Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Authorized Reinsurance / Tái Bảo Hiểm Theo Quy Chế Bắt Buộc

Authorized Reinsurance là tái bảo hiểm theo quy chế bắt buộc là việc nhượng tái bảo hiểm cho một công ty tái bảo hiểm được sự công nhận và được phép của một cơ quan quản lý bảo hiểm của nhà nước.

Attachment

Attachment là sự bắt đầu hiệu lực của đơn bảo hiểm.

As Expiry

As Expiry là thuật ngữ được sử dụng khi đề nghị đơn bảo hiểm được tái tục theo các điều khoản và điều kiện như trước.

Annual Contract / Hợp Đồng Hàng Năm

Annual Contract là một hợp đồng được ký kết cho một giai đoạn 12 tháng ( và có thể được tái tục cho các giai đoạn 12 tháng tiếp theo). Thuật ngữ “hợp đồng hàng năm” được dùng để phân biệt với “ hợp đồng liên tục”- đây là dạng hợp đồng giữ nguyên hiệu lực cho đến khi bị hủy bỏ.

Aggregate Liabilities

Aggregate Liabilities là tổng trách nhiệm của một công ty bảo hiểm trong một khu vực nhất định bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

Administration Expenses / Chi Phí Quản Lý

Administration Expenses là tất cả những chi phí khác phát sinh khi tiến hành hoạt động bảo hiểm bên cạnh chi phí đánh giá tổn thất, chi phí khai thác dịch vụ và chi phí đầu tư.

Actuary / Chuyên Viên Tính Toán; Chuyên Gia Định Giá Bảo Hiểm

Actuary là người áp dụng xác suất và lý thuyết thống kê vào các công việc tính phí bảo hiểm, đầu tư, quản lý tài chính và dân số học.  Chuyên Viên Tính Toán là chuyên gia thống kê làm việc cho một công ty bảo hiểm. Họ có nhiệm vụ đánh giá hồ sơ yêu cầu  và bệnh án của người sử dụng bảo hiểm nhằm dự báo tuổi đời của họ  Các chuyên gia định giá được và kiến thức của họ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau để dự đoán các sự kiện trong tương lai dựa trên các sự kiện xảy ra trong quá khứ

Acquisition Costs / Chi Phí Khai Thác

Acquisition Costs là tất cả những chi phí mà một công ty bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm phải bỏ ra để khai thác được một dịch vụ (bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm).

Accumulation Period / Thời Kỳ Tích Lũy

Accumulation Period là: 1. Giai đoạn trong cuộc đời của một nhà đầu tư khi anh ta / cô ta tích lũy tiền tiết kiệm và giá trị của danh mục đầu tư của anh ta / cô ta với mục đích dành dụm tiền cho nghỉ hưu 2. Đối với trường hợp của một niên kim trả chậm (deferred annuity), đây là khoảng thời gian mà người nhận trợ cấp hàng năm đang đóng góp cho dòng niên kim (annuity) cũng như tích lũy giá trị trong tài khoản niên kim của mình. Khoảng thời gian này thường được theo sau bởi giai đoạn thanh toán, khi mà người nhận trợ cấp hàng năm được trả các khoản đảm bảo thanh toán trong một khoảng thời gian xác định (thường là suốt phần đời còn lại của anh ta / cô ta). 1. Bằng cách chọn trì hoãn chi tiêu cho đến khi về già, các cá nhân tạo ra các khoản tiết kiệm mà có thể được đầu tư trên thị trường và vì vậy, các khoản tiết kiệm này tăng lên theo thời gian. Nếu các cá nhân đầu tư tiền định kỳ trong suốt thời gian làm việc thì họ có thể tạo ra một khoản tích lũy lâu dài, trong đó tiền tiết kiệm của họ có thể tăng lên đáng kể. 2. Trong một niên kim trả chậm (deferred annuity), ở giai đoạn tích lũy, đóng góp của bạn càng lớn (và thời gian tích lũy càng dài) thì dòng thu nhập của bạn sẽ càng tăng ngay khi bạn bắt đầu vào giai đoại tích lũy niên kiêm.

Actuarial Analysis / Phân Tích Thống Kê Bảo Hiểm

Actuarial Analysis là công tác nghiên cứu rủi ro của một nhà thống kê chuyên nghiệp có trình độ cao và được chứng nhận. Phân tích thống kê bảo hiểm sử dụng các mô hình thống kê để quản lý những điểm mù về tài chính bằng cách đưa ra các dự báo mang tính học thuật về các sự kiện trong tương lai. Các công ty bảo hiểm, ngân hàng, cơ quan chính phủ và các tập đoàn sử dụng phân tích thống kê bảo hiểm để thiết kế các chính sách bảo hiểm tối ưu, kế hoạch hưu trí, kế hoạch trợ cấp và phân tích rủi ro đầu tư. Ví dụ, phân tích thống kê bảo hiểm là một công việc quan trọng được thực hiện bởi các công ty bảo hiểm để phân tích dữ liệu và đánh giá xác suất của một yêu cầu bồi thường bảo hiểm được nộp cho một sự kiện nhất định. Công việc này cho phép các công ty bảo hiểm dự đoán với một mức độ hợp lý số lượng chính xác các yêu cầu bảo hiểm họ sẽ phải chi trả, việc này giúp họ xác định phí bảo hiểm phải thu để duy trì lợi nhuận.

Actual Total Loss / Tổng Tổn Thất Thực Tế

Actual Total Loss là một tổn thất xảy ra khi tài sản được bảo hiểm hoàn toàn bị phá hủy hoặc bị hư hỏng tới mức không thể phục hồi hoặc sửa chữa để sử dụng tiếp, hoặc người được bảo hiểm bị tước đoạt tài sản và không lấy lại được. Thông thường, thuật ngữ này chỉ ra việcthanh toán ở mức tối đa có thể theo các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm. Còn được gọi là "tổn thất toàn bộ". Khi tổng tổn thất thực tế xảy ra, người được bảo hiểm không cần thiết phải cung cấp cho các công ty bảo hiểm về việc từ bỏ (tức là, sự hủy bỏ của tất cả các quyền, danh hiệu và lãi) với các tài sản được bảo hiểm để đổi lấy số tiền bảo hiểm.

Actual Return / Lợi Nhuận Thực Tế

Actual Return là lãi hoặc lỗ thực tế của một nhà đầu tư. Lợi nhuận thực tế có thể được tính theo công thức sau: Lợi nhuận kỳ vọng (ex-ante) cộng với tác động của tin tức về công ty nói riêng và về cả nền kinh tế nói chung. Trái ngược với lợi nhuận kỳ vọng, lợi nhuận thực tế là những gì mà nhà đầu tư thực sự thu về từ các khoản đầu tư. Sự khác biệt giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng là do rủi ro có tính hệ thống và có tính không hệ thống.

Actual Owner / Chủ Sở Hữu Thực Tế

Actual Owner là một người hoặc một pháp nhân nhận được lợi ích từ quyền sở hữu. Là chủ sở hữu thực tế, tài sản được đứng tên của người hoặc pháp nhân đó và họ được hưởng bất kỳ lợi ích nào từ tài sản của mình. Việc xác định chủ sở hữu thực tế thường gặp khó khăn nếu có nhiều người hoặc nhiều pháp nhân có liên quan tới tài sản này. Còn được gọi là chủ sở hữu được hưởng lợi. Ví dụ, chủ sở hữu thực tế của một công ty là người sở hữu trên 50% cổ phần của công ty. Tuy nhiên, mọi việc có thể trở nên phức tạp hơn khi giao dịch với công ty ma và công ty quản lý các tài sản ủy thác. Bằng cách gia tăng sự phức tạp của quyền sở hữu, người chủ sỡ hữu sẽ có thể được hưởng lợi đáng kể về thuế.

Actual Authority / Thẩm Quyền Thực Tế

Actual Authority là những quyền hạn cụ thể, được trao một cách rõ ràng bởi một người ủy nhiệm (thường là một công ty bảo hiểm) cho một đại diện để thay mặt cho người ủy nhiệm đó. Quyền hạn này có thể rộng, là quyền hạn tổng thể hoặc nó có thể bị hạn chế trong những quyền hạn riêng biệt. Còn được gọi là "Thẩm quyền được phát ngôn" Thẩm quyền thực tế phát sinh từ lời nói của người ủy nhiệm hoặc từ hành động hợp lý khiến cho người đại diện tin rằng người đó đã được trao quyền để hành động thay. Một người đại diện có thể nhận được thẩm quyền thực tế bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Nên có giấy ủy quyền, vì sẽ không dễ để thiết lập một thẩm quyền được đưa ra bằng lời nói. Trong một công ty, các văn bản trao thẩm quyền bao gồm các văn bản dưới luật và nghị quyết từ cuộc họp giám đốc, các văn bản này cho phép người được ủy quyền thay mặt công ty thực hiện một hành động nhất định.

Activity-Based Management - ABM / Mô Hình Quản Lý Theo Hoạt Động - ABM

Activity-Based Management - ABM là một phương pháp xuất hiện từ những năm 1980 để phân tích quá trình của một doanh nghiệp và xác định điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp đó. Cụ thể, mô hình quản lý theo hoạt động - ABM - tìm kiếm những lĩnh vực mà một doanh nghiệp đang kinh doanh thua lỗ để loại bỏ chúng hoặc cải thiện để tăng lợi nhuận. ABM phân tích các chi phí của nhân viên, trang thiết bị, cơ sở vật chất, các chi phí chung và các yếu tố khác trong một doanh nghiệp để xác định và phân bổ chi phí theo hoạt động. ABM có thể được áp dụng cho nhiều loại hình doanh nghiệp, bao gồm cả công ty sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp phi lợi nhuận, trường học và cơ quan chính phủ, và ABM có thể cung cấp các thông tin chi phí về bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào trong một doanh nghiệp. Ngoài việc cải thiện khả năng sinh lời, các kết quả phân tích ABM có thể giúp công ty lập ra các dự báo ngân sách và tài chính mang tính chính xác hơn.

Activity-Based Budgeting - ABB / Lập Ngân Sách Dựa Trên Hoạt Động - ABB

Activity-Based Budgeting - ABB là một phương pháp lập ngân sách, trong đó các hoạt động gây ra chi phí trong mọi lĩnh vực chức năng của một tổ chức đều được ghi lại và mối quan hệ giữa chúng được xác định và phân tích một cách rõ ràng. Các hoạt động này sau đó được gắn với mục tiêu chiến lược, sau đó các chi phí của các hoạt động được sử dụng để lập ngân sách dự trù. ABB trái ngược với phương pháp lập ngân sách truyền thống dựa trên chi phí, trong đó ngân sách dự trù chỉ đơn giản là điều chỉnh lại các tài khoản theo lạm phát hoặc tốc độ tăng trưởng của doanh thu. Như vậy, ABB cung cấp cơ hội để gắn kết hoạt động với các mục tiêu, sắp xếp chi phí và cải thiện hoạt động kinh doanh. Bằng cách xem xét cơ cấu chi phí của một tổ chức thông qua các quy trình đang được thực hiện, nhà quản lý có thể phân tích một cách hiệu quả hơn tiềm năng lợi nhuận của sản phẩm và dịch vụ của công ty. Hiệu quả chi phí có thể đạt được bằng cách so sánh các hoạt động thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau của tổ chức và củng cố hoặc thay đổi các chức năng nhất định. Về mặt bản chất, ABB bắt đầu bằng cách nhìn vào kết quả và các hoạt động đã tạo ra chúng, trái ngược với việc phương pháp lập ngân sách dựa trên chi phí bắt đầu với các nguyên liệu đầu vào và tính toán ra. ABB cũng có thể giúp các doanh nghiệp lập ra các dự báo tài chính chính xác hơn.

Activity Sequence-Sensitive / Chuỗi Hoạt Động Nhạy Cảm

Activity Sequence-Sensitive là một phương pháp tính toán được sử dụng trong hệ thống xác lập chi phí dựa trên hoạt động, để xác định các chi phí gắn với các hoạt động theo trình tự thời gian cụ thể. Chuỗi hoạt động nhạy cảm là cách thức xác định các chi phí của một hoạt động mà chi phí đó phụ thuộc vào thứ tự hoàn thành các công việc nhỏ và thời gian cần thiết để hoàn thành từng công việc đơn lẻ. Chuỗi hoạt động nhạy cảm xem xét thứ tự của các hoạt động khi xác định chi phí. Ví dụ, một quá trình sản xuất bao gồm nhiều hoạt động tốn nhiều thời gian và chi phí (chuỗi hoạt động nhạy cảm) để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Thứ tự hoàn thành các hoạt động sẽ ảnh hưởng đến chi phí của quá trình này.

Activist Investor / Nhà Đầu Tư Chủ Động

Activist Investor là một cá nhân hay một nhóm mua một khối lượng lớn cổ phần của một công ty đại chúng và/hoặc cố gắng để chiếm được vị trí trong hội đồng quản trị của công ty với mục tiêu tạo ra những thay đổi đáng kể cho công ty. Một công ty có thể trở thành mục tiêu của các nhà đầu tư chủ động nếu nó thiếu sự quản lý, không hiệu quả chi phí, hay có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn các công ty tư nhân hoặc nảy sinh một vấn đề khác mà nhà đầu tư chủ động tin tưởng rằng họ có thể tác động để làm công ty có giá trị hơn. Những công ty tư nhân, quỹ phòng vệ và những cá nhân giàu có là những người có năng lực để quyết định trở thành những nhà đầu tư chủ động. Một nhà đầu tư chủ động rất nổi tiếng tên là Carl Icahn. Nhà đầu tư này đã cố gắng để thực hiện các thay đổi lớn với Yahoo!, Blockbuster, Time Warner và RJR Nabisco, và những công ty khác. Những nhà đầu tư chủ động có tên tuổi lớn khác bao gồm Kirk Kerkorian, Bill Ackman, Eddie Lampert và Nelson Peltz. Dấu hiệu để một công ty cóthể trở thành mục tiêu cho các nhà đầu tư chủ động là việc công ty đó phải điền vào Biểu mẫu 13D của SEC, đây là tài liệu cần được đệ trình khi một nhà đầu tư mua nhiều hơn 5% cổ phần của một công ty.

Active Stocks / Cổ Phiếu Hoạt Động

Active Stocks là các cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch được mua bán nhiều. Cổ phiếu hoạt động được mua và bán sôi động, và thường có một số lượng lớn của các cổ phiếu dư. Bởi vì chúng được giao dịch nhiều, cổ phiếu hoạt động thường có chênh lệch giá mua – giá bán thấp là kết quả của tính thanh khoản của chúng tăng lên. Các cổ phiếu hoạt động nhất được niêm yết từng ngày với khối lượng và sự tăng giảm trong ngày. Chúng có thể được giao dịch sôi động bởi vì chúng có một số lượng lớn các cổ phiếu đang lưu hành, hoặc vì một tình huống đặc biệt như chúng được chào bán công khai cho công ty hoặc do các tin tức bất ngờ.

Active Return / Suất Sinh Lợi Chủ Động

Active Return là tỷ lệ phần trăm lãi hoặc lỗ của một khoản đầu tư so với tiêu chuẩn (benchmark). Suất sinh lợi chủ động là sự khác biệt giữa suất sinh lợi tiêu chuẩn và suất sinh lợi thực tế. Nó có thể dương hay âm và thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả. Một danh mục đầu tư đánh bại thị trường có suất sinh lợi chủ động dương, giả định toàn bộ thi trường là tiêu chuẩn. Ví dụ, nếu suất sinh lợi tiêu chuẩn là 5% và suất sinh lợi thực tế là 8%, Suất sinh lợi chủ động sau đó sẽ là 8% - 5% = 3%. Nếu suất sinh lợi của danh mục đầu tư cùng chỉ có 4%, nó sẽ có một Suất sinh lợi chủ động âm (4% - 5% = -1%). Nếu tiêu chuẩn là một phân khúc cụ thể của thị trường, cùng danh mục đầu tư giả thuyết có thể kém hiệu quả so với thị trường và vẫn còn có một suất sinh lợi chủ động so với tiêu chuẩn lựa chọn. Đây là lý do các nhà đầu tư cần biết được các tiêu chuẩn nào đang được sử dụng và tại sao.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55