng số tài sản và khả năng hoàn lại. Aging của các khoản mục kế toán cũng cho biết các món nợ quá kỳ hạn, như các món nợ đã quá hạn 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày hoặc các chỉ dẫn hữu ích cho nỗ lực thu hồi. Các khoản nợ quá hạn 90 ngày được liệt vào danh sách các khoản nợ tồn đọng, nghĩa là ngân hàng sẽ không ghi lãi suất vào báo cáo thu nhập. Nếu tiếp tục, khoản nợ này sẽ được xóa như một khoản nợ xấu.
Agrarian Revolution / Cách Mạng Nông Nghiệp
Agrarian Revolution là tình huống trong đó sản lượng nông nghiệp tăng lên rõ rệt nhờ những thay đổi về tổ chức và kỹ thuật.
Agreement - Arrangement - Contract - Deal - Deed / Thỏa Thuận
Tất cả những từ trên đều mô tả thỏa thuận giữa cá nhân với công ty, hoặc giữa các công ty với nhau. Agreement và arrangement thường được sử dụng để chỉ những quan hệ kinh doanh đã tồn tại được một thời gian tương đối dài. Deal mô tả một thỏa thuận mua hay bán cái gì. Agreement, arrangement và deal cũng được sử dụng để chỉ một thỏa thuận cần quá trình đàm phán kéo dài. Contract (Hợp đồng) thường ám chỉ thỏa thuận được ghi bằng văn bản pháp lý. Deed (Chứng thư) là một loại hợp đồng được sử dụng trong một số trường hợp hạn chế, như chứng thư quyền sở hữu đất, chứng thư về vai trò đối tác.
Agreement Among Underwriters / Thỏa Thuận Giữa Các Nhà Bao Tiêu, Bảo Lãnh
Agreement Among Underwriters là hợp đồng giữa những thành viên tham dự của một Tập đoàn ngân hàng đầu tư, đôi khi được gọi là hợp đồng tập đoàn (syndicate contract) hoặc thỏa thuận mua hàng theo nhóm (purchase group agreement). Nó khác thỏa thuận bao tiêu, được ký bởi công ty phát hành chứng khoán và Quản trị Tập đoàn hoạt động như một đại diện cho nhóm bảo lãnh. Thỏa thuận giữa các nhà bao tiêu, bảo lãnh: Bổ nhiệm giám đốc ngân hàng đầu tư ban đầu làm giám đốc và đại diện tập đoàn. Bổ nhiệm thêm các quản lý, nếu cần thiết. Xác định trách nhiệm pháp lý tương ứng của thành viên (thường giới hạn tới sự tham gia của họ) và đồng ý để trả cổ phần cho các thành viên vào ngày thanh toán. Ủy quyền cho giám đốc thành lập và chỉ định đơn vị cho nhóm bán hàng, và tôn trọng các điều luật của hợp đồng của nhóm bán. Xác định thời gian tồn tại của tập đoàn, thường là 30 ngày sau khi nhóm bán chấm dứt, hoặc kết thúc sớm hơn theo sự thỏa thuận chung.
Agricultural Earnings / Các Khoản Thu Từ Nông Nghiệp
Agricultural Earnings là khoản thu từ nông nghiệp thường khó định lượng, đặc biệt trong nền nông nghiệp tự túc hoặc ở những nơi thu nhập đưpực trả bằng hiện vật nghĩa là nông sản.
Agricultural Exports / Nông Sản Xuất Khẩu
Agricultural Exports là các sản phẩm nông nghiệp làm ra để xuất khẩu chứ không phải cho mục đích tự cung tự cấp hay cho thị trường trong nước
Agricultural Lag / Độ Trễ Của Nông Nghiệp
Agricultural Lag là thời gian giữa sản xuất nông nghiệp thực tế và sản xuất nông nghiệp tiềm năng Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.
Agricultural Reform / Cải Cách Nông Nghiệp
Agricultural Reform là một trong những hạn chế đối với PHÁT TRIỂN KINH TẾ là việc sử dụng các biện pháp sơ khai, không hiệu quả trong nông nghiệp. Các ngành ở nông thôn ở những nước kém phát triển cung cấp thực phẩm ngày ngày càng tăng cho dân cư thành phố. Các phương pháp cũ, thô sơ thì kém hiệu quả , còn kỹ thuật cơ giới hoá hiện đại thì không thích hợp. Vì vậy một dạng cải cách là áp dụng loại công nghệ nông nghiệp thích hợp.
Agricultural Sector / Khu Vực Nông Nghiệp
Agricultural Sector là khu vực hoặc một bộ phận dân số tham gia vào nghề nông, cung cấp lương thực, nguyên liệu thô như bông, gỗ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Agricultural Subsidies / Khoản Trợ Cấp Nông Nghiệp
Agricultural Subsidies là khoản tiền trả cho nông dân với mục đích khuyến khích sản xuất lương thực thực phẩm và trợ giúp thu nhập của nông dân.
Agricultural Wage Boards / Các Hội Đồng Tiền Công Trong Nông Nghiệp
Agricultural Wage Boards là các cơ quan do pháp luật quy định mức lương tối thiểu đối với những người làm nông nghiệp ở Anh, xứ Wales và Scotland cùng một cách chính thức như các hội đồng tiền công.
Agriculture / Nông Nghiệp
Agriculture - Nông nghiệp là 1 trong 3 khu vực kinh tế của nền kinh tế, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Nông nghiệp là ngành sản xuất thức ăn cho người, thức ăn động vật, bông sợi và các hàng hóa khác bằng việc chăn nuôi và thuần hóa các loại cây trồng và vật nuôi. Thuật ngữ Nông nghiệp ngày nay còn bao gồm tất cả các hoạt động đặc biệt liên quan tới việc sản xuất thức ăn/thức ăn gia súc/bông sợi, bao gồm cả các kĩ thuật chăn nuôi và chăm sóc vật nuôi. Thuật ngữ Agriculture còn là cách gọi tắt cho ngành khoa học nông nghiệp (Agriculture Science). Lịch sử ngành nông nghiệp là một nhân tố trung tâm đối với lịch sử nhân loại, chính những tiến bộ trong nông nghiệp đã trở thành nhân tố thiết yếu cho những thay đổi về kinh tế-xã hội của loài người. Những bước đi đầu tiên trong nền văn minh nhân loại cũng gắn liền với văn minh nông nghiệp (biết trồng trọt và chăn nuôi). Năm 2006, có thống kê rằng 36% người lao động trên toàn thế giới làm việc trong ngành nông nghiệp (năm 1996 là 42%), điều đó chứng tỏ nông nghiệp vẫn là một ngành rất phổ biến. Tuy nhiên, tỉ lệ làm việc trong ngành nông nghiệp đã giảm đi rất nhiều từ khi tiến hành các cuộc cách mạng công nghiệp hóa, và năm 2006 là năm đầu tiên trong lịch sử, khu vực dịch vụ vượt qua khu vực nông nghiệp, trở thành khu vực kinh tế có nhiều nhân công nhất trên toàn thế giới. Sản phẩm nông nghiệp cũng chỉ chiếm nhỏ hơn 5% tổng sản phẩm thế giới.
Air Pocket Stock, Hit An Air Pocket / Cổ Phiếu Sụt Giá
Air pocket stock là cụm từ chỉ một cổ phiếu bị sụt giá rất mạnh và đột ngột, thông thường do những thông tin xấu ngoài dự kiến, hay sau khi công bố kết quả hoạt động nghèo nàn của một kì hoạt động. Cụm từ này gắn liền với "air pocket" - nguyên văn là lỗ hổng không khí, còn được gọi là "air hole" - một thuật ngữ gắn liền với ngành hàng không. Như mọi người đều biết, máy bay bay được là nhờ lực đẩy của lớp đệm không khí lên cánh máy bay. Tuy nhiên trong bầu khí quyển, có những nơi áp suất không khí bị tụt đi một cách đột ngột do nhiều nguyên nhân gây ra, như sự chuyển động của các dòng không khí có nhiệt độ khác nhau, thay đổi áp suất giữa 2 bên sườn 1 dãy núi cao... Trong hành trình của nó, nếu bay vào vùng không khí này, máy bay sẽ bị "hẫng", tức là mất độ cao một cách đột ngột, tuy hiếm khi hiện tượng này làm máy bay rơi song nó cũng gây ra những thiệt hại nhất định và sự hoảng loạn về tinh thần hành khách. Gần đây, trong một chuyến bay từ Singapore sang Sydney với 236 hành khách và 16 thành viên trong phi hành đoàn, hiện tượng hi hữu này đã xảy ra. Chiếc phi cơ đã vô tình rơi vào một lỗ hổng không khí khi bay ngang qua miền trung tâm Australia, làm cho máy bay rơi đột ngột xuống khoảng 100m. 9 hành khách và 3 thành viên phi hành đoàn đã bị thương ở cổ, lưng và hông do không thắt dây an toàn. Sự hoảng loạn của hành khách ngồi trên chuyến bay này cũng tương tự như tâm lý hoảng sợ của các nhà đầu tư khi cổ phiếu của công ty mà họ đang đầu tư đột ngột mất giá, khiến một số lượng lớn cổ phiếu sẽ bị bán ra và càng làm tình trạng công ty thêm trầm trọng hơn. Ngoài ra, khi nói một công ty "hit an air pocket" người ta cũng hiểu là cổ phiếu công ty đó bị mất giá đột ngột và công ty đó đang gặp những vấn đề trục trặc khá nghiêm trọng.
Aitken Estimator / Sự Tha Hoá
Thuật ngữ được C.MÁC sử dụng để miêu tả tình trạng tinh thần của công nhân trong một xã hôi tư bản.
Algebra / Đại Số
Algebra là một ngành lớn của toán học, có xuất xứ lâu đời nghiên cứu về các cấu trúc tập hợp, quan hệ và số lượng. Cái tên đại số bắt nguồn từ một nhà toán học Tây Á, vùng vịnh Péc-xích (Persian Gulf) có tên là Muhammad ibn Mūsā al-Kwārizmī, trong cuốn sách mang tựa đề "Al-Kitab al-Jabr wa-l-Muqabala," nghĩa là "Luận súc tích về tính toán bằng phép hoàn thể và cân bằng." Cuốn sách này cung cấp các phép toán sử dụng ký hiệu giúp giải các nghiệm hệ thống cho phương trình tuyến tính và toàn phương. Đại số là một nhánh toán học lớn, và được giảng dạy phổ biến từ cấp Trung học, gọi là Đại số cơ sở. Ở bậc đại số cơ sở, các vấn đề thường được đề cập tới là các kết quả phép cộng, nhân, khái niệm về biến số, giai thừa, đa thức, khai căn, v.v.. Trên thực tế, đại số là ngành lớn và nó rộng hơn rất nhiều so với kiến thức phổ thông nói chung, thường ở mức đại số cơ sở. Đại số có xu hướng tổng quát hóa rất cao. Nét đặc trưng của đại số hiện đại là ngoài làm việc với các con số, đại số sử dụng rất nhiều các ký hiệu toán học, biến, tập hợp, các phần tử của tập hợp. Phép cộng và nhân là hai toán tử cơ bản của đại số. Dựa trên những định nghĩa chính thống, người ta sử dụng hai toán tử này để xây dựng tiếp các khái niệm trừu tượng như nhóm, vành và trường. Bốn nhóm chính của đại số có thể liệt kê như sau. Đại số phổ thông. Đại số trừu tượng (còn gọi là đại số hiện đại). Đại số tuyến tính (nghiên cứu các không gian véc-tơ). Đại số phổ quát (nghiên cứu các cấu trúc đại số). Trong các nghiên cứu bậc cao, các hệ thống đại số xây dựng theo hệ tiên đề như nhóm, vành, trường và các đại số xác định trên một trường được nghiên cứu với sự hiện diện của một cấu trúc hình học tự nhiên (còn gọi là một tô-pô) có khả năng diễn giải tương thích với cấu trúc đại số đó. Một số phạm vi nghiên cứu giải tích hàm trong đại số bao gồm: Các không gian tuyến tính định chuẩn; Không gian Banach; Không gian Hilbert; Các đại số Banach; Các đại số tô-pô; Các nhóm tô-pô, v.v.. Đại số cũng được ứng dụng rất nhiều trong các mô hình xác suất thống kê và trong các cấu trúc kinh tế, nghiên cứu kinh doanh.
All Or None Order - AON / Lệnh Giao Dịch Toàn Bộ
All Or None Order - AON là lệnh giao dịch toàn bộ là một một lệnh giới hạn giá (limited price oder), theo đó nó chỉ có thể hoặc được thực hiện đầy đủ hoặc bị huỷ chứ không chấp nhận việc thực hiện giao dịch một phần. Ví dụ một nhà đầu tư chỉ thị cho người môi giới mua 200 hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu Nasdaq với giá 50 USD thì giao dịch sẽ chỉ được thực hiện nếu người môi giới tìm được người bán đủ 200 hợp đồng đó một lúc với giá bằng hoặc thấp hơn 50 USD, nếu chỉ có 150 hợp đồng được chào bán thì giao dịch sẽ không được thực hiện dù giá tốt đến đâu. Lệnh AON sẽ chỉ hết hiệu lực khi mà người phát lệnh huỷ lệnh đó hoặc lệnh được thực hiện. Theo luật Mỹ, việc đặt lệnh chào bán/mua toàn bộ đối với cổ phiếu bị cấm, còn đối với trái phiếu thì chịu sự giới hạn nghiêm ngặt của Quy định 61. Lệnh AON được sử dụng phổ biến trong các giao dịch tiền tệ hoặc các công cụ phái sinh như hợp đồng quyền chọn(option), hợp đồng kì hạn (future). Gần giống với AON còn có một kiểu lệnh giao dịch nữa là FOK(Fill or Kill order), chỉ khác ở chỗ lệnh FOK thường đặt ra một thời gian hiệu lực, quá thời gian này lệnh tự động huỷ.
All Ordinaries Index / Chỉ Số Giá Trị Vốn Hóa Thị Trường
All Ordinaries Index là chỉ số để đo giá trị vốn hóa thị trường. Chỉ số đại diện cho 500 công ty lớn nhất được liệt kê trên thị trường chứng khoán Australia. Giá trị vốn hóa thị trường là yêu cầu duy nhất của cơ quan này, bởi vì khả năng thanh toán không được tính trong chỉ số này, ngoại trừ các công ty cư trú ở nước ngoài. Chỉ số được thiết lập bởi ASX với 500 điểm tháng 1 năm 1980. Đến 31 tháng 8 năm 2000, chỉ số đã bao gồm 99% thị trường Australia. Chỉ số S&P/ASX 200 thay thế chỉ số này như một chỉ dẫn hàng đầu cho thị trường năm 2000.
All Weather Fund / Quỹ Đầu Tư Với Mọi ”Thời Tiết”
All Weather Fund là một quỹ hỗ tương mà có khuynh hướng thể hiện tốt suốt cả khi điều kiện thị trường và điều kiện nền kinh tế thuận lợi cũng như bất lợi. Trong hầu hết trường hợp, kết quả của dạng đầu tư này được thực hiện thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư bằng việc kết hợp giữa các lớp tài sản và sử dụng các chiến lược phòng ngừa rủi ro khác nhau. Trong các quỹ hỗ tương quốc tế, không có một danh mục “ all weather fund” chính thức. Tuy nhiên, một lượng lớn các loại quỹ có đủ điều kiện thỏa mãn cho tên gọi ấy theo đặc tính tự nhiên của quỹ và cách mà chúng được quản lý. Ví dụ, một quỹ đầu tư cân bằng đơn giản (gồm cổ phiếu và trái phiếu) với danh mục có tỷ trọng 60% cổ phiếu và 40% chứng khoán có thu nhập cố định thường tiến rất gần đến các mô tả phù hợp với quỹ all- weather. Một quỹ phân bổ tài sản (gồm cổ phiếu, trái phiếu và các khoản tương đương tiền mặt) cũng sẽ đủ điều kiện nếu tỷ lệ đại diện của các lớp tài sản rơi vào loại vừa. Gần đầy hơn, các quỹ long- short, tức là các quỹ kết hợp cả hai vị thế mua và vị thế bán điều chỉnh các điều kiện thị trường, làm xuất hiện các cơ hội kiếm lợi tiềm năng cho các nhà đầu tư khi thị trường lên và bảo vệ họ khi thị trường di chuyển xuống.
Allais Maurice / 1911-2010
Nhà kinh tế học người Pháp đã được nhận giải thưởng Nobel về kinh tế học năm 1988. Allais là một kỹ sư, bằng cách tự học về kinh tế chủ yếu trong thời kỳ Đức xâm chiếm Pháp suốt Chiến tranh thế giới thứ 2, khi đó ông ít được tiếp cận với các ấn phẩm nước ngoài. Mặc dù vậy, ông đã thành công trong việc tự xây dựng được những nền tảng to lớn về lý thuyết CÂN BẰNG TỔNG THỂ HIỆN ĐẠI và KINH TẾ HỌC PHÚC LỢI. Ông được coi là người cha đẻ và người dẫn đầu trí tuệ của trường phái biên học ở Pháp, đã sản sinh ra nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng như Debreu. Mặc cho xu hướng thiên về lý thuyết mạnh mẽ, Allais vẫn cho rằng các mô hình lý thuyết được xây dựng để trả lời những câu hỏi thực tiễn và nên được kiểm nghiệm qua thực tế. Thành tích của ông được nhận giải Nobel chủ yếu là thành tựu nghiên cứu sơ bản về kinh tế học và đóng góp cơ bản của ông là các công thức toán học vĩ đại về cân bằng thị trường và tính chất hiệu quả của các thị trường. Nghiên cứu của ông về phân tích động thái vĩ mô tiền tệ và lý thuyết rủi ro cũng rất nổi bật. Mãi đến khi kiểm tra thực nghiệm về học thuyết độ thoả dụng kỳ vọng của VON NEUMANN-MORGENSTERN ông mới được nổi tiếng, thực nghiệm đó có tiêu đề là nghịch lý Allais. Ông đã chỉ ra rằng sự lựa chọn của các cá nhân khi được yêu cầu sắp xếp một cặp dự án rủi ro đều sắp xếp một cách hệ thống và lặp lại (như các nghiên cứu khác đã lựa chọn) mâu thuẫn với dự đoán tối đa hoá độ thoả dụng dự kiến. Các công trình của ông là Nghiên cứu về nguyên lý Kinh tế -1943 (sau còn được tái bản với tiêu đề Xử lý Kinh tế đơn thuần-1952) và Kinh tế và lợi nhuận(1947).
All-Cap Fund / Quỹ Tương Hỗ Cổ Phiếu
All-Cap Fund là một quỹ hỗ tương cổ phiếu tức là quỹ đó đầu tư vào các chứng khoán là cổ phiếu mà không quan tâm đến đó là doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ, hay doanh nghiệp vừa. Thuật ngữ “ cap” là viết tắt của của “capitalization” – vốn hóa. Cộng đồng đầu tư đo lường “kích cỡ” của một doanh nghiệp thông qua giá trị vốn hóa thị trường được tính bằng tổng cổ phần đang lưu hành nhân với giá trị thị trường hiện tại của một cổ phần. Không có một thước đo quốc tế nào cho định nghĩa chính xác của các mức vốn hóa thị trường khác nhau, nhưng theo các thông số sau cũng cho chúng ta một ước lượng xấp xỉ: Doanh nghiệp có mức vốn hóa khổng lồ (Giant or Mega Cap) : Khoảng trên $200 tỷ Doanh nghiệp có mức vốn hóa lớn (Large Cap) : từ $10 tỷ đến$200 tỷ Doanh nghiệp có mức vốn hóa trung bình (Mid Cap): từ $2 tỷ đến $10tỷ Doanh nghiệp có mức vốn hóa nhỏ (Small Cap) : từ $300 triệu đến$2 tỷ Doanh nghiệp có mức vốn hóa rất nhỏ(Micro Cap): nhỏ hơn $300 triệu Các thông số thiết kế này cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư quỹ hỗ tương về mục tiêu đầu tư của quỹ trong thuật ngữ về kích cỡ doanh nghiệp (company size). Trong trường hợp của một quỹ “ all- cap”, nhà quản trị danh mục đầu tư hoàn toàn tự do khi đầu tư vào các doanh nghiệp với bất cứ một doanh nghiệp nào, bất chấp kích cỡ doanh nghiệp ấy như thế nào.
Một quỹ tương hỗ đầu tư vào chứng khoán vốn mà không quan tâm đến việc một công ty đó nhỏ, vừa hay lớn. Thuật ngữ "cap" là viết tắt của "capitalization" - vốn hóa. Cộng đồng đầu tư đo lường quy mô của một công ty bằng cách vốn hóa thị trường của nó, được tính bằng cách nhân số lượng cổ phiếu đang lưu hành của công ty với giá cổ phiếu hiện tại. Không có sự đồng thuận quốc tế nào về các định nghĩa chính xác của những giới hạn thị trường khác nhau, nhưng các tham số sau đây là một ước lượng xấp xỉ tốt: Mức vốn hóa khổng lồ: Trên 200 tỷ đô laMức vốn hóa lớn: Từ 10 tỷ đến 200 tỷMức vốn hóa vừa: Từ 2 tỷ đô la đến 10 tỷ đô laMức vốn hóa nhỏ: Từ 300 triệu đô la đến 2 tỷ đô laMức vốn hóa siêu nhỏ: Dưới 300 triệu đô la Những thông số này thông báo cho các nhà đầu tư quỹ tương hỗ về trọng tâm đầu tư của quỹ vào quy mô công ty. Trong trường hợp quỹ tương hỗ cổ phiếu, người quản lý danh mục đầu tư hoàn toàn có thể tự do đầu tư vào các công ty thuộc mọi quy mô. Do bản chất bao gồm cả việc nắm giữ, một quỹ chỉ số thị trường chứng khoán sẽ có một danh mục đầu tư toàn vốn.





