Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Abandonment Clause / Điều Khoản Từ Bỏ

Abandonment Clause là một điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, trong những trường hợp nhất định, nó cho phép chủ sở hữu từ bỏ các tài sản bị mất hoặc bị hư hỏng mà vẫn yêu cầu được bồi thường thanh toán đầy đủ. Nếu tài sản của bên được bảo hiểm không thể phục hồi được, hoặc chi phí để phục hồi hoặc sửa chữa chúng còn cao hơn tổng giá trị thực của tài sản, chúng có thể bị từ bỏ và bên được bảo hiểm có quyền nhận được bồi thường thanh toán đầy đủ.  Đây là loại điều khoản bảo hiểm thường được sử dụng trong bảo hiểm tài sản biển, chẳng hạn như tàu thuyền hoặc tàu thuỷ. Nếu tàu của một chủ sở hữu tài sản đó bị chìm đắm hoặc mất tích trên biển, các khoản từ bỏ giúp chủ sở hữu có quyền cơ bản để "từ bỏ" việc tìm kiếm hoặc phục hồi tài sản của mình và sau đó nhận được bồi thường thanh toán đầy đủ từ công ty bảo hiểm.

Abandonment And Salvage / Từ Bỏ Và Thu Hồi

Abandonment And Salvage là thuật ngữ dùng để mô tả việc tịch thu tài sản và yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó do một bên thứ hai. Từ bỏ và thu hồi có thể được thêm vào như là một điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm; điều này cho phép các công ty bảo hiểm có thể chấp nhận tài sản bị từ bỏ. Việc từ bỏ cần phải có mục đích. Việc hoàn lại những khoản tài chính tiềm năng đồng nghĩa với việc quyền thu hồi, đôi khi có thể gây ra xung đột về mặt pháp lý của một số bên. Những điều khoản về Thu hồi và Từ bỏ thường được tìm thấy trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Ví dụ, nếu một con tàu bị đắm và chủ sở hữu nghĩ rằng việc phục hồi con tàu quá tốn kém, họ có thể khai báo con tàu đã bị từ bỏ. Sau đó công ty bảo hiểm có thể đòi quyền sở hữu và cứu hộ đối với các con tàu bị chìm. Các tiến bộ trong công nghệ đã giúp việc tìm lại được những xác tàu mà trước đây không thể tiếp cận được trở nên khả thi và ít tốn kém hơn, dẫn đến việc gia tăng giá được trị thu hồi.

Abandon Rate / Tỷ Lệ Bỏ Thoại

Abandon Rate là tỷ lệ các cuộc gọi điện thoại đến một tổng đài hoặc bàn dịch vụ mà khách hàng gác máy trước khi nói chuyện với người trực. Tỷ lệ này được tính bằng cách dùng tỷ lệ số lượng các cuộc gọi bị bỏ lỡ chia cho tổng số cuộc gọi đến (tính theo phần trăm). Tỷ lệ cuộc gọi lỡ có quan hệ trực tiếp đến thời gian chờ. Thời gian mà khách hàng phải chờ càng lâu trước khi được kết nối với đại lý thì tỷ lệ bỏ thoại có khả năng càng cao. Ví dụ, nếu một trung tâm nhận được trung bình 1.000 cuộc gọi mỗi ngày, trong đó có 40 cuộc gọi lỡ bởi khách hàng, thì tỷ lệ bỏ thoại là 4%. Tỷ lệ cuộc gọi lỡ cao có thể cho thấy rằng việc phân bổ nguồn lực tại các tổng đài hoặc bàn dịch vụ của công ty còn chưa hiệu quả, tỷ lệ này cũng có thể khiến một công ty chịu tai tiếng do cung cấp dịch vụ khách hàng kém. Nó cũng có thể khiến cho công ty mất cơ hội kinh doanh và làm cho nhiều khách hàng phật ý, bất cứ ai đã dành một số lượng thời gian đáng kể để chờ đợi trong một hàng đợi ảo cho dịch vụ khách hàng có thể chứng thực cho sự khó chịu này.

Abacus / Bàn Tính Abacus

Abacus là:  1. Một công cụ tính toán được dùng bằng cách trượt các hạt abacus trên trục dọc hoặc đường rãnh để thực hiện các hàm toán học. Ngoài việc tính toán các hàm cơ bản như cộng, trừ, nhân và chia, bàn tính Abacus còn có thể tính toán lên đến căn bậc ba. 2. Một tạp chí kế toán được xuất bản và biên tập theo chu kì nửa năm một lần bởi Đại học Sydney kể từ năm 1965, bao gồm tất cả các lĩnh vực kế toán. Người ta tin rằng bàn tính lần đầu tiên được sử dụng bởi người Babylon, khoảng 2.400 năm trước Công nguyên. Kể từ đó, cấu trúc vật lý của bàn tính đã thay đổi. Tuy nhiên, ý tưởng này đã tồn tại gần năm thiên niên kỷ, và ngày nay vẫn được sử dụng. Người Trung Quốc và Nhật Bản sử dụng kỹ thuật ngón tay khác nhau với bàn tính Abacus của họ. Người Trung Quốc sử dụng ba ngón tay (ngón cái, trỏ và giữa) để di chuyển các hạt; trong khi Nhật Bản chỉ sử dụng ngón tay cái và ngón tay trỏ.

A - B Split / Phương Pháp A/B Split (A/B Testing)

A - B Split (A/B Testing) là một cách thức kiểm tra sự hiệu quả của các phương pháp marketing hoặc media. Với việc sử dụng phương thức A - B Split trong marketing, một danh sách các mục tiêu được chia vào 2 nhóm theo một quy tắc ngẫu nhiên, trong đó một nhóm là nhóm "kiểm soát" và nhóm còn lại là nhóm "test". Mục tiêu của bài kiểm tra là để xác định xem biến đơn lẻ nào sẽ tác động nhiều nhất tới việc gia tăng tỉ lệ phản hồi của một chiến dịch marketing cũng như đạt được kết quả mong muốn. Phương pháp này từng được sử dụng cho các chiến dịch gửi thư marketing trong quá khứ, nhưng hiện nay nó đã được áp dụng thành công với phương tiện truyền thông tương tác để thử nghiệm tính hiệu quả của các email blast (một dạng email được gửi vào một danh sách chứa rất nhiều người cùng một lúc) và các banner quảng cáo. Ví dụ, một chiến dịch email của một nhà xuất bản bản tin có thể bao gồm một lời "kêu gọi hành động" (Call to action) cụ thể - chẳng hạn như đăng ký trong vòng 48 giờ để được giảm giá 20% - được nhúng trong tin nhắn tới một nửa đối tượng khách hàng mục tiêu, trong khi nửa còn lại không nhận được lời mời chào giảm giá này. Điều này sẽ cho phép các nhà xuất bản xác định xem liệu lời kêu gọi hành động này có phù hợp không, và liệu tỷ lệ phản hồi có bù đắp được khoản giảm giá 20% kia không.

AARP / Hiệp Hội Những Người Mỹ Đã Nghỉ Hưu

Từng được biết đến với tên gọi American Association of Retired Persons (Tạm dịch: Hiệp hội những người Mỹ đã nghỉ hưu), AARP là tổ chức hàng đầu của Mỹ cho những người tuổi năm mươi trở lên. Được thành lập vào năm 1958 bởi một nhà giáo dục đã nghỉ hưu là Tiến sĩ Ethel Percy Andrus, đây là một tổ chức phi lợi nhuận, phi đảng phái, với sự tham gia của 40 triệu thành viên. Nó cung cấp dịch vụ thông tin, giáo dục, nghiên cứu, truyền thông và cộng đồng thông qua một mạng lưới toàn quốc của các tổ chức địa phương và các tình nguyện viên có kinh nghiệm. Tổ chức này tập trung vào các vấn đề về người tiêu dùng, an ninh kinh tế, công ăn việc làm, sức khỏe, các vấn đề phát sinh trong cuộc sống độc thân, sự tham gia trong lập pháp, tư pháp và tuyên truyền vận động người tiêu dùng tại các khu vực hoạt động của tổ chức. AARP được coi là một nhóm vận động hành lang mạnh mẽ cũng như một chủ thể kinh doanh thành công trong việc bán bảo hiểm, đầu tư quỹ và các sản phẩm tài chính khác. Đây cũng là một nhà xuất bản độc lập cung cấp tạp chí AARP Bulletin hàng tháng và tạp chí Modern Maturity.

A. Michael Spence / Andrew Michael Spence

Andrew Michael Spence là một nhà kinh tế học người Mỹ, ông đã từng nhận giải Nobel Kinh tế năm 2001. Spence là giáo sư danh dự về quản trị học tại Trường Kinh Doanh, đại học Stanford, và là hội viên cấp cao tại Học viện Hoover - một viện nghiên cứu chính sách độc lập với chính phủ đặt tại Đại học Stanford. Spence nhận giải Nobel vào năm 2001, cùng với George Akerlof và Joseph Stiglitz, với bài phân tích của ông về khái niệm thông tin bất cân xứng - cụ thể là về cách các cá nhân sử dụng thông tin về bằng cấp, học lực của họ như là một tín hiệu tới các nhà tuyển dụng tiềm năng. Spence cũng đã từng nhận Huy chương John Bates Clark (một giải thưởng của Hội Kinh tế Hoa Kỳ trao hai năm một lần, mỗi lần chỉ cho một học giả kinh tế học trẻ (dưới 40 tuổi) mang quốc tịch Hoa Kỳ hay Canada có đóng góp lớn lao cho tư tưởng và lý luận kinh tế học). Trước khi giảng dạy tại Đại học Stanford, Spence đã tham gia giảng dạy kinh tế và quản trị kinh doanh tại Đại học Harvard. Sinh năm 1943 tại New Jersey, Spence lớn lên ở Canada. Các đề tài nghiên cứu của ông bao gồm các thị trường mới nổi (emerging markets), nền kinh tế thông tin (information economics), cạnh tranh năng động (dynamic competition) và tầm ảnh hưởng của lãnh đạo tới tăng trưởng kinh tế (leadership's effect on economic growth). Ông cũng đã từng là một thành viên hội đồng quản trị của nhiều công ty đại chúng và tư nhân.

Average Total Cost ( ATC) / Tổng Chi Phí Bình Quân

Tổng chi phí biến đổi chia cho sản lượng, chi phí biến đổi bình quân mỗi đơn vị sản lượng.

Average Fixed Cost ( AFC) / Chi Phí Cố Định Bình Quân

Tổng chi phí cố định chia cho sản lượng, chi phí cố định bình quân của mỗi đơn vị sản lượng.

Attainable / Khả Đạt

Các mức sản xuất có thể đạt được với nguồn lực cho trước.

Assume / Nhận, Đảm Đương (Trách Nhiệm, Nhiệm Vụ)

1. Nhận, Đảm Đương (Trách Nhiệm, Nhiệm Vụ) 2. Sự Giả Định, Giả Thiết"

Assigned Risk / Rủi Ro Đã Chuyển Nhượng

Assigned Risk là thuật ngữ được sử dụng (ở thị trường Mỹ) để chỉ những dịch vụ mà các nhà bảo hiểm thường không muốn nhận nhưng buộc phải làm vậy do ràng buộc của luật pháp hoặc các thỏa thuận.

Asset Substitution Effect / Hiệu Ứng Thay Thế Tài Sản

Asset Substitution Effect là khi chính phủ sẽ tiết kiệm cho bạn, nên bạn sẽ tự tiết kiệm ít hơn.

Asset (Micro Econ) / Tài Sản (Kinh Tế Vi Mô)

Một vật gì đó mang lại một dòng tiền hay dịch vụ cho người sở hữu nó.

Asked Price / Giá Chào Bán

Asked Price là giá thấp nhất mà người ta chấp thuận để bán một chứng khoán tại một thời điểm nhất định.

Arm’s-length Price / Giá Thuận Mua Vừa Bán (Tài Chính Công).

Arm’s-length Price là giá hai bên không quen biết thỏa thuận trong giao dịch

Anti-trust ( Law) / Chống Độc Quyền( Luật )

Thuật ngữ mô tả một chính sách hay một hành động nhằm ngăn chặn, hoặc tước bỏ độc quyền trong một thị trường.

Annual Return / Báo Cáo, Tường Trình Hàng Năm; Doanh Thu Hàng Năm

Annual Return là báo cáo do Công ty gửi đến nơi Đăng ký Hoạt động.

AIDA / Bốn Giai Đoạn Tác Động Của Quảng Cáo

AIDA bao gồm: Awareness, Interest, Demand, Action – Nhận biết, Quan tâm, Nhu cầu, Thực hiện

Agenda 21 / Chương Trình Nghị Sự 21

Agenda 21 là tài liệu chủ yếu về các lĩnh vực hợp tác quốc tế thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững về môi trường, được thảo luận bởi UNCED - Ủy ban về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc vào tháng 6/1992.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55