Accelerated Death Benefit (ADB) / Điều Khoản Riêng Về Trả Trước Quyền Lợi Bảo Hiểm
Accelerated Death Benefit (ADB) là một quyền lợi mà có thể được đề cập đến trong Khế ước bảo hiểm nhân thọ, cho phép người được bảo hiểm nhận tiền ứng trước trong trường hợp được chẩn đoán bị bệnh hiểm nghèo trong giai đoạn cuối. Rất nhiều cá nhân chọn điều khoản riêng về trả trước quyền lợi bảo hiểm khi chỉ có ít hơn 1 năm để sống và sử dụng số tiền này để chữa trị cũng như dành cho các khoản chi phí khác để duy trì sự sống. Việc chọn một chính sách bảo hiểm có điều khoản riêng về trả trước quyền lợi bảo hiểm cho phép người được bảo hiểm lo liệu cuộc sống hàng ngày một cách thoải mái nhất nhưng vẫn có thể chu cấp được cho gia đình của mình sau khi qua đời. Điều khoản này được bắt đầu lần đầu tiên vào cuối những năm 1980 trong những nỗ lực nhằm làm nhẹ bớt gánh nặng tài chính của những bệnh nhân AIDS. Một vài chính sách bảo hiểm có thể có điều khoản này dù không được nhắc đến trong hợp đồng.
Accelerated Amortization / Khấu Hao Nhanh
Accelerated Amortization là khoản tiền phải thanh toán thêm để hoàn trả tiền vay vốn thế chấp. Đối với việc khấu hao nhanh, người đi vay nợ được phép trả thêm khoản bổ xung vào hóa đơn thế chấp của họ để có thể thanh toán hết nợ trước thời hạn. Lợi ích của phương pháp này đó là giảm số tiền lãi suất phải thanh toán tổng thể. Ví dụ, có một thế chấp khởi đầu với giá 200,000 USD với lãi suất 7% cho vay trong 30 năm. Số tiền vốn cộng thêm tiền lãi cho từng tháng sẽ là 1333.6 USD. Nếu tăng khoản tiền đó thêm 100 USD mỗi tháng thì khoảng thời gian tất toán nợ chỉ còn 24 năm thay vì 30 năm trước đó, tiết kiệm 6 năm lãi suất cho người đi vay. Thanh toán một khoản thế chấp theo phương pháp này sẽ làm giảm phí bảo hiểm cho vay nhanh hơn đồng thời cũng giảm bớt lượng lãi suất cho người đi vay.
Academy of Accounting Historians / Viện Sử Học Kế Toán
Academy of Accounting Historians là một tổ chức phi lợi nhuận nghiên cứu nguồn gốc kế toán và các quy tắc, điều luật đã thay đổi theo thời gian như thế nào. Viện Sử học Kế toán được thành lập năm 1973, cơ quan này có xuất bản tạp chí, đồng thời nghiên cứu những bài báo, công trình qua các năm. Thành viên không bị giới hạn trong ngành nghề kế toán. Viện sử học kể toán kiểm tra mối quan hệ giữa các nguyên tắc kế toán và lịch sử kinh tế, tập trung vào sự tương tác qua lại giữa các nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
ABX Index / Chỉ Số ABX
ABX Index là một tiêu chuẩn tài chính đo lường giá trị tổng thể của khoản thế chấp cung cấp cho những người đi vay dưới chuẩn và tín dụng yếu. Chỉ số ABX sử dụng Hợp đồng bảo hiểm nợ xấu (Credit Default Swap - CDS) để đưa ra một giá trị tổng thể và được tạo thành từ 20 trái phiếu bao gồm các nhóm tài sản thế chấp dưới chuẩn. Khi sử dụng chỉ số này, các định chế tài chính có thể xác định được thị trường các loại chứng khoán này sẽ cải thiện hay xấu đi. Chỉ số ABX được gọi là chỉ số chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (Asset-Backed Securities Index). Ví dụ, chỉ số ABX tăng có nghĩa là có ít rủi ro với các tài sản thế chấp dưới chuẩn và ngược lại. Chỉ số này được Markit tạo ra và rất hữu ích cho các nhà đầu tư quan tâm đến thế chấp dưới chuẩn. Thế chấp dưới chuẩn được cung cấp cho những người đi vay có tín dụng yếu.
Abusive Tax Shelter / Hộp Đen Trốn Thuế
Abusive Tax Shelter là một kế hoạch đầu tư tuyên bố giảm thuế thu nhập mà không thay đổi giá trị thu nhập hoặc tài sản của người sử dụng. Hộp đen chốn thuế không phục vụ không mục đích kinh tế nào khác ngoài việc tránh thuế của một doanh nghiệp khi kê khai. Thông thường, các chiêu trò phân bổ, né tránh thuế được thực hiện thông qua việc chia các dòng quỹ qua các quỹ tín thác hoặc quan hệ đối tác để tránh thuế. Người đầu tư vào Hộp đen trốn thuế có thể bị phạt bởi Sở Thuế Vụ (IRS). Thông thường, khi IRS xác định một người nào đó đã sử dụng chương trình này, người đó sẽ bị cho nợ thuế với lãi suất tích luỹ. Để giúp người nộp thuế nhận ra chiêu trò tránh thuế, IRS đã biên soạn một danh sách các giao dịch có Hộp đen trốn thuế. Nếu một Hộp đen trốn thuế trùng với một giao dịch được liệt kê, nó được coi là lạm dụng và người dùng có thể phải đối mặt với hình phạt.
Abstract Of Title / Bản Tóm Tắt Danh Nghĩa
Abstract Of Title là một bản tóm lược quyền sở hữu đối với tài sản thực. Bản tóm tắt này liệt kê các chủ sở hữu hiện tại, tất cả những hoạt động hợp pháp được thực hiện hoặc sử dụng đối với tài sản đó, chẳng hạn như quyền giữ thế chấp, các vụ kiện pháp lý, sự thỏa mãn các khiếu nại, và các thông tin khác có ảnh hưởng đến quyền sở hữu. Điều này được sử dụng để quyết định tài sản này đã được sở hữu hay chưa. Một bản tóm tắt danh nghĩa là bước cần thiết để có được sự bảo hiểm quyền sở hữu. Bản tóm tắt danh nghĩa bao gồm những lần chuyển nhượng (conveyance), trợ cấp (grant), di chúc thừa kế, quyền đòi thế chấp cũng những quyền cho phép nắm giữ thế chấp. Nó cũng cung cấp bằng chứng, chứng cớ, sự đền bù hoặc các loại thông tin khác liên quan đến một khoản tài sản. Tất cả những người mua tiềm năng của tài sản đó đều nên có bản tóm tắt này để quyết định quan hệ pháp lý của tài sản này.
Absorption Rate / Hệ số hấp thụ
Absorption Rate là hệ số biểu thị số lượng nhà có sẵn được bán trong một thị trường bất động sản cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Nó được tính toán bởi chia theo tổng số nhà có sẵn trên số lượng trung bình nhà được bán ra trên mỗi tháng. Con số này cho biết cần mất bao nhiêu tháng để tiêu thụ hết số lượng nhà trên thị trường. Hệ số phân bổ cao có thể chỉ ra rằng việc cung cấp lượng nhà sẽ giảm đi nhanh chóng, tăng tỉ lệ chênh lệch rằng người sở hữu nhà ở sẽ bán một phần tài sản trong một khoảng thời gian ngắn. Lấy ví dụ,giả sử rằng một thành phố hiện có 1,000 ngôi nhà trên thị trường đang được bán. Nếu người mua vội mua 100 căn nhà mỗi tháng, nhà cũng cấp sẽ bị cạn kiệt trong 10 tháng (1000 căn nhà chia cho 100 căn được bán ra mỗi tháng). Nếu một người sở hữu nhà đang tìm cách bán một phần tài sản, ông ta biết rằng một nửa của thị trường sẽ được bán ra trong năm tháng. Tỉ lệ này không được tính vào lượng nhà được bổ sung được nhập trên thị trường. Hệ số phân bổ cũng có thể là tín hiệu để các nhà phát triển bắt đầu xây dựng thêm những căn hộ mới.
Absolute Priority / Ưu tiên tuyệt đối
Đây là luật quy định thứ tự chi trả - Đây là luật quy định thứ tự thanh toán khi công ty vỡ nợ - chủ nợ trước cổ đông sau. Luật ưu tiên tuyệt đối được sử dụng trong trường hợp phá sản để quyết định bên liên quan nào sẽ nhận được phần thanh toán nào. Các chủ nợ sẽ được thanh toán trước sau đó phần còn lại sẽ được chia cho những cổ đông.Đối với tài sản của người đã qua đời, luật ưu tiên tuyệt đối sẽ đảm bảo rằng những khoản nợ chưa được thanh toán sẽ được trả trước khi tài sản được chia cho những người thừa kế.Còn được biết đến như là “ưu tiên thanh lý” Luật ưu tiên tuyệt đối định rõ thứ tự chi trả. Chủ nợ luôn là người đầu tiên được nhận thanh toán khi công ty phá sản và cổ đông là những người cuối cùng. Luật này nhằm cung cấp sự bảo vệ cho chủ nợ trong trường hợp con nợ vỡ nợ hoặc chết. Sự phân chia lợi ích này không nhất thiết chỉ xảy ra trong trường hợp phá sản. Nó còn có thể xuất hiện khi công ty bán tống tài sản để chi trả các khoản nợ.Trong trường hợp chủ nợ qua đời và tài sản để lại không đủ để thanh toán các khoan nợ thì những tài sản khác sẽ bị thanh lý để hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
Absolute Priority là luật quy định thứ tự chi trả - Đây là luật quy định thứ tự thanh toán khi công ty vỡ nợ - chủ nợ trước cổ đông sau. Luật ưu tiên tuyệt đối được sử dụng trong trường hợp phá sản để quyết định bên liên quan nào sẽ nhận được phần thanh toán nào. Các chủ nợ sẽ được thanh toán trước sau đó phần còn lại sẽ được chia cho những cổ đông.Đối với tài sản của người đã qua đời, luật ưu tiên tuyệt đối sẽ đảm bảo rằng những khoản nợ chưa được thanh toán sẽ được trả trước khi tài sản được chia cho những người thừa kế.Còn được biết đến như là “ưu tiên thanh lý” Luật ưu tiên tuyệt đối định rõ thứ tự chi trả. Chủ nợ luôn là người đầu tiên được nhận thanh toán khi công ty phá sản và cổ đông là những người cuối cùng. Luật này nhằm cung cấp sự bảo vệ cho chủ nợ trong trường hợp con nợ vỡ nợ hoặc chết. Sự phân chia lợi ích này không nhất thiết chỉ xảy ra trong trường hợp phá sản. Nó còn có thể xuất hiện khi công ty bán tống tài sản để chi trả các khoản nợ.Trong trường hợp chủ nợ qua đời và tài sản để lại không đủ để thanh toán các khoan nợ thì những tài sản khác sẽ bị thanh lý để hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
Absolute Physical Life / Vòng Đời Vật Lý Tuyệt Đối
Absolute Physical Life là khoảng thời gian một tài sản bị khấu hao hoàn toàn, tại thời điểm đó tài sản không còn được sử dụng nữa. Vòng đời vật lý tuyệt đối thường được xem xét khi công ty mua tài sản. Các biện pháp đo lường thường được kết hợp với tài sản có ít rủi ro trở thành kỹ thuật lỗi thời. Khi nhìn vào vòng đời của một tài sản, mọi người có thể có quan điểm trái ngược. Ví dụ, chúng ta hãy xem xét quyết định của nhà quản lý để mua máy tính mới cho doanh nghiệp của mình. Quyết định của người quản lý có thể căn vào khoảng thời gian từ khi mua đến khi máy tính trở nên lỗi thời so với tiêu chuẩn thông thường. Mặt khác, nếu người quản lý không phải lo lắng về việc sở hữu công nghệ cũ, họ có thể chỉ quan tâm đến vòng đời vật lý tuyệt đối của các máy tính, cái mà có thể kéo dài hơn.
Absolute Frequency / Tần Số Tuyệt Đối
Absolute Frequency là một thuật ngữ thống kê diễn tả tổng số các lần thử nghiệm hoặc quan sát trong một khoảng thời gian hoặc thùng tần số nhất định. Các thùng tần số có thể có kích thước bất kỳ, nhưng chúng phải loại trừ lẫn nhau, thuộc mọi khía cạnh, và dữ liệu phải được nhóm lại. Tần số tuyệt đối chỉ đơn giản là tổng số lần quan sát hoặc thử nghiệm trong một phạm vi nhất định. Ví dụ, giả sử có một tập hợp các dữ liệu được nhóm lại để diễn tả tỷ lệ phần trăm lợi nhuận cho một cổ phiếu cụ thể, dao động từ mức thấp nhất đến mức cao nhất. Nếu có 56 lần quan sát trong thùng tần số 5-7%, thì tần số tuyệt đối của thùng này là 56.
Above-The-Line Costs / Chi phí ATL
Above-The-Line Costs là chi phí phát sinh trong quá trình làm quảng cáo thương mại có liên quan đến khía cạnh sáng tạo. Các chi phí này bao gồm phí cho âm nhạc, diễn viên và nhiếp ảnh. Bởi vì sự sáng tạo không thể đánh giá trực tiếp được, chi phí này có thể có ít tương quan đến tính sáng tạo của quảng cáo hoặc thương mại. Những chi phí này có thể phát sinh nhưng khống nhất thiết sẽ tạo ra giá trị sáng tạo lớn cho quảng cáo thương mại, trong khi một quảng cáo thương mại với chi phí thấp vẫn tạo ra giá trị sáng tạo. Trong kế toán, chi phí ATL cũng có thể được xem là chi phí trong quá trình tính thu nhập ròng trong báo cáo kết quả kinh doanh. Chi phí ATL là chi phí đối lập với chi phí BTL trong quảng cáo- là chi phí liên quan với các phần không sáng tạo của quảng cáo thương mại. Chi phí BTL bao gồm chi phí cho các đạo cụ và trang thiết bị.
Absolute Breadth Index - ABI / Chỉ số Bề rộng Tuyệt đối - ABI
Absolute Breadth Index - ABI là một chỉ số thị trường hay chỉ báo thị trường được sử dụng để xác định mức độ biến động trên thị trường mà không tính toán theo hướng đi của giá. Nó được tính bằng cách lấy giá trị tuyệt đối của chênh lệch giữa các yếu tố tăng và các các yếu tố giảm. Thông thường, chỉ số càng lớn cho thấy biến động ngày càng tăng, điều này có thể gây ra những thay đổi đáng kể trong giá cổ phiếu trong những tuần tiếp theo. Công cụ này được phân loại như là một chỉ số bề rộng, do giá trị tăng/giảm là các giá trị chỉ được sử dụng để tính toán. Chỉ số này có thể được tính bằng cách sử dụng bất kỳ hệ thống thanh toán tiền hoặc một tập hợp con của một hệ thống thanh toán tiền, nhưng thông thường, các tiêu chuẩn của sàn giao dịch chứng khoán New York đã được chấp nhận.
Absentee Owner / Chủ Sở Hữu Vắng Mặt
Absentee Owner là một cá nhân sở hữu bất động sản nhưng lại không sống ở đó. Một chủ sở hữu vắng mặt cũng có thể là một tổ chức, ví dụ như một công ty hoặc công ty tín thác đầu tư nhà đất (REIT). Các bất động sản của một chủ sở hữu vắng mặt có thể có nhiều loại khác nhau - trong khi một cá nhân có thể sở hữu một căn hộ chung cư đơn lẻ, một công ty có thể sở hữu một khối lượng lớn bất động sản như một tòa nhà chung cư hay trung tâm thương mại. Mục tiêu chính của chủ sở hữu vắng mặt là để tạo ra lợi nhuận từ các bất động sản của họ dưới hình thức thu nhập cho thuê và gia tăng giá trị vốn tiềm năng. Tỷ lệ của chủ sở hữu vắng mặt trong dân số nói chung có liên quan trực tiếp đến mức độ đầu cơ bất động sản thường thấy trong nền kinh tế. Một thị trường bất động sản và nền kinh tế mạnh mẽ cùng với lãi suất tương đối thấp có thể dẫn đến việc tăng tỷ lệ chủ sở hữu vắng mặt, trong khi đó thị trường và nền kinh tế trì trệ lại có thể có số lượng chủ sở hữu vắng mặt giảm đi.
Above Water / Trên Mặt Nước
Above Water là: 1. Đề cập đến tình trạng giá trị thực tế của tài sản công ty cao hơn so với giá trị sổ sách trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. 2. Về mặt tài chính, nó còn đề cập đến việc một người vượt qua được một khó khăn kinh tế, hoặc một doanh nghiệp duy trì được khả năng tài chính. 1. Nói chung, giá trị sổ sách của một tài sản trong bảng cân đối kế toán của công ty không được thay đổi, căn cứ theo Quy tắc Kế toán chung được Chấp nhận (GAAP). Nếu một tài sản tăng giá, giá trị thị trường của nó sẽ được gọi là "trên mặt nước". Một công ty với tài sản "trên mặt nước" có xu hướng thu hút các nhà đầu tư theo giá trị. Bởi lẽ đó là giá trị ẩn mà hầu hết các nhà đầu tư sẽ không phát hiện ra nếu họ không nhìn xa hơn trên các báo cáo tài chính. Ví dụ, nếu một công ty mua một mảnh đất với giá 100.000 USD và sau đó công ty phát hiện ra một trữ lượng dầu trên mảnh đất, giá trị thị trường của mảnh đất sẽ tăng và được gọi là "trên mặt nước", bởi vì giá trị sổ sách vẫn là 100.000 USD. 2. Thuật ngữ này được sử dụng trong bối cảnh "ngụp lặn để sinh tồn (keeping their head above water)– có thể hiểu nôm na là cố gắng để tồn tại trong bối cảnh khả năng tồn tại xuống thấp. Ví dụ, công ty XYZ phải tự xoay xở tài chính với việc gia tăng lợi nhuận mặc dù doanh thu giảm.
Above Ground Risk / Rủi Ro Thượng Tầng
Above Ground Risk có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến một dự án hay một kế hoạch đầu tư. Loại rủi ro này thường gặp trong ngành công nghiệp năng lượng, liên quan đến những rủi ro không định lượng được như các vấn đề về môi trường và biến đổi khí hậu. Rộng hơn nữa, rủi ro thượng tầng liên quan đến rất nhiều những mối nguy hiểm có phần hơi mơ hồ như rủi ro chính trị, rủi ro công ty, an ninh và quản trị công ty-những yếu tố mà ảnh hưởng của chúng rất khó để định lượng, nhưng lại gây hậu quả nghiêm trọng nếu một trong số chúng trở thành hiện thực. Rủi ro thượng tầng bao gồm những loại rủi ro ít được biết đến như tham nhũng, hối lộ hay xung đột lợi ích. Các quốc gia khác nhau có mực độ rủi ro loại này rất khác nhau. Những nước có chính sách ủng hộ doanh nghiệp, cơ cấu quản lí chặt chẽ và hệ thống pháp lí hiệu quả thường có mức độ rủi ro thấp hơn so với các nước khác.
Ability To Repay / Khả Năng Trả Nợ
Ability To Repay là năng lực tài chính của một cá nhân để thanh toán một khoản nợ. Cụ thể, thuật ngữ “khả năng trả nợ” đã từng được sử dụng trong chương XIV Luật Cải cách tài chính phố Wall và Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, Luật Cải cách thế chấp và Chống cho vay trục lợi, nhằm mô tả những yêu cầu mà dựa vào đó chủ thể thế chấp chứng minh rằng, những người đi vay tiềm năng có thể đáp ứng được khoản thế chấp mà họ đang đi vay. Ví dụ, những nhà cho vay thế chấp nguyên thủy được yêu cầu nhìn vào tổng thu nhập hiện tại của người đi vay và nợ hiện có, để đảm bảo rằng những khoản nợ hiện có cộng với khoản vay thế chấp tiềm năng, thuế bất động sản và bảo hiểm cần thiết không vượt quá một tỷ lệ nhất định trên tổng thu nhập của người đi vay. Mục đích của luật này và tiêu chuẩn về “khả năng trả nợ” nhằm tránh việc những người cho vay sử dụng các quy định cho vay lỏng lẻo như trong thời kỳ bong bóng nhà đất giữa những năm 2000s, thời điểm mà nhiều người được cho vay thế chấp cho dù họ không có khả năng trả nợ, để rồi bị mất nhà vì bị tịch biên tài sản vài năm sau đó. Theo luật mới, cá nhân không đáp ứng phù hợp tiêu chuẩn về khả năng trả nợ trong quá trình khởi đầu có thể sẽ được bảo vệ khỏi việc bị phát mãi tài sản (foreclosure).
Abeyance Order / Lệnh Hoãn Lại
Abeyance Order là việc một đơn đặt hàng tạm thời bị tạm giữ hoặc bị đình chỉ, do hoàn cảnh hiện hành, cho đến khi nó có thể được thi hành. Trong ngành quảng cáo, lệnh hoãn đề cập đến việc một đơn đặt hàng của một nhà quảng cáo cho một vị trí phương tiện truyền thông trên truyền hình hoặc đài phát thanh tạm thời không có sẵn. Kết quả là, đơn đặt hàng có thể được hoãn cho đến khi có một vị trí quảng cáo phù hợp. Trong bối cảnh pháp lý, lệnh hoãn lại thường dùng để chỉ một lệnh được sử dụng trong thủ tục phá sản mà tòa án tuyên bố rằng khiếu nại tài sản được hoãn. Điều này có thể xảy ra, ví dụ, trong trường hợp chủ sở hữu hợp pháp hoặc người nắm giữ thế chấp tài sản không được xác định rõ ràng. Tình trạng này rất phổ biến sau khi thị trường nhà đất của Mỹ sụp đổ từ năm 2008 trở đi.
Abeyance / Tình Trạng Tạm Thời Vô Chủ
Abeyance là một tình huống trong đó chủ sở hữu hợp pháp của một tài sản, chức vụ hoặc tư cách vẫn chưa được quyết định. Tình trạng tạm thời vô chủ xảy ra khi chủ sở hữu hoặc người nắm giữ hiện tại chưa công bố một người thụ hưởng hiện tại duy nhất. Thay vào đó, chủ sở hữu mới được xác định thông qua kết quả của một sự kiện đặc biệt vào một số thời điểm trong tương lai. Như vậy, quyền sở hữu tài sản, chức vụ, hoặc tư cách sẽ bị bỏ trống. Thuật ngữ “Abeyance” có nguồn gốc từ một từ tiếng Pháp cổ "abeance", có nghĩa là lòng khao khát hay khoảng trống, với kỳ vọng trong tương lai. Nhiều tài sản thuộc các quỹ ủy thác có kèm theo quy định cần phải được thi hành trước khi quyền sở hữu được quyết định. Ví dụ, nếu một quỹ ủy thác sẽ được trao cho một đứa trẻ khi nó kết thúc đại học, các quỹ tạm thời vô chủ này sẽ được coi là mục tiêu hướng đến của nó. Tình trạng tạm thời vô chủ cũng tồn tại khi không có ai có thể dễ dàng tuyên bố quyền sở hữu trong tương lai. Ví dụ, một quỹ ủy thác có thể được lập ra bởi một cặp vợ chồng chưa có cháu, nhưng họ hy vọng sẽ có cháu trong tương lai, và họ muốn trao quỹ ủy thác cho cháu của họ vào một ngày trong tương lai. Bởi vì các cháu của họ chưa được sinh ra, số tiền thu được sẽ được tổ chức hoàn lại khi những đứa trẻ được sinh ra.
Abend / Hiện Tượng Abend (CNTT)
Abend là sự chết bất ngờ của một chương trình máy tính, khiến cho hệ thống bị xâm nhập hoặc đóng cửa. Có nguồn gốc từ phiên bản rút gọn của thuật ngữ "chết không bình thường" (abnormal end), việc bị xâm nhập đột ngột trong bối cảnh kinh doanh có thể khiến một công ty phải tiêu tốn một số tiền đáng kể. Đây là lý do tại sao nhiều phòng ban công nghệ thông tin (IT) dành nhiều nguồn lực để phát hiện và sửa lỗi phần mềm. Sự chết bất thường, chứ không phải là sự chấm dứt được lên kế hoạch trước, của một chương trình máy tính có thể là do một vấn đề dễ giải quyết (như không đủ bộ nhớ) hoặc do một trục trặc kỹ thuật khó có để xác định. Thuật ngữ "Abend" là một từ cổ thường được sử dụng phổ biến hơn đối với hệ thống máy tính lớn như IBM 360, chứ không phải là máy tính để bàn hiện đại và máy tính xách tay.
Abandonment Value / Giá Trị Thu Hồi/Từ Bỏ
Abandonment Value là giá trị của một dự án hoặc tài sản nếu đem thanh lý chúng ngay tức thời. Cũng được gọi là giá trị thanh toán. Giá trị thu hồi nhìn chung chính là giá trị tiền mặt hoặc tương đương của một tài sản. Giá trị này rất quan trọng đối với các công ty khi phân tích khả năng sinh lời của các dự án hoặc tài sản cụ thể để ra quyết định việc có nên tiếp tục duy trì chúng hay không.






