Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Administrative Hold / Nắm Quyền Quản Trị

Một thuật ngữ thương được nhắc đến bởi các Broker thiếu kinh nghiệm. Nó ám chỉ việc ngân hàng của nhà đầu tư giữ các quỹ cho lợi ích của cá nhân khác mà không thực sự làm trở ngại {việc khóa quỹ} hoặc di chuyển tài sản.

Absolute Income Hypothesis / Giả Thuyết Thu Nhập Tuyệt Đối

Giả thuyết này cho rằng các chi phí tiêu dùng (C) là một hàm số của thu nhập khả dụng của cá nhân (Yd): C = C(Yd). Quan điểm này về các yếu tố quyết định tiêu dùng được trình bày chi tiết trong lý thuyết tổng quát của Keynes, người đã đưa ra giả định rằng tiêu dùng sẽ có quan hệ hàm số với thu nhập theo những cách sau đây: Thứ nhất, đối với bất cứ thay đổi nào trong thu nhập, sự thay đổi tương ứng trong tiêu dùng sẽ cùng hướng nhưng ở mức thấp hơn, do đó khuynh hướng tiêu dùng biên sẽ nhỏ hơn 1. 0 < ∆C/∆Y < 1 (Trong đó ∆ là thay đổi nhỏ) Thứ hai, khuynh hướng tiêu dùng sẽ nhỏ hơn khuynh hướng tiêu dùng trung bình: ∆C/∆Y < C/Y. Cuối cùng, tỷ lệ thay đổi khuynh hướng tiêu dùng biên sẽ là âm; có nghĩa là hàm tiêu dùng sẽ ít dốc hơn khi thu nhập tăng. Trong khi dãy số liệu theo thời gian ngắn hạn và số liệu chéo về dạng hàm tiêu dùng ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết Keynes thì số liệu dài hạn lại đối lập với nó. Kết quả là dạng này của hàm tiêu dùng chỉ bao hàm những mô hình đơn giản nhất.

Average Daily Balance / Số Dư Bình Quân Hàng Ngày

1. Số tiền bình quân trong một tài khoản tiên gửi bằng với tổng số dư tiền gửi hàng ngày trong suốt kỳ kế toán, thường là một tháng chia cho số ngày.  2. Phương pháp tính chi phí tài chính thẻ tín dụng, được tính bằng cách lấy số dư vào đầu mỗi ngày cộng với các phí mới phát sinh ngày đó, và trừ đi mọi khoản thanh toán cho việc mua. Tổng số kết quả, được chia cho số ngày trong kỳ tính hóa đơn, rồi nhân với chi phí hành chính.

Average Down / Hạ Thấp Giá Trung Bình

1. Quá trình mua thêm cổ phiếu trong một công ty với giá thấp hơn giá ban đầu. Nó làm cho giá trung bình của tất cả cổ phiếu bạn mua giảm. 2. Chiến lược nhằm hạ thấp giá trung bình phải trả cho cổ phiếu của một công ty. Ví dụ một nhà đầu tư muốn mua 1.000 cổ phiếu có thể mua 400 cổ phiếu theo giá thị trường hiện hành và mua tiếp 3 lần sau, mỗi lần 200 cổ phiếu khi giá rớt. Như thế giá trung bình của cổ phiếu sẽ thấp hơn nếu mua một lần tất cả 1.000 cổ phiếu. Các nhà đầu tư cũng kéo giá trung bình xuống để giảm bớt những mất mát do thuế. Nếu một người nào đó mua cổ phiếu với giá $20 mỗi cổ phiếu, sau đó giá hạ xuống còn $10. Thay vì không làm gì cả, nhà đầu tư có thể mua với giá $10 sau đó bán lỗ cổ phiếu đã mua với giá $20, như thế có thể dùng để bù trừ cho số tiền khác đã kiếm được trong thời gian tính thuế. Tuy nhiên theo quy luật Mua Bán Phủi Tay (wash sale) nói rằng để được quyền khai là đã thua lỗ, nhà đầu tư không được bán chứng khoán đã mua với giá $20 ít nhất là 30 ngày sau khi mua chứng khoán với giá $10. Đôi khi, đây một chiến lược tốt, nhưng đôi khi, ta nên bán tất cả cổ phiếu bị hạ giá thay vì mua thêm vào.

Average Life / Thời Gian Hữu Dụng Trung Bình

Average Life là:  1. Ước lượng thời gian đến ngày đáo hạn của trái phiếu, tính cả khả năng trả tiền sớm. Thời gian hữu dụng trung bình được tính toán sử dụng trung bình trọng số của thời gian tính đến khi nhận được hết các dòng tiền trong tương lai. 2. Số năm tính đến thời điểm khi 1/2 của mỗi dollar vốn ban đầu bỏ ra mua một chứng khoán sẽ được chi trả. Thời gian hữu dụng trung bình là một phương pháp tính nhanh thời điểm thu hồi trái phiếu, đồng thời xác định lợi suất khi đáo hạn của trái phiếu. Cách tính này chỉ có tính tương đối bởi vì nó phụ thuộc vào các khoản chi trả trước của người vay và nhiều yếu tố khác. Ví dụ, một khoản thế chấp 30 năm thông thường sẽ trả trước nhanh hơn nhiều so với các dạng khác. Một nửa thời gian hữu dụng của trái phiếu doanh nghiệp hay chính phủ thường được xác định bằng các khoản chi trả trước vào các quỹ chi phí chìm. Còn được gọi là thời gian hữu dụng bình quân trọng số đối với chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp hay Đáo hạn trung bình (Average Matusity) đối với trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp.

Average Life / Thời Gian Sống Bình Quân

Số năm đến thời ddierm thanh toán 50% giá trị ban đầu bằng tiền của một chứng khoán. Thời gian bình quan là phương pháp thanh toán tính ngày thu hồi trái phiếu, xác định suất thu lợi đáo hạn. Cách tính này chỉ xấp xỉ, vì nó phụ thuộc vào việc thanh toán trước của người vay và các yếu tố khác. Ví dụ một vài khoản vay cầm cố quy ước 30 năm sẽ trả trước nhanh hơn các cầm cố khác. Phân nửa kỳ đáo hnaj của các trái phiếu công ty và đô thị thường được xác định bởi việc trả trước vào quỹ thanh toán nợ. Cũng được gọi là kỳ đáo hạn bình quân trọng số với các chứng khoán được đảm bảo bằng cầm cố hay kỳ đáo hạn bình quân với các trái phiếu công ty và trái phiếu đô thị.  Xem CASH FLOW YIELD; DURATION; HALF LIFE.

ADJUSTING INTEREST RATE

Một trong số các công cụ mà FED sử dụng khi muốn nền kinh tế thay đổi theo hướng tăng hay giảm là lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất chiết khấu tăng lên, các ngân hàng có xu hướng vay ít hơn và tiền sẵn sàng để cho vay tới khách hàng giảm đi. Nếu lãi suất giảm, ngân hàng có xu hướng vay tự do hơn và cho vay tới khách hàng ở mức lãi suất hấp dẫn hơn. Kết quả là những thay đổi về lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng rộng khắp đến nền kinh tế. Và nếu FED không thoả mãn với phản ứng kinh tế, no có thể hạ hoặc tăng lãi suất lần thứ 2, lần thứ 3...

Adjustment Process / Quá Trình Điều Chỉnh

Đây là thuật ngữ chung chỉ các cơ chế điều chỉnh hoạt động trong nền kinh tế thế giới nhằm loại bỏ những mất cân đối trong thanh toán với nước ngoài. Những cơ chế liên quan đến bản vị vàng, chế độ bản vị hối đoái, thừa số ngoại thương, tỷ giá hối đoái thả nổi.

Administrative Expense / Chi Phí Quản Lí; Chi Phí Quản Trị

Administrative Expense là chi phí xảy ra trong quá trình quản lí chung của doanh nghiệp. Ví dụ bao gồm lương quản lí, tiền thuê văn phòng và trang thiết bị cho đội ngũ quản lí, chi phí bảo hiểm, các dịch vụ được sử dụng cho đội ngũ quản lí, trang thiết bị mất giá. Ví dụ, trang thiết bị mất giá 1000 đôla, trong đó 60% liên quan đến bán hàng và 40% liên quan đến quản lí tính theo mét vuông hoặc tính theo lượng nhân viên, thì báo cáo thu nhập sẽ phát biểu rằng 600 đôla là chi phí bán hàng và 400 đôla là chi phí quản lí. Administrative Expenses là các chi phí mà một tổ chức phải chịu không liên quan trực tiếp đến một chức năng cụ thể như chế tạo hoặc sản xuất hoặc bán hàng. Các chi phí này có liên quan đến toàn bộ tổ chức, trái ngược với một bộ phận riêng lẻ; còn được gọi là "administrative cost." Tiền lương của giám đốc điều hành cấp cao và chi phí cho các dịch vụ chung như kế toán là ví dụ về chi phí quản trị.

Advance Refunding / Thanh Toán Tạm Ứng Trước

Đợt phát hành trái phiếu để thanh toán cho những trái phiếu chưa thanh toán khác. Trái phiếu mới này thường được phát hành với mệnh giá thấp hơn mệnh giá trái phiếu chưa thanh toán trước đây. Một đợt phát hành trái phiếu mà trái phiếu được bán với giá thấp hơn trái phiếu chưa được thanh toán trước đây. Số tiền thu được sẽ được đầu tư, và khi những trái phiếu trước đây có thể trả ngay được, chúng sẽ được thanh toán dứt với số tiền thu được từ đầu tư. Theo Investopedia Thanh toán tạm ứng trước thường được Chính phủ sử dụng để trì hoãn việc trả nợ của mình thay vì phải trả ngay một khoản tiền lớn. Trái phiếu nhà nước thường được miễn thuế, nhưng nếu được phát hành để thanh toán tạm ứng trước, nó sẽ không được miễn thuế nữa, bởi vì trái phiếu nhà nước thường có lãi suất thấp hơn, và chính quyền có thể sử dụng thanh toán tạm ứng trước để phát hành lượng không giới hạn các khoản vay với lãi suất thấp để đầu tư với lãi suất cao hơn.

Adverse Opinion / Ý Kiến Bất Lợi

Adverse Opinion là thuật ngữ được sử dụng khi một kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính của công ty không phản ánh đúng tình hình tài chính, kết quả của sự điều hành, thay đổi trong tình hình tài chính hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn Gaap. Kiểm toán viên phải đưa ra được lý do cho ý kiến bất lợi của mình trong báo cáo kiểm toán. Ý kiến bất lợi thường chỉ có khi CPA (Kế toán có chứng chỉ hành nghề tiêu chuẩn) không thể thuyết phục được khách hàng thay đổi báo cáo tài chính, nên họ phải phản hồi đánh giá của kiểm toán viên về kết quả các sự kiện trong tương lai nếu không họ sẽ phải tôn trọng GAAP.

Adverse Selection / Lựa Chọn Đối Nghịch

Adverse Selection là khuynh hướng của những người đang đối mặt với nguy hiểm hay rủi ro muốn được bảo hiểm. Ví dụ, những người đang mắc bệnh hiểm nghèo sẽ muốn mua bảo hiểm sức khỏe và những người đến những vùng nguy hiểm như khu vực chiến tranh muốn mua nhiều bảo hiểm nhân thọ hơn. Các công ty thuê nhân công cho những vị trí nguy hiểm muốn có mức bảo hiểm bồi thường lớn hơn cho công nhân. Để hạn chế những rắc rối với lựa chọn bất lợi, các công ty bảo hiểm cố gắng giảm chi phí quảng cáo đến những người đối tượng phải bồi thường cao bằng cách tăng phí bảo hiểm hay hạn chế bảo hiểm cho những đối tượng này.

Advertising - Advertisement / Quảng Cáo

Advertising là danh từ không đếm được, ám chỉ một hành động thông báo với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, hoặc nguyên vật liệu mà công ty sử dụng để tạo ra sản phẩm dịch vụ. Advertisement là danh từ đếm được, ám chỉ một bản tin quảng cáo, như bản thông báo, hoặc một đoạn phim về một sản phẩm cụ thể. Advertisement thường được viết tắt là ad (tiếng Anh-Anh hoặc Anh-Mỹ) hoặc advert (Anh-Anh).

Advertising - Sale Ratio / Tỷ Lệ Doanh Số - Quảng Cáo

Advertising - Sale Ratio là tỷ lệ chi phí quảng cáo của các hãng trên tổng doanh thu bán hàng.

Advertorial / Quảng Cáo Thương Mại

Các công ty Việt Nam hiện nay đã chú trọng hơn đến vai trò của PR, trong đó có việc sử dụng các bài báo theo dạng Advertorial, thuật ngữ được dùng trong ngành PR (Public Relations). Advertorial - Bài báo thương mại, là khái niệm chỉ việc công ty mua trang trên các báo để đưa những thông tin mình cần đưa. Từ này là sự kết hợp của 2 từ “quảng cáo” và “biên tập”. Đôi khi, Advertorial được miêu tả như một công cụ xúc tiến hỗ trợ. Các công ty thường trình bày Advertorial theo phong cách một bài báo thông thường, đôi lúc thông tin “trông có vẻ” khách quan để tăng sức thuyết phục, khác với hình thức quảng cáo là công khai tung hô về mình. Nhiều tờ báo có đội ngũ chuyên viết bài theo kiểu Advertorial, hoặc có thể sử dụng những người làm nghề tự do. So với các hình thức PR truyền thống như đưa tin, viết bài, phỏng vấn,...hình thức. Advertorial có ưu thế là doanh nghiệp có thể đưa thông tin và hình ảnh của mình đến bạn đọc một cách đầy đủ và không sợ ban biên tập tờ báo chỉnh sửa. Cách này cũng tạo “cảm giác đáng tin cậy” hơn vì được trình bày giống một bài viết. Tuy nhiên, Advertorial cũng dễ bị “lộ tẩy” là một bài quảng cáo thông thường và gây phản cảm. Các công ty Việt Nam hiện nay đã chú trọng hơn đến vai trò của PR, trong đó có việc sử dụng các bài báo theo dạng Advertorial.

Advising Bank, Notifying Bank / Ngân Hàng Thông Báo

Advising Bank, Notifying Bank là một ngân hàng tham gia trong sơ đồ thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng, trong đó nó có vai trò thông báo cho người hưởng lợi rằng một L/C đã được mở tại ngân hàng phát hành cho người hưởng lợi và các điều khoản, điều kiện của L/C đó. Ngân hàng thông báo thường chỉ có trách nhiệm thông báo, chứ không nhất thiết có trách nhiệm đối với việc thanh toán L/C mà nó thông báo. Sau khi L/C được phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu, L/C này sẽ được chuyển tới ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo tiếp đó có trách nhiệm chuyển nguyên văn L/C này tới cho người xuất khẩu. Ngân hàng thông báo có thể là chi nhánh hoặc một ngân hàng có quan hệ với ngân hàng phát hành tại nước người hưởng lợi. Để tránh tình trạng giả mạo, ngân hàng phát hành thường gửi L/C qua chi nhánh hoặc ngân hàng có quan hệ đại lý với nó, các ngân hàng này bao giờ cũng có chữ kí mẫu lưu trong hồ sơ để kiểm tra chữ kí trên L/C và một hệ thống mã hoá bí mật để phân biệt một L/C thật với một L/C giả mạo. Người xuất khẩu có thể yêu cầu người nhập khẩu chỉ định chính ngân hàng của người xuất khẩu làm ngân hàng thông báo trong đơn xin mở L/C. Ở một số nước, việc làm này đem lại nhiều lợi ích cho người xuất khẩu, như là chi phí thấp hơn do quan hệ tốt của người xuất khẩu với ngân hàng, giao dịch thuận tiện hơn khi mà người xuất khẩu đã có sẵn tài khoản tại ngân hàng này.

Affiliate / Liên Kết Thành Viên

Affiliate là quan hệ giữa hai công ty khi một công ty sở hữu số vốn góp đáng kể, nhưng dưới mức đa số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty kia, hoặc khi cả hai đều là công ty phụ thuộc (công ty con) của công ty thứ ba. Hai công ty được gọi là liên kết thành viên khi một công ty chiếm ít hơn đa số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty còn lại, hoặc cả 2 là công ty con của một công ty thứ 3. Một công ty chi nhánh là công ty mà trên 50% cổ phiếu có quyền biểu quyết được sở hữu bởi một công ty khác, được gọi là công ty mẹ. Một công ty chi nhánh theo định nghĩa, luôn là một liên kết, nhưng một liên kết được gọi là chi nhánh chỉ khi tồn tại sự kiểm soát đa số. Trong ngôn từ hàng ngày, liên kết là từ chính xác cho những quan hệ liên công ty, tuy nhiên không trực tiếp, khi mối quan hệ công ty mẹ- con không thích hợp. Trong bộ luật ngân hàng (Banking Act) năm 1933: tổ chức liên kết là bất kỳ tổ chức nào mà ngân hàng sở hữu hay kiểm soát bằng cách nắm giữ cổ phiếu, hoặc các cổ đông của ngân hàng sở hữu, hoặc các viên chức của tổ chức này cũng là các nhân sự quản lý của ngân hàng. Cơ quan thuế vụ: Nhằm mục đích thuế thu được thống nhất, một nhóm liên kết là tập hợp các công ty mà công ty mẹ của chúng sở hữu ít nhất 80% cổ phiếu có quyền biểu quyết.

Affiliate / Quan Hệ Liên Kết

Affiliate là quan hệ giữa hai công ty khi một công ty sở hữu số vốn góp đáng kể, nhưng dưới mức đa số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty kia, hoặc khi cả hai đều là công ty phụ thuộc (công ty con) của công ty thứ ba.

Affiliate Marketing / Marketing Liên Kết

Affiliate Marketing là một phương pháp đẩy mạnh kinh doanh trực tuyến. Hình thức Marketing này được nhiều công ty cũng như cá nhân sử dụng để trong hoạt động tiếp thị trực tuyến và được phân loại thành: mạng lưới liên kết, các công ty quản lý liên kết và quản lý liên kết nội bộ. Đặc biệt là đối với nhóm đối tượng thứ ba, họ dùng nhiều phương pháp khác nhau để quảng cáo sản phẩm và dịch vụ của đối tác đến khách hàng của mình. Những phương pháp này bao gồm tối ưu hóa công cụ tìm kiếm một cách có hệ thống, tiếp thi công cụ tìm kiếm được trả trước, tiếp thị bằng thư và nhiều loại hình quảng cáo khác. Marking liên kết được đánh giá là cách sử dụng một trang web để hướng sự chú ý của công chúng đến trang web khác. Đây chính là một nhánh của tiếp thị trực tuyến. Trong khi các công cụ tìm kiếm, thư điện tử và RSS thu hút được nhiều sự chú ý của các khách hàng nhỏ lẻ trên mạng trực tuyến thì marketing liên kết đang tiếp tục giữ vai trò là yêu tố cơ bản trong các chiến lược tiếp thị của những đối tác nhỏ lẻ trên cộng đồng internet.

Affiliated / Thành Viên Chủ Chốt

Affiliated là một cá nhân ở vị trí có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của công ty. Các thành viên chủ chốt bao gồm ban giám đốc, ủy viên ban quản trị và chủ sở hữu. Tùy văn cảnh, "affiliated person" có thể được viết đơn giản là "affiliate"

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55